Bản án số 455/2024/DS-ST ngày 04/07/2024 của TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 455/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 455/2024/DS-ST ngày 04/07/2024 của TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Tân Bình (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 455/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 455/2024/DS-ST
Ngày: 04 - 7 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Bích Thảo
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Thị Thanh Thúy
2. Bà Lê Phi Yến
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Long Sơn Thư Tòa án nhân dân quận Tân
Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Nguyễn Bảo Ngọc Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 7 m 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
570/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về ‘‘Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 238/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trương Thanh T; địa chỉ: Đường T, Phường F, quận T, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Trần Minh H sinh năm 1997; địa chỉ: Đường số B, phường H, thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Tường V sinh năm 1983; địa chỉ: Đường T, Phường F, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Văn phòng C; trụ sở: B N, phường N, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Đức H1; địa chỉ: A N, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trẻ Trương Thanh H2 sinh ngày 01/11/ 2007 trẻ Trương Thông Thái M
sinh ngày 26/7/2019; cùng địa chỉ: Đường T, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp của trẻ H2 và trẻ M có ông Trương Thanh T.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2023 quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên
đơn ông Trương Thanh T trình bày: Ông và Nguyễn Thị Tường V1 chủ sở hữu
căn nhà số C đường T, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất số hồ gốc 4783/2004 do y ban
nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004. Do cần một số tiền để
làm ăn nên ông có hỏi người bạn tên Nguyễn Đức H1 giúp đỡ. vợ chồng ông không
đủ điều kiện để vay ngân hàng n H1 hướng dẫn vợ chồng ông làm thủ tục chuyển
nhượng giả căn nhà trên cho Trần Minh H người quen của H1 để H giúp làm h
vay ngân hàng. ch thân quen nên ông tin tưởng đã ra công chứng hợp đồng
chuyển nhượng căn nhà trên vào ngày 14/7/2023 tại Văn phòng C. Sau đó, H1 cũng
liên hệ nói ông mở tài khoản để nhận tiền vay của ngân hàng nhưng khoảng một thời
gian không thấy gì thì H1 nói là trục trặc cần đo vẽ lại và sau đó thì không liên hệ được.
Ông liên hệ một số quan thẩm quyền thì được biết H đã m thủ tục cập nhật
sang tên xong. Trong suốt quá trình thực hiện giao dịch, mọi việc liên hệ ông đều thông
qua ông H1. Giữa ông ông H hoàn toàn không thỏa thuận, m việc với nhau về
bất cứ vần đề liên quan đến việc chuyển nhượng, mua bán nhà theo hợp đồng đã
kết, ông H không thanh toán tiền chuyển nhượng, vợ chồng ông vẫn sinh sống tại căn
nhà này. Việc ký hợp đồng chỉ giả tạo để che dấu việc m thủ tục vay ngân hàng nên
ông khởi kiện:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua n nhà chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số 007210 ký ngày 14/7/2023 tại Văn phòng công chứng Trần Quốc P giữa
ông và ông Trần Minh H vô hiệu.
- Yêu cầu ông Trần Minh H hoàn trả cho vợ chồng ông bản chính giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất số vào sổ 4783/2004 do Ủy ban nhân
dân quận T cấp ngày 15/11/2004.
Đối với việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu do hai bên không việc
giao tiền và giao nhà nên đề nghị Tòa xem xét theo quy định.
Bị đơn là ông Trần Minh H: Vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đức H1: Vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến
- Nguyễn Thị Tường V trình bày theo bản tự khai: Đề nghị Tòa án xem xét giải
quyết theo yêu cầu của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án
giải quyết.
- Văn phòng C văn bản trình bày ý kiến: Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí
Minh đã chứng nhận hợp đồng mua bán nhà quyền sử dụng đất số 007210 quyển số
03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 14/7/2023 theo đúng quy định pháp luật đề
nghị vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- TrTrương Thanh H2 trẻ Trương Thông Thái M ông Trương Thanh T
Nguyễn Thị Tường V1 đại diện hợp pháp: Đề nghị Tòa xem t theo yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
3
Nguyên đơn ông Trương Thanh T trình y: Vẫn giữ yêu cầu như tại đơn khởi
kiện, đề nghị hội đồng xét xử tuyên hợp đồng mua bán nhà chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số 007210 ký ngày 14/7/2023 tại Văn phòng công chứng Trần Quốc P giữa ông
Trương Thanh T, Nguyễn Thị Tường V ông Trần Minh H hiệu. yêu cầu ông
Trần Minh H hoàn trả cho vợ chồng ông bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất số vào sổ 4783/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày
15/11/2004 trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn là ông Trần Minh H: Vắng mặt không lý do
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đức H1: Vắng mặt không lý do.
- Bà Nguyễn Thị Tường V: Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Văn phòng công chứng Trần Quốc P: Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Trẻ Trương Thanh H2 trẻ Trương Thông Thái M ông Trương Thanh T
đại diện hợp pháp: Đề nghị Tòa xem xét theo yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử đúng qui định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng cách pháp lý của
những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, việc thu thập chứng cứ,
tiến hành hòa giải, gửi hồ cho Viện Kiểm sát cũng nviệc cấp, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa
hôm nay, Hội đồng xét xử, thư những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng
qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung vụ án: Qua kiểm sát vụ án tại phiên tòa, căn cứ các tài liệu, chứng
cứ trong hồ vụ án lời trình y, tranh luận của đương sự mặt tại phiên tòa,
Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nhận thấy ông Trương Thanh T, Nguyễn Thị
tường V2 hợp đồng mua bán nhà chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 007210
với ông Trần Minh H. Tuy nhiên, việc ký hợp đồng này chỉ nhằm mục đích ông H đứng
tên vay tiền cho ông T, hai bên không thực hiện việc giao nhận tiền hay bàn giao nhà
theo khoản 3 Điều 2 Điều 3 của hợp đồng. Ngoài ra, ngày 12/12/2023, Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy đăng biến động
ngày 12/10/2023 cho ông H, ngày 15/12/2023 đại diện ông H đã nhận lại kết quả giải
quyết hồ nhưng không khiếu nại gì. Do đó, việc hợp đồng chỉ giả tạo nên
hiệu. Theo Điều 131 Bluật Dân sự m 2015, ông H phải hoàn trcho ông T, V1
trả lại bản chính giấy tờ nhà đất số 4783/2004 do y ban nhân dân quận T cấp ngày
15/11/2004. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Qua lời khai của đương
sự các chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện giữa các bên đã phát sinh tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở, tranh chấp liên
quan đến bất động sản. Bất động sản địa chỉ tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân nh theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
4
[1.2] Về sự mặt của Viện kiểm sát đương sự tại phiên tòa: Do Tòa án tiến
hành xác minh thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố
Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân
sự năm 2015.
Do Nguyễn Thị Tường V đồng sở hữu căn nhà số C (số cũ: 16/15/4) T,
Phường F, quận T; ông Nguyễn Đức H1 người giới thiệu bị đơn với nguyên đơn cũng
như liên hệ, làm việc trực tiếp với nguyên đơn trong quá trình phát sinh giao dịch; Văn
phòng công chứng Trần Quốc P tổ chức thực hiện việc công chứng hợp đồng mua bán
nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 007210 ký ngày 14/7/2023 giữa nguyên đơn
bị đơn; trẻ Trương Thanh T trẻ Trương Thông Thái M người hiện đang ngụ
tại căn nhà trên nên cần thiết đưa tất cả những người nêu trên vào tham gia tố tụng với
cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng mua
bán nhà chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 007210 ngày 14/7/2023 tại Văn
phòng công chứng Trần Quốc P giữa ông Trương Thanh T, Nguyễn Thị Tường V
ông Trần Minh H vô hiệu, Hội đồng xét xử thấy:
Ngày 14/7/2023, ông Trương Thanh T, Nguyễn Thị Tường V ông Trần
Minh H hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với toàn
bộ ngôi nhà số C (số cũ: 16/15/4) T, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá
chuyển nhượng 3.000.000.000 đồng (Ba tđồng), việc thanh toán, giao, nhận nhà
các giấy tờ vquyền shữu nhà quyền sử dụng đất ngay một lần sau khi hợp
đồng. Ngày 12/10/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai quận T đã cập nhật chủ
shữu cho ông Trần Minh H. Theo nguyên đơn trình y, việc hợp đồng chỉ nhằm
mục đích sang tên cho bị đơn để làm thủ tục vay ngân hàng giúp cho nguyên đơn. Trong
suốt quá trình giao dịch, ngoại trừ việc ký hợp đồng là với ông H còn tất cả việc liên lạc,
thỏa thuận nguyên đơn chỉ làm việc với ông H1. Giữa nguyên đơn bị đơn chưa bao
giờ thỏa thuận việc giao nhận tiền, nđến thời điểm hiện nay cả gia đình ông vẫn
đang ngụ tại căn nhà y. Xét, hợp đồng mua bán nhà hai n đã hợp đồng
song vụ hợp đồng mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, bên bán giao nhà bên
mua giao tiền. Quá trình giải quyết vụ án, tuy chỉ lời trình y của nguyên đơn nhưng
bị đơn vắng mặt khôngdo dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt/niêm yết
hợp lệ về việc trình bày ý kiến và yêu cầu bị đơn cung cấp chứng cứ việc giao nhận tiền
đối với nguyên đơn nhưng bị đơn không cung cấp thể hiện việc từ bỏ nghĩa vụ chứng
minh để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Theo xác minh của Công an P1,
quận T, hiện cả gia đình nguyên đơn đang ngụ thực tế tại căn nhà y. Điều y thể
hiện cả hai đều không thực hiện đúng nghĩa vcủa mình theo hợp đồng đã ký. Ngoài ra,
theo công văn s958/CNTB ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
quận T, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai quận T đã hủy nội dung xác nhận thông
tin đăng biến động ngày 12/10/2023 cho bị đơn đã hoàn trả kết quả giải quyết hồ
trong đó bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất
đối với căn nhà trên bị đơn cũng không phản ánh kiến nghị gì. Như vậy, việc các
bên xác lập hợp đồng giả tạo, nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác trên sở ý
chí không đích thực, không sự thống nhất giữa ý chí thực sự bên trong ý chí thực
hiện ra bên ngoài nên hiệu theo Điều 124 Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào những tài liệu,
chứng cứ trong hồ sự phân tích như trên, yêu cầu y của nguyên đơn sở
chấp nhận.
5
[2.2] Về yêu cầu: Ông Trần Minh H hoàn trả cho vợ chồng ông bản chính Giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất số vào sổ 4783/2004 do y
ban nhân dân quận T cấp ngày 15/11/2004.
Do giao dịch mua bán nhà chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên
hiệu nên cần xem xét giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Khi hai bên thực
hiện giao dịch, cả hai đều biết việc ký kết giao dịch y giả tạo nhưng vẫn cố tình
thực hiện do đó đều lỗi trong việc giao dịch hiệu. Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự,
giao dịch hiệu không m phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
phải hoàn trả cho nhau những đã nhận. Do giữa các bên không thực hiện việc giao
nhận tiền, nhà nên không phải thực hiện việc hoàn trả.
Như đã nêu trên, bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử
dụng đất số vào sổ 4783/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 15/11/2004 đã được
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai quận T giao trả cho bị đơn. Do đó, bị đơn
nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất này trong thời hạn 15 ngày ngay khi án hiệu lực pháp luật tại Cơ
quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị đơn không yêu cầu phản tố, những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không có yêu cầu độc lập nên hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu
án phí theo quy định. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã đóng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 21; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1
Điều 39; Điều 144, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 273; khoản 1
Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 124, 131, 402, 407 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trương Thanh T
1.1/ Tuyên hợp đồng mua bán nhà chuyển nhượng quyền sử dụng đất s
công chứng 007210, quyển số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14 tháng 7 năm
2023 tại Văn phòng C giữa ông Trương Thanh T, bà Nguyễn Thị Tường V1 và ông Trần
Minh H vô hiệu
1.2/ Ông Trần Minh H trách nhiệm trả lại cho ông Trương Thanh T bà
Nguyễn Thị Tường V bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng
đất ởsố hồ sơ gốc 4783/2004 do y ban nhân dân quận T cấp ngày 15 tháng 11m
2004 trong thời hạn 15 ngày ngay khi án hiệu lực pháp luật tại quan Thi hành án
dân sự có thẩm quyền.
1.3/ Hết thời hạn nêu trên, nếu ông Trần Minh H không trả lại bản chính giấy
chứng nhận trên, ông Trương Thanh T Ngyễn Thị Tường V3 được quyền tự liên
hệ các quan thẩm quyền để m thủ tục cấp, đổi mới giấy chứng nhận theo quy
định của pháp luật.
6
2/ Án phí dân sự thẩm: Ông Trần Minh H chịu án phí dân sự thẩm
300.000.đồng (Ba trăm ngàn đồng)
Ông Trương Thanh T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng
(Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2023/0024174 ngày 28/11/2023 của Chi cục
Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi nh án dân sự, người
phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi nh án dân sự sửa đổi, bổ sung m 2014; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4/ Về quyền kháng o, kháng nghị: Nguyên đơn người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trẻ Trương Thanh H2 trẻ Trương Thông Thái M có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn những người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn Đức H1, Nguyễn Thị Tường V, Văn phòng công chứng
Trần Quốc P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc a án niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp,
Viện kiểm sát nhân n cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP . HCM; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Q.TB;
- CCTHADS Q.TB;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, Hồ sơ (…).
Mai Thị Bích Thảo
Tải về
Bản án số 455/2024/DS-ST Bản án số 455/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 455/2024/DS-ST Bản án số 455/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất