Bản án số 45/2018/HS-ST ngày 26/07/2018 của TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 45/2018/HS-ST ngày 26/07/2018 của TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mường Nhé (TAND tỉnh Điện Biên)
Số hiệu: 45/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/07/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 45/2018/HS-ST
Ngày 26-7-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Thào A Tủa
Ông Quàng Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam-Thư ký Toà án nhân dân huyện
Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
tham gia phiên tòa: Bà Điêu Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26/7/2018 tại Nhà văn hóa bản Phứ Ma, Leng Su Sìn, huyện
Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét
xử thẩm ng khai vụ án hình s thẩm thụ số 48/2018/HSST ngày
6/7/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2018/QĐXXST-HS ngày
12/7/2018 đối với bị cáo:
Chang N (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1946 tại S, huyện M,
tỉnh Điện Biên; Nơi trú: Bản Ph, L, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề
nghiệp: hưu trí; Trình độ văn hoá: 5/10; Dân tộc: Nhì; Giới tính: Nữ; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chang KX (đã chết) Chu
Nừ Ch (đã chết); chồng Đỗ Tuấn T 01 con; Tiền sự: Không; Tiền
án: không; Nhân thân: Ngày 12/6/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè,
tỉnh Lai Châu xphạt 26 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30
tháng vtội tàng trữ trái phép chất ma y; Ngày 26/9/2001 bị Tòa án nhân dân
huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng về tội ng trữ trái phép
chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/05/2018 đến ngày 16/5/2018, tại
ngoại, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go Lòong- Luật cộng tác viên
trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 6 giờ ngày 13/5/2018 Chang N một mình thuê xe ôm đi
lên lối mở A Pa Chải chơi, đến 7 giờ 15 phút N đến lối mở, trả tiền cho người lái
xe ôm đi vào hội chợ chơi. Chơi hội chợ một lúc N đi bộ xuống bản M,
S, huyện M tìm xe ôm chvề nhà, đi gần đến bản T, S thì N gặp
mua được của một người đàn dân tộc Nhì lạ mặt 01 gói thuốc phiện với
giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Mua bán xong người đàn dân tộc
Nhì đó đi đâu N không biết, còn N cất giấu số thuốc phiện mua được vào trong
người và tiếp tục đi đến bản T. Đến khoảng 8 giờ 30 N đang đi bộ ở khu vực bản
T, S, huyện M thì bTổ Công tác Công an huyện Mường Nhé phối hợp với
đồn biên phòng A Pa Chải phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số thuốc phiện.
Kết luận giám định số 490/GĐ-PC54 ngày 22/5/2018 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen gửi giám
định trích ra từ vật chứng thu giữ của Chang N thuốc phiện; Khối lượng
vật chứng thu giữ của Chang Lò N là 453,26 gam.
Cáo trạng số: 28/CT-VKS-MN ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Mường Nhé đã truy tố Chang N để xét xử về tội: Tàng trữ trái
phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy
tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; Điều
38; điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Chang N
phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy đề nghị xử phạt bị cáo t 2 đến 3
năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5
Điều 249 Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự điểm a
khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ
án; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của
Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; hình phạt bổ sung; vật chứng vụ
án án phí; vphần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất
theo đề nghị của Viện kiểm sát vì lý do bị cáo tuổi đã cao sức khỏe yếu.
Tại phiên tòa bcáo Chang Lò N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như
đã tóm tắt trên đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhất trí
với nội dung bào chữa của Luật sư, không tranh luận với luận tội của Viện
kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện
Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm
sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình
điều tra tại phiên tòa bị cáo không ý kiến khiếu nại vhành vi, quyết định
của quan tiến nh tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó
các hành vi, quyết định ttụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên
tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phợp với lời khai
các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm
tội, phợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, o trạng truy tố các
chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vậy đã có đủ căn cứ để
xác định: Hành vi tàng trữ trái phép 453,26 gam thuốc phiện với mục đích để sử
dụng của bị cáo Chang N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội
phạm hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS đúng người,
đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến
chính sách thống nhất quản của Nhà ớc về các chất ma túy, đi ngược lại
đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc
đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự
địa phương. Bcáo người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo
thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo đã từng tham gia
thanh niên xung phong vào năm 1972 tại huyện Mường sau đó công tác
tại Hội liên hiệp phụ nữ huyện Mường Tè, giữ chức vụ phó chủ tịch Hội liên
hiệp phụ nữ huyện Mường Tè và đến năm 1991 nghỉ hưu. Thời gian nghỉ hưu b
cáo người nhân thân rất xấu, đã hai lần phạm tội về ma túy vào năm 1999
năm 2001. Năm 1999 bị cáo phạm tội về ma y, được hưởng án treo nhưng
trong thời gian thử thách bị cáo lại phạm tội về ma túy vào năm 2001. Hai lần
phạm tội bị cáo đã được xóa án tích nhưng bị cáo không những không thức tỉnh,
không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà đến ngày 13/5/2018 bị
cáo lại bị bắt quả tang tàng trữ trái phép thuốc phiện với số lượng lớn phải
đứng trước vành móng ngựa như ngày hôm nay. Tuy nhiên qtrình điều tra,
truy tố cũng như tại phiên tòa thẩm bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm
tội khi đã 72 tuổi nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát người
bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm
4
o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức đhành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết giảm
nhtrách nhiệm hình sự, thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra
khỏi đời sống hội một thời gian nhất định mục đích để giáo dục riêng
phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên phạt bị cáo từ 2 đến 3 năm tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo
mức thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị
này của người bào chữa là thấp chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi
phạm tội của bị cáo bị cáo người nhân thân rất xấu, đã hai lần phạm tội
về ma y, do vậy Hội đồng xét xử xem xét cần xử phạt bị cáo cao hơn đnghị
của người bào chữa.
t hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, hội đồng xét xchấp
nhận đề nghị của Viện kiểm sát người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ
sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Đối với đối tượng người đàn bà dân tộc Hà Nhì đã bán thuốc phiện cho bị
cáo Chang N, quá trình điều tra không xác định được người này là ai, đâu,
do vậy không có cơ sở để xử lý.
[3] Về xử lý vật chứng: Đối với số thuốc phiện 389,46 gam còn lại sau
khi đã trích giám định cần tịch thu tiêu hủy.
[4] Về án phí: Xét thấy bị cáo đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú
điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn đã đơn đề nghị miễn án
phí nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát người bào chữa miễn toàn bộ
tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm o, s khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Chang N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma
tuý".
Xphạt bị cáo Chang N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt đi thi hành án được trừ thời gian
tạm giữ là 03 ngày.
5
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2
Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hu389,46 gam thuốc phiện vật chứng v
án Chang Lò N.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/7/2018 giữa Công an huyện
Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. V án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ
thẩm cho bị cáo Chang Lò N.
Án xử công khai thẩm mặt bị cáo, người bào chữa. Bcáo có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện
Biên);
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- VKSND huyện Mường Nhé;
- Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS,
quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé;
- Bị cáo; Người bào chữa;
- Chi cục THADS huyện Mường Nhé;
- Phòng Hành chính-Sở Tư pháp tỉnh
Điện Biên;
- Lưu HS, HSTHA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dƣơng Thị Nhung
Tải về
Bản án số 45/2018/HS-ST Bản án số 45/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất