Bản án số 44/2026/DS-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 44/2026/DS-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 44/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty J - Ông T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 44/2026/DS-ST Bản án số 44/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
KHU VỰC 7 - THANH HOÁ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 44/2026/DS-ST.
Ngày: 28/8/2026.
V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HOÁ.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tường Vân
2. Ông Đinh Văn Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Khu
vực 7 - tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên
tòa: Bà Dương Thị Hiên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Khu vực 7 -
Thanh Hoá xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 60/2026/TLST- DS ngày
23 tháng 3 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 1024/2026/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2026 và quyết định
hoãn phiên tòa số 1035/2026/QĐST–DS ngày 18 tháng 8 năm 2026 đối với các
đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)
Địa chỉ: Số H L, phường Đ, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
Quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc Q – Chức vụ: Trưởng phòng xử
lý nợ pháp lý khách hàng cá nhân 02.
- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lường Hữu H – Chuyên viên xử lý nợ.
Địa chỉ: Số B Đại Lộ L, tầng 3 TTTM PALAZA, phường H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm: 1996
Địa chỉ: Thôn L (nay là thôn S), xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt ông Lường Hữu H. Vắng mặt ông Bùi Văn T (lần 02 không
có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Ngân hàng TMCP V (V1),
bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện của nguyên
đơn trình bày:
Ông Bùi Văn T vay vốn tại V1, theo 03 Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:
Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024 vay số tiền
251.000.000 đồng (hai trăm năm mươi mốt triệu đồng), thời hạn vay 84 tháng. Mục
đích sử dụng vốn là mua xe ô tô tải THACO số loại FRONTIER TF480V 2S sản
xuất năm 2024 mới 100% để phục vụ kinh doanh mua bán trái cây. Lãi suất cho vay
trong hạn là 11,3%/năm, được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian
cố định lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu
tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày
đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay
trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo.
Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy
định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ
nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ
sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân
kỳ hạn 84 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh
cộng (+) biên độ 3,5%/năm. Lãi suất quá hạn đối với dư nợ gốc bằng 150% mức lãi
suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Các kỳ trả nợ gốc
vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/9/2024. Số tiền gốc phải
trả mỗi kỳ là 2.988.000 đồng, kỳ cuối phải trả hết số tiền nợ gốc còn lại. các kỳ trả
lãi vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/9/2024.
Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025 số tiền vay là
87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng. Mục đích vay
tiêu dùng. Lãi suất cho vay trong hạn là 22%/năm. Mức lãi suất cho vay trong hạn
được cố định đến ngày 01/10/2025, sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.
Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện vào các ngày đầu quý hàng hàng năm. Các
kỳ hạn trả nợ, bên vay trả nợ gốc cho bên ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/ lần vào
ngày 15 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/06/2025, số tiền vay phải
trả mỗi kỳ là 1.450.000 đồng. Trả lãi định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng.
Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản
thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu,
một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là 01 xe ô tô con nhãn hiệu THACO,
mang biến số 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187, số máy:
DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi Văn T, theo
Hợp đồng thế chấp số LN2407253305436/HĐTC ngày 03/08/2024.
Ông Bùi Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/11/2025, nên toàn bộ
khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất quá hạn theo quy
định trong hợp đồng.
V1 đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần nợ lãi chậm trả và
khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng
3
tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười
tám triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).
Tính đến ngày 28/8/2026, ông Bùi Văn T đã trả cho V1 số tiền gốc 46.301.376
đồng; tiền lãi là 40.146.793 đồng. Tổng cộng là 86.448.169 đồng.
Tạm tính đến ngày 28/8/2026, ông Bùi Văn T còn nợ 02 khoản vay của V1 số
tiền nợ gốc là 291.698.624 đồng, nợ lãi là 64.904.974 đồng. Tổng cộng là
356.603.598 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc,
nhắc nhở nhưng đến nay ông T vẫn không thanh toán khoản vay nợ cho ngân hàng.
Vì vậy, Ngân hàng V1 đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết buộc ông Bùi Văn T
phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng
nêu trên, tạm tính đến ngày 28/8/2026 là 356.603.598 đồng và tiếp tục chịu lãi theo
đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi ông Bùi
Văn T thực tế thanh toán hết nợ cho V1. Trường hợp ông Bùi Văn T không thực
hiện được nghĩa vụ thì đề nghị Toà án cho phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô con
nhãn hiệu THACO, mang biến số 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187,
số máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi
Văn T, theo Hợp đồng thế chấp số LN2407253305436/HĐTC ngày 03/08/2024 để
làm cơ sở cho thi hành án. Trường hợp tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vẫn
không đủ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục kê biên, phát mại các
tài sản của ông T để thu hồi nợ.
Bị đơn ông Bùi Văn T sau khi thụ lý vụ án đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các
văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên
không lấy được lời khai của ông T.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn xin rút một
phần đơn khởi kiện về phần nợ lãi chậm trả và khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp
đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân
hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên như khởi
kiện.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người
tiến hành tố tụng và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn quá trình giải quyết vụ án không đến để
làm việc theo giấy báo của Toà án. Tại phiên toà nguyên đơn chấp hành đúng quy
định của pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 02 không có lý do.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu mà người đại
diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần
nợ lãi chậm trả và khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ,
mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500
đồng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.
4
- Về án phí: Bị đơn ông Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP V là pháp nhân hoạt động hoạt động theo
giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngân hàng đã ký kết hợp đồng tín dụng với
ông Bùi Văn T để cho ông T vay tiền, mục đích sử dụng vốn vay là vay mua xe và
tiêu dùng. Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP V khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc ông T phải trả số tiền nợ gốc đã vay còn lại và tiền lãi, tiền phí
phát sinh theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Ông T có hộ khẩu thường trú tại xã
T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7
- Thanh Hóa theo khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ, thực hiện đầy đủ thủ
tục tố tụng đối với ông Bùi Văn T nhưng ông T vẫn không có mặt để tham gia tố
tụng và vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ
án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Bùi Văn T không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của
người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ nên Tòa án căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã giao nộp để giải quyết vụ án theo quy
định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng
như lời trình bày của nguyên đơn và căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân
sự, Điều 463 Bộ luật dân sự vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng”.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với phần nợ lãi chậm trả và khoản vay
tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản
thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu,
một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) nên đình chỉ yêu cầu này của nguyên
đơn là phù hợp.
Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V và ông Bùi Văn T đã được hai
bên thống nhất, thỏa thuận, ký kết, hình thức, nội dung hợp đồng không vi phạm các
điều cấm, không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Do vậy, Hợp đồng tín dụng là hợp
pháp, là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng,
Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giải ngân cho ông T vay các
5
khoản lần lượt với số tiền gốc là 251.000.000 đồng và 87.000.000 đồng. Do ông Bùi
Văn T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án là có căn cứ.
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với khoản nợ gốc:
Căn cứ vào các hợp đồng tín dụng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thể
hiện: Tại Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024, ngân hàng đã
giải ngân cho ông T vay số tiền là 251.000.000 đồng (hai trăm năm mươi mốt triệu
đồng), thời hạn vay 84 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân. Các kỳ hạn trả nợ
gốc định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày
15/9/2024, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 2.988.000 đồng, riêng kỳ cuối trả hết số
tiền gốc còn nợ. Tại Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025, số tiền
vay 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng. Các kỳ hạn
trả nợ gốc, định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào
ngày 15/06/2025, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 1.450.000 đồng. Quá trình thực hiện
hợp đồng, ông T đã trả gốc đúng thời hạn được một thời gian, tuy nhiên từ ngày
15/11/2025, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các thoả thuận tại hợp đồng tín
dụng. Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để đôn đốc thu hồi nợ nhưng ông T
vẫn cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Tính đến ngày xét xử (ngày 28/8/2026) ông T mới trả được nợ gốc cho ngân
hàng số tiền là 46.301376 đồng. Trong đó, Hợp đồng cho vay số LN2407253305436
trả số tiền là 41.832.000 đồng, Hợp đồng cho vay số LD2514100749 trả số tiền là
4.469.376 đồng. Như vậy, số tiền nợ gốc ông T còn phải trả cho ngân hàng là
291.698.624 đồng. Trong đó, Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 là
209.168.000 đồng, Hợp đồng cho vay số LD2514100749 là 82.530.624 đồng. Vì
vậy, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc đề nghị Tòa án buộc ông Bùi Văn T
phải trả khoản tiền nợ gốc đã vay còn lại là 291.698.624 đồng (hai trăm chín mươi
mốt triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn, sáu trăm hai mươi bốn đồng) là có cơ sở
chấp nhận.
[3.2] Đối với khoản tiền lãi:
Tại nội dung của hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024,
lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 11,3%/năm, được cố định 12
tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định lãi suất cho vay trong hạn sẽ được
điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định,
ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh
lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03
tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất
rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất
là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều
chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài
sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên ngân hàng
công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm. Các kỳ trả
lãi vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/9/2024.
Tại nội dung của Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025 số tiền
vay là 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng. Lãi suất
6
cho vay trong hạn là 22%/năm. Mức lãi suất cho vay trong hạn được cố định đến
ngày 01/10/2025, sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Việc điều chỉnh lãi
suất được thực hiện vào các ngày đầu quý hàng hàng năm. Trả lãi định kỳ 01 tháng/
lần vào ngày 15 hàng tháng.
Đối với cả hai hợp đồng lãi suất quá hạn đối với dư nợ gốc bằng 150% mức lãi
suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả
áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại
thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả
tương ứng với thời gian chậm trả. Quá trình vay nợ, ông T đã trả lãi đúng hạn được
một thời gian, tuy nhiên đến ngày 15/11/2025 ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên
toàn bộ số nợ bị chuyển sang nợ quá hạn. Vì vi phạm nghĩa vụ trả nợ như cam kết
nên ngân hàng yêu cầu ông T phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh. Tuy nhiên,
ngân hàng chỉ yêu cầu ông T phải trả lãi trong hạn và lãi quá hạn của khoản vay, rút
yêu cầu đối với phần nợ lãi chậm trả.
Do đó, số tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày xét xử (ngày 28/8/2026) theo
mức lãi suất mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng, ông T mới trả được 40.146.793
đồng tiền lãi trong hạn (trong đó: hợp đồng số LN2407253305436 đã trả được
32.542.409 đồng, hợp đồng số LD2514100749 đã trả được 7.604.384 đồng), lãi
trong hạn còn phải trả là 3.009.780 đồng (trong đó: hợp đồng số LN2407253305436
còn phải trả 1.531.424 đồng, hợp đồng số LD2514100749 còn phải trả 1.478.356
đồng). Lãi quá hạn tính từ ngày 15/11/2025 đến ngày xét xử là 61.895.194 đồng
(trong đó: hợp đồng số LN2407253305436 còn phải trả 38.630.716 đồng, hợp đồng
số LD2514100749 còn phải trả 23.264.478 đồng). Tổng số tiền lãi ông T còn phải
trả cho ngân hàng là: 64.904.974 đồng (sáu mươi tư triệu, chín trăm linh bốn nghìn,
chín trăm bảy mươi tư đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Do ông Bùi Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như hợp đồng mà hai bên đã
thỏa thuận, ký kết nên V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T phải trả số tiền gốc
còn lại và tiền lãi phát sinh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Bùi Văn T
phải chịu trách nhiệm trả nợ cho V1 số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh tạm tính
đến ngày 28/8/2026 là 356.603.598 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm linh
ba nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền gốc là 291.698.624 đồng,
tiền lãi là 64.904.974 đồng.
Kể từ ngày 29/8/2026, ông T còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
[5] Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo: Căn cứ vào lời trình bày của người đại
diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án xác định: Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của ông Bùi Văn T đối với
khoản vay của ngân hàng các bên đã ký kết hợp đồng thế chấp số
LN2407253305436/HĐTC ngày 03/8/2024. Theo nội dung của hợp đồng thế chấp,
ông T đã thế chấp tài sản của mình là xe ô tô nhãn hiệu THACO, số loại FRONTIER
TF480V, biển số đăng ký 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187, số
7
máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi Văn
T. Xét thấy, hợp đồng thế chấp được thỏa thuận, ký kết bởi những người có đủ năng
lực, thẩm quyền. Do vậy, hợp đồng thế chấp tài sản là hợp pháp, là căn cứ pháp lý
phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo
hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng. Vì vậy, yêu cầu về việc được đề nghị
Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp thuộc quyền
sở hữu và sử dụng của ông T, là có căn cứ.
Ngày 29/7/2026, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản
ông T đã thế chấp với ngân hàng. Tuy nhiên, Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm
định tại chỗ được do vắng mặt bị đơn và không có tài sản để xem xét, thẩm định.
Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu
còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp là ông Bùi Văn T, nếu thiếu ông T tiếp tục phải
hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi
phí xem xét tại chỗ, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn không yêu cầu tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của V1 được chấp nhận nên ông Bùi Văn
T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền phải trả nợ.
Trả lại cho V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 96, khoản 1
Điều 147, khoản 3 Điều 210, Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều
244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117,
Điều 275, Điều 280, các Điều 317, 318, 319, 320, khoản 7 Điều 323, khoản 1 Điều
351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91,
Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều
24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
yêu cầu bị đơn là ông Bùi Văn T phải trả lãi chậm trả và trả khoản vay tại Giấy đăng
ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và
dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu, một trăm chín
mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 về việc yêu cầu bị đơn ông Bùi Văn T
phải trả 02 khoản tiền vay tại hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày
03/08/2024 và Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025.
Buộc bị đơn ông Bùi Văn T phải chịu trách nhiệm trả nợ cho V1 số tiền gốc
còn nợ và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 28/8/2026 là 356.603.598 đồng (Ba
trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm linh ba nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng).
Trong đó: tiền gốc là 291.698.624 đồng, tiền lãi là 64.904.974 đồng.
8
Kể từ ngày 29/8/2026, ông Bùi Văn T còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền
lãi, phí phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật và người có quyền thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bùi Văn T không trả nợ cho V1 thì V1 có quyền
yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp
để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp số
LN2407253305436/HĐTC ngày 03/8/2024 đã ký giữa bên thế chấp là ông Bùi Văn
T và bên nhận thế chấp là V1. Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu THACO, số loại
FRONTIER TF480V, biển số đăng ký 50H - 500.01, số khung:
RNHV25TDBRT091187, số máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu
và sử dụng của ông Bùi Văn T. Số tiền phát mại các tài sản bảo đảm thu được sau
khi trả nợ cho V1 nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp là ông T nếu thiếu ông T
tiếp tục phải hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với V1.
3. Về án phí: Buộc ông Bùi Văn T, phải nộp 17.830.180 đồng (mười bảy triệu,
tám trăm ba mươi nghìn, một trăm tám mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có
giá ngạch.
Trả lại cho V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.284.000 đồng (tám triệu, hai
trăm tám mươi tư nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0002107 ngày 20/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và 72 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 7;
- THADS tỉnh Thanh Hoá;
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Lê Thị Hương Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 44/2026/DS-ST Bản án số 44/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất