Bản án số 44/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 44/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 44/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TA N NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI
CỘNG HA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 44/2025/DS- ST
Ngày: 19-9-2025
Về việc Tranh chp tun bố hp đng
đặt cọc vô hiệu”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ N NHÂN DÂN KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thu
Các Hội thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh
Bà Nguyễn Thị Bình
Thư Toà án ghi biên bản phiên toà: Bùi Thị Thư - Thư ký Toà án
nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi tham gia phiên
toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Tài- Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 và ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại Toà án nhân dân khu vực
1 Quảng Ngãi xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 205/2023/TLST-
DS, ngày 05 tháng 10 năm 2023 vvic “ Yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc
hiệu và giải quyết hậu qu của hợp đồng hiu”, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 18/2025/QĐXXST - DS ngày 14/7/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số
28/2025/QDDST-DS ngày 05/8/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số
56/2025/QDDST-DS ngày 22/8/2025 Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
15/2025/QĐST-DS ngày 08/9/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quảng L, sinh năm 2000; Đa chỉ: Đường Trần
Hưng Đạo, phưng Cẩm T, tỉnh Quảng Ngãi (Tớc khi sáp nhập: đưng Trần ng
Đo, phường Nguyễn N, thành phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi).
Nời đại diện theo y quyền của nguyên đơn: Võ ThHoàng O, sinh năm
1970; địa chỉ: Trần Hưng Đạo, Tổ 1, phưng Cm T, tỉnh Qung Ngãi (theo giấy y
quyền được ng chứng ngày 26/02/2024, s 1064, quyển số 01/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD).
* Bị đơn: Nguyễn Thị Ánh G, sinh năm 1979; Địa chỉ: thôn Độc Lập 1,
phưng Trương Quang T, tỉnh Quảng Ni (trước khi p nhập: thôn Độc Lập,
Tnh n T, tnh phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Ông Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1986 Thị Mỹ D, sinh năm 1986;
cùng địa chỉ liên hệ: Phạm Văn Đồng, phường Cẩm T, tỉnh Quảng Ngãi (trước
khi sáp nhập: Phường Nguyễn N, thành phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi). Ngưi
đại din theo ủy quyn của Lê Thị Mỹ D: Ông Nguyễn Trọng Đ (theo giấy y
quyền được công chng ngày 06/9/2025, số 4984, quyển số 01/2025/CCGD).
* Người làm chứng:
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: đường Nguyễn Nghiêm, phường
Cẩm T, tỉnh Quảng Ngãi (trước khi sáp nhp: đưng Nguyễn Nghiêm, phường
Nguyễn N, thành phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi).
- Hồ Th H, sinh năm 1972; nơi trú: thôn Cộng Hòa 2, phường
Trương Quang T, tỉnh Quảng Ngãi (trước khi sáp nhập: thôn Cộng Hòa 2, Tịnh
Ấn T, thành phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi).
- Ông Từ Văn H, sinh năm 1964; địa chỉ: thôn Độc Lập 1, phường Trương
Quang T, tỉnh Quảng Ngãi, (trước khi sáp nhập: thôn Độc Lập, xã Tịnh Ấn T,
thành phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi).
- Ông Lê Xuân Q, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Độc Lập, phường Trương
Quang T, tỉnh Quảng Ngãi (trước khi sáp nhập: Thôn Độc Lập, Tịnh Ấn T,
thành phố Quảng N, tỉnh Quảng Ngãi).
Tại phiên tòa ngày 08/9/2025 O, G, ông Đ, ông Q mặt tại phiên
tòa; ông N, bà H, ông H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Tại phiên tòa ngày 19/9/2025 O, bà G có mặt tại phiên tòa; ông Đ, bà D,
ông Q, ông N, bà H, ông H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ N:
- Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, văn bản trình bày của nguyên
đơn, của người đại diện cho nguyên đơn và tại phiên tòa người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn bà Võ Thị Hoàng O trình bày:
Thị Hoàng O là mđẻ của nguyên đơn ông Nguyễn Quảng L. Hồ
ThH là bạn của O, khi O ông L nói muốn mua đất nông nghiệp khu
vực đường dẫn cầu Thạch Bích để làm vườn trồng cây cảnh thì H nói là
Nguyễn Thị Ánh G (là ngưi gần nhà H) đất nông nghiệp cần chuyển
nhượng. Vào ngày 12/7/2023, H ông L đến gặp G thì bà G dẫn bà H, ông
L đến khu vực đường dẫn cầu Thạch Bích, cùng đi còn có một người đàn ông nữa
cũng đi xem đất, (sau này đã xác định ông Trần Văn N). Vì lúc đó công trình
đường dẫn cầu Thạch Bích đang thi công nên mọi người không xuống tận nơi vị
trí thửa đất, cùng đứng trên đường (mặt đường cao hơn khu vực đất nông
nghiệp) ở từ xa bà G chỉ khu vực đất trồng cây mì cho ông Lbà H thấy. Bà G
nói thửa đất có diện tích hơn một sào và giá chuyển nhượng là 420.000.000đồng.
3
Sau khi xem đất xong thì mọi người về nhà bà G để xem giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Tại đây, bà G đưa cho ông L xem bản gốc giấy chứng nhận quyền s
dụng của thửa đất, ông L kiểm tra thấy tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ghi tên Nguyễn Thị Ánh G, tin tưởng G H nên ông L
không yêu cầu cung cấp bản sao của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L
có yêu cầu bà G giảm giá thì bà G nói bà cần tiền nên sẽ bán với giá 380.000.000
đồng. Đến tối cùng ngày 12/7/2023, ông L điện cho bà H nói nếu thửa đất đó
G bán giá 300.000.000 đồng thì ông L mua và G đồng ý chuyển nhượng thửa
đất khu vực đường dẫn cầu Thạch Bích với giá 300.000.000 đồng, vì vậy ông L
nói với Huệ đến 10 giờ ngày 13/7/2023 sẽ đến đặt cọc cho G số tin
50.000.000 đồng. Theo như đã hẹn, O, ông L, H đến nhà G để làm thủ
tục đặt cọc, lúc này bà G nói bà chính chủ thửa đất, bà G đã đưa ra 1 tập giấy
mẫu Hợp đồng đặt cọc, trong đó nội dung Hợp đồng đặt cọc G đã tự viết sẵn
từ trước, tờ Hợp đồng đầu tiên G viết bằng bút bi mực màu xanh (liên 1), hai
tờ sau (liên 2 liên 3) G giấy cacbon (giấy than) đviết. Khi G đưa
Hợp đồng đặt cọc thì bà O và ông L có đọc nội dung Hợp đồng đặt cọc và sau đó
ông L tên vào Hợp đồng đặt cọc rồi chuyển tiền đặt cọc cho G. Ông L giữ
bản gốc, G giữ bản liên 2 H gibản liên 3. Ông L tin tưởng H nên
không yêu cầu kiểm tra lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đối chiếu với
Hợp đồng đặt cọc.
G không đưa cho ông L bản gốc hoặc bản sao Giấy chứng nhận quyn
sử dụng đất kèm theo Hợp đồng đặt cọc. Lúc đó không đọc công khai nội dung
Hợp đồng đặt cọc, nhưng O nghe bà G nói trong thời gian 1 tháng, đến
ngày 13/8/2023 sẽ làm thủ tục công chứng, nhưng 2 bên không thỏa thuận sẽ thc
hiện thủ tục công chứng tại đâu, còn về phạt cọc (bồi thường) là do bà Giáo đã tự
ghi trước vào Hợp đồng, O ông L thấy G đã ghi nên cũng không ý
kiến gì. Ông L không nhsố thửa, chỉ nhkhi xem bn gốc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất G đưa thì tên Nguyễn Thị Ánh G trang 3 của
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 02/8/2023, ông L nhờ bà H thuê người đem trụ bê tông đến chôn
cọc mốc giới của thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ G, đchuẩn bị làm thủ
tục công chứng, thì bà G đã nhchồng là ông Q đưa H đi xác định mốc giới,
nhưng chồng của bà G đã đưa bà H đến thửa đất khác mà không phải là thửa đất
G đã chỉ cho ông L, H. vậy H không đồng ý chôn cọc mốc tại thửa
đất và điện thoại cho ông L, cho bà G để trao đổi sự vic.
Sau đó ông L đến nG để trao đổi việc chỉ đất không đúng, thì bà Giáo
đưa giấy chứng nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất (sổ đỏ) của thửa đất số
176 tờ bản đồ số 7 cho ông L xem, ông L nói không phải là sổ mà bà đã đưa cho
ông L xem ngày 12/7/2023, ông Long thấy L trang 3 không tên Nguyễn
ThÁnh G. Lúc này G đã cho ông L xem giấy chứng nhận của thửa đất số 1180
4
tờ bản đồ số 6, tại trang 3 của giấy chứng nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất
này tên bà Nguyễn Thị Ánh G, đúng là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
G đã đưa cho ông L xem ngày 12/7/2023. G nói rằng thửa đất số 1180
giá 520.000.000 đồng, nếu ông L mua thì chỉ bớt 20.000.000 đồng. Ngoài ra,
G đưa ông L xem 02 giấy chứng nhận của hai thửa đất khác nữa, tất cả các thửa
đều diện tích gần giống nhau hơn 500m². Ông L đưa ra phương án là smua
(nhận chuyển nhượng quyền sử dụng) thửa đất số 1180, nhưng với giá
400.000.000đ ồng, còn nếu không thì yêu cầu G trlại 50.000.000đồng tiền
cọc, bà G không đồng ý mà nói là để bà cân nhắc, trả lời ông L sau.
Đến ngày 10/8/2023 ông L, bà O, bà H đến nhà G để nói về việc chuyển
nhượng đất thì bà G nói là đã chỉ đúng đất và bà không đồng ý trả lại tiền cọc cho
ông L G nói muốn xin lại cọc thì liên hệ ông Nguyễn Trọng Đ chủ thử đất,
nhận cọc của ông L xong đã chuyển tòa bộ tiền cọc cho ông Đ. Ông L, bà
H, O không ai biết ông Nguyễn Trọng Đ chủ sử dụng của thửa đất số 176, tờ
bản đồ số 7 ghi trong Hợp đồng đặt cọc, vì ông L đã xem giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tên chủ sử dụng tại trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bà
Nguyễn Thị Ánh G nên nghĩ là đất chính chủ của bà G ông L đã chuyển khoản
tiền đặt cọc cho G. Đến khi ông L viết đơn yêu cầu công an xã Tịnh Ấn Tây
giải quyết thì ông L mới biết chủ sử dụng thửa đất số 176, tờ bản đồ số 7 ghi trong
Hợp đồng đặt cọc là ông Nguyễn Trọng Đ chứ không phải bà G. Họ không ai biết
việc ông Nguyễn Trọng Đ uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Ánh G “viết nhận tiền
hợp đồng cọc tiền đất” đối với thửa đất số 176, tờ bản đsố 7 nêu trên cũng
không được bà G cho xem hợp đồng ủy quyền của ông Đ cho bà G.
Ông L đặt cọc stiền 50.000.000 đồng cho bà G bằng phương thức chuyển
vào tài khoản của Nguyễn Thị Ánh G vào lúc 10 giờ 28 phút ngày 13/7/2023
để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà G, không phải đặt cọc để nhn
quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trọng Đ. Bà Giáo đã lừa dối ông L vì khi
G đưa ông L H đi xem đất thì G đã chỉ thửa đất sát đường dẫn cu
Thạch Bích, nhưng trong Hợp đồng đặt cọc bà G lại tự ghi số thửa khác khi bà
H đến yêu cầu xác định mốc giới để chôn cọc mốc giới giúp cho ông L thì G
lại bảo chồng của bà G dẫn bà H đến thửa đất khác. Thửa đất số 176 tờ bản đồ số
7 xã Tịnh Ấn Tây ghi trong Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 là thửa đất của vợ
chồng ông Nguyễn Trọng Đ chứ không phải của G. Như vậy Hợp đồng đặt cọc
do Nguyễn Thị Ánh G và ông Nguyễn Quảng L được ký kết ngày 13/7/2023
do bị lừa dối.
Tại đơn khởi kiện, ông L yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày
13/7/2023 giữa bà Nguyễn Thị Ánh G và ông Nguyễn Quảng L vô hiệu.
Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 hiệu nên ông L yêu cầu bà Nguyễn
Thị Ánh G phải trả các khoản tiền sau:
- Hoàn trả cho ông L số tiền cọc đã nhận là 50.000.000đồng;
5
- Bồi thường (hay còn gọi phạt cọc) cho ông L 100.000.000 đồng;
Tại phiên tòa ngày 08/9/2025, người đại diện cho nguyên đơn bà Th
Hoàng O trình bày: Nếu bà Nguyễn Thị Ánh G hoàn trả lại cho ông L 50.000.000
đồng tiền đặt cọc thì ông L không yêu cầu bà G phải bồi thường 100.000.000
đồng, không yêu cầu bà G phải trả khoản tiền lãi của số tiền đặt cọc 50.000.000
đồng theo mức lãi suất 1%/tháng, thời gian tính tiền lãi kể từ ngày 13/8/2023 cho
đến khi G hoàn trả tiền cho ông L. yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng
phiên tòa để bà và ông L thỏa thuận, hòa giải với G.
Tuy nhiên, đến nay các bên không tthỏa thuận với nhau được, vì vậy ti
phiên tòa hôm nay bà O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Yêu cầu tuyên Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 giữa ông Nguyễn Quảng
L và bà Nguyễn Thị Ánh G hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng đặt cọc vô
hiệu là: Buộc bà Nguyễn Thị Ánh G hoàn trả lại 50.000.000 đồng tiền đã đặt cọc
cho ông Nguyễn Quảng L; buộc G bồi thường số tiền 100.000.000 đồng tiền
phạt cọc cho ông Nguyễn Quảng Lyêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh G phải trả cho
ông L khoản tiền lãi của số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng theo mức lãi sut
1%/tháng, thời gian tính tiền lãi kể từ ngày 13/8/2023 cho đến ngày hôm nay
19/9/2025 là 12.600.000 đồng.
-Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 20/03/2025 và tại phiên toà
bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh G trình bày:
Trước ngày đặt cọc khoảng 1 tuần (cụ thngày nào không nhrõ) Hồ
ThH một người đàn ông (bà không tên, nhưng không phải ông L) đến
nhà hỏi mua đất hỏi bán những miếng đất nào, thì nói 3 tha
đất: Thửa số 176, tờ bản đồ số 7 diện tích 559,8m²; thửa đất số 1180, tờ bản đồ số
6, diện tích 559,0m²; thửa đất số 425 tờ bản đồ số 6, diện tích 1049m². Thửa s
176, tờ bản đsố 7 dưới đường Thạch Bích cách khoảng 50-70m, địa chỉ: Xóm
2, Thôn Độc Lập, xã Tịnh Ấn Tây, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, còn
thửa 1180, tờ bản đồ số 6 nằm trong xóm 9, Thôn Độc Lập, Tịnh Ấn Tây, thành
phQuảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Họ vào nhà xem sđỏ trước (Chỉ xem Giy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 176, tờ bản đồ số 7, số số CK 234862, số
vào số cấp GCN: CS11531) không coi hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đt
của hai thửa đất còn lại. Sau đó bà dẫn bà H và người đàn ông đó đi coi hai tha
đất số 1180, tờ bản đồ số 6, diện tích 559,0m² và thửa đất số 425 tờ bản đsố 6,
diện tích 1049m² trước, nhưng bà H chê vì đất trong xóm không gần cầu Thạch
Bích. Sau đó đưa H người đàn ông ra thửa đất số 176, tờ bản đồ số 7 dưới
đường dẫn cầu Thạch Bích, lúc đó 2 giờ chiều, bà H bảo trời nắng, nên chúng tôi
chỉ đứng trên đường Thạch Bích cách thửa đất số 176 tầm 50-70m, bà G chỉ vào
thửa đất nói với H người đàn ông kia thửa đất số 176 chỗ đám
cao nhất (lúc đó đang trồng cao khoảng 1,5m) H người kia thống nhất
chốt mua thửa đất số 176 theo sổ chkhông ra coi cụ thranh mốc giới nói
biết vị trí mua theo sđỏ được rồi, nhưng hai bên chưa thống nhất giá. Ngày
6
đi coi đất trước ngày đặt cọc 13/7/2023 một tuần chứ không phải ngày 12/7/2023
và không có mặt ông L hay bà O mẹ ông L.
Ngày ông L đặt cọc ngày 13/7/2023 như trong hợp đồng đặt cọc, gồm có
bà G, bà H, ông L mẹ ông L. Khi đó ông Long, bà H, O xem lại Giấy chứng
nhận quyền sử dụng của thửa đất số 176, tờ bản đồ số 7, họ không có ý kiến gì về
việc ông Nguyễn Trọng Đ chủ sở hữu thửa đất 176 và ủy quyền lại cho G
(theo giấy ủy quyền ngày 11/7/2023) đồng ý giá hai bên thỏa thuận mua bán
thửa đất 176, tờ bản đồ số 7, diện tích 559,8m² giá 300.000.000 đồng, ngay hôm
đó bên ông L đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng, ông L chuyển khoản vào số tài
khoản của bà G. Hai bên chỉ thỏa thuận giá, coi sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất) chứ không đi kiểm tra thực địa. Trước ngày 13/7/2023, ông L chưa từng
tới nhà bà, chỉ có bà H người đàn ông (bà không tên) đến một lần khi chốt
mua thửa đất. Ông L tin tưởng H nên trước ngày chốt cọc mua đất chưa tng
đến nhà bà G hay đi xem đất, kiểm tra đất.
Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 do bà G viết tại nhà bà G trước sự chứng
kiến của ông L, O, H, ngoài ra không còn ai khác. Nội dung hai bên thỏa
thuận cụ thnhư trong hợp đồng, bên bán (bên A) Giáo, bên mua (bên B)
là ông L, bà H làm chứng là bên C. Các bên đã đọc và biết rõ nội dung trong hợp
đồng cọc mới đồng ý ký tên và không ai có ý kiến gì.
Sau ngày đặt cọc hơn 20 ngày thì Huđiện thoại G nói rằng H
cùng ông Từ Văn H (là người do H thuê) đã đến thửa đất số 176 đến để chôn
cọc xác định ranh giới thửa đất 176, nên bà G có bảo chồng bà là ông Lê Xuân Q
đến thửa đất số 176 để chranh giới thửa đất cho Huệ, thửa đất 176 lúc đó
đang trồng cây mì, có bờ xung quanh nên không snhầm lẫn ranh giới. Sau đó
H gọi chửi bà G nói lừa đảo, chỉ sai vị trí đất; H và ông L đăng bài lên mạng
hội Facebook nói G lừa đảo. Ông L mẹ ông L không trao đổi trực tiếp
với bà G chỉ làm việc thông qua bà H. Còn việc sau đó bà H và ông H chôn
trụ mốc giới hay không thì bà G không rõ.
Khi gần hết thời gian 30 ngày theo hợp đồng đặt cọc, Giáo gọi điện
thoại cho H đyêu cầu thực hiện việc chuyển tiền cho G để hai bên thc
hiện hợp đồng chuyển nhượng nhưng H nói G chsai vị trí đất nên không
mua nữa. Ban đầu ông L nói bây giờ muốn thương lượng muốn đổi lại không mua
thửa đất s176, tbản đsố 7 diện tích 559,8m
2
chuyển sang mua thửa đất
số 1180, tbản đồ s6, diện tích 559,0m
2
nằm trong xóm 9, địa chỉ: Thôn Độc
Lập, xã Tịnh Ấn Tây, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tuy nhiên hai bên
không thỏa thuận được gcG yêu cầu giá 500.000.000 đồng nhưng ông L
chtr400.000.000 đồng. Sau đó ông L không mua nữa nên yêu cầu bà G trả lại
tiền cọc 50.000.000 đồng, bà G trả lời là bà nhận cọc thay ông Đ, do đó bà G cho
ông L số điện thoại của ông Đ để ông L liên lạc với ông Đ chứ bà không quyn
quyết định vì đó đất của ông Đ. Sau khi bà nhận cọc bà đã rút tiền mặt số tin
7
cọc đưa cho ông Đ rồi nên bà không quyết định được.Bà H nói ông L muốn được
hoàn trả lại cọc, nhưng G nói chnhận tiền cọc thay cho em trai là ông Đ
nên không có quyền quyết định. Bà G cho bà H số điện thoại của ông Đ để bà H
trao đổi với ông Đ, nhưng bà H không liên lạc gì.
Tại Bản tự khai, Biên bản hòa giải, bà G không đồng ý với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông L, cụ thể: Không đồng ý trả tiền đặt cọc, bồi thường cọc và tiền
lãi theo yêu cầu của ông L, vì bà đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình,
bà đã dẫn bà H và người đàn ông không biết tên đi kiểm tra thửa đất và cho bà H
và người đàn ông không biết tên xem đầy đủ giấy tờ của thửa đất 176, tờ bản đồ
số 7, ông L đã xem kỹ, đọc và đồng ý với hợp đồng đặt cọc và chốt mua thửa đất
176 nên hai bên mới ký hợp đồng đặt cọc. Việc ông L không thực hiện hợp đồng
nên bị mất tiền cọc là lỗi do bên ông L không đi xem đất thực tế mà tin tưởng bà
H dẫn xem sai vị trí, không liên quan đến bà.
Tại phiên tòa ngày 08/9/2025, G đồng ý cùng với ông Đ hoàn trả cho
ông Nguyễn Quảng L stiền ông L đã đặt cọc 50.000.000 đồng. không chp
nhận bồi thường số tiền 100.000.000 đồng và tiền lãi theo yêu cầu của ông L. Bà
yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa đông L ông Đ thỏa thuận,
hòa giải.
Tuy nhiên, các bên không tthỏa thuận được với nhau nên tại phiên tòa
hôm nay bà không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
-Theo bản tự khai tại phiên toà nời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Trọng Đ người đại diện theo ủy quyền cho Thị Mỹ D trình
bày:
Ông Đ đồng ý với trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh G về nội dung
diễn biến vviệc nêu trên. Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Quảng L ông Đ
không đồng ý chấp nhận trả lại stiền đặt cọc 50.000.000 đồng, số tiền bồi thường
đặt cọc 100.000.000 đồng và tiền lãi theo yêu cầu của ông Nguyễn Quảng L.
Tại phiên tòa ngày 08/9/2025, ông Đ đồng ý cùng với G hoàn trả cho
ông Nguyễn Quảng L số tiền đã đặt cọc là 50.000.000 đồng và yêu cầu Hội đồng
xét xử tạm ngừng phiên tòa để bà G, ông và ông L thỏa thuận, hòa giải.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/03/2024 người làm chứng ông Trần
Văn N trình bày:
Ông nhờ Hồ ThH m mua đất BHK. Vào buổi chiều một ngày
khoảng đầu tháng 7 năm 2023 dương lịch H điện thoại bảo ông đi xem đt
khu vực xã Tịnh Ấn Tây, thành phố Quảng Ngãi. Đi xem đất cùng ông H
còn có một người thanh niên trẻ tuổi, người “hơi đậm người” đi cùng, nhưng ông
không biết họ tên và một người phụ nữ, H gii thiệu người phụ nữ này là bà G
chủ đất cần bán.
8
Bà G đưa các ông, bà đi xem 3 thửa đất mà bà muốn bán, thửa thứ nhất
chsâu, ông nghe giới thiệu gần nhà cha của bà H, thửa thứ 2 đối diện nhà
trẻ gần nhà G, thửa đất này G nói diện tích hơn 500m
2
và giá 650.000.000
đồng, thửa th3 khu vực đường dẫn cầu Thạch Bích. Khi đến xem đất khu
vực đường dẫn cầu Thạch Bích do đang làm đường nên các ông, không
đi đến tại thửa đất đxem được nên các ông,bà cùng đng bìa đường bên này
phía nhà bà G đi sang và bà G chỉ sang phía bìa đường bên kia nơi có thửa đất sát
bìa đường đang trồng cây hay còn gọi cây sắn nói bà muốn bán thửa
đất trồng y mì, ông hỏi diện tích giá cả thì G nói diện tích hơn 500m
2
giá 420.000.000 đồng, ông hỏi lại G tại sao thửa đất này sát đường
giá lại rẻ hơn thửa đất ở trong hẻm mà lúc nãy bà G đưa đi xem thì bà G nói thửa
đất trong hẻm đắt do khi bà mua của người ta đắt nên bán lại đắt. Bà G còn nói
thửa đất trồng mì này nằm cạnh quy hoạch khu dân cư nên bà có nhờ người kiểm
tra thông tin thì biết là sẽ bị lấy vào 50m.
Khi cùng xem đất thì chưa ai chốt bàn việc mua bán. Sau khi xem đất xong
thì bà G có đưa mọi ngưi về nhà bà G để xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, G đưa ra khoảng 3 đến 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông xem
qua thì thấy tên chủ đất G đều diện tích khoảng hơn 500m
2
. Ông
thấy người thanh niên kia cũng xem các giấy chứng nhận quyền sử dụng đt
do bà G đưa ra, ông có nói là có gì ông strả lời sau, rồi ông và bà H cùng người
thanh niên kia đi về.
Ông không chứng kiến không biết việc đặt cọc nhận chuyển nhượng đất
của ông L và bà G.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/03/2024 người làm chứng bà Hồ ThH
trình bày:
Ông Lnhờ bà tìm giới thiệu cho ông L một thửa đất để làm vườn trồng
cây kiểng với yêu cầu đất khu vực đường dẫn cầu Thạch Bích và thửa đất phải
sát đường đi để còn vận chuyển cây kiểng.
H đưa ông L một ngươì khách nữa tên N cũng muốn đi xem đất
để mua đi chung với bà cùng đến quán café của bà G, bà G đưavà ông N, ông
L đi xem đt ở 2 nơi trước thì không vừa ý, G đưa các ông, đến thửa đất thứ
3 đường dẫn cầu Thạch Bích, sát đường đi bà G chỉ đấy thửa đất của bà,
sau đó bà G đưa các ông, vnhà của bà G đxem giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (sổ đỏ).
G đã đưa cho ông L, ông N xem 1 giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thấy tên người sử dụng đất là Nguyễn Thị Ánh G trang bìa của
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà không xem nội dung bên trong của giấy
9
chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L ông N có xem nội dung bên trong giy
chứng nhận quyền sử dụng đất này, sau đó bà và ông N, ông L đi về.
Đến khoảng 10 giờ ngày 13/7/2023, bà cùng ông L, bà O đến nhà bà G để
đặt cọc. Khi nói chuyện, bà G nói bà là chính chủ của thửa đất này, khi bà nói để
viết hợp đồng đặt cọc thì G không cho, G đưa ra 1 tập mẫu hợp đồng
đặt cọc trong đó nội dung Hợp đồng đặt cọc G đã tviết sẵn từ trước, tờ
Hợp đồng đầu tiên bà G viết bằng bút bi mực màu xanh (liên 1), hai tờ sau (liên
2 và liên 3) bà G kê giấy cacbon (giấy than) để viết. Khi bà G đưa Hợp đồng đặt
cọc thì bà H, ông L, bà O đều có đọc ni dung Hợp đồng đặt cọc và ông Ltên
vào Hợp đồng đặt cọc rồi chuyển tiền đặt cọc cho Nguyễn Thị Ánh G, H
ký tên người làm chứng. Bà G xé 3 tờ Hợp đồng đặt cọc đã ghi và ký tên ra khỏi
tập giấy mẫu đưa cho ông L gibản gốc, bà G giữ bản liên 2 liên 3,
không giữ liên nào.
Khoảng mười mấy ngày sau thì ông L nhờ G mua trtông
thuê người đem trụ bê tông đến chôn cọc mốc giới phần đất nhận chuyển nhượng
của G, đchuẩn bị làm thủ tục công chứng. H đã nhờ ông Từ Văn H ch
06 trụ bê tông đến thửa đất sát đường mà bà G đã chỉ trước đó để chuẩn bị chôn
trụ, ông H đứng chờ ở tại thửa đất đó, còn bà đã điện thoại cho bà G đến chỉ mốc
giới thửa đất để chôn cọc tông theo yêu cầu của ông L, G nói bận nên nhờ
chồng của bà G đến chỉ cho ông H đem trụ bê tông đến chôn ở thửa đất khác mà
không phải thửa đất G đã chcho ông L, ông N trước đó, ông H đã
điện thoại nói với bà H là sao bà H biểu ông chở trụ đến bỏ thửa đất sát đường
nhưng chồng bà G lại chỉ biểu ông H đem trụ đến chôn ở thửa đất khác. Khi ông
H đã chôn được 3 trụ tông theo như chồng của G chỉ thì H mới đi tới
thửa đất, thấy không phải thửa đất G đã chỉ cho ông L nên không
đồng ý cho ông H tiếp tục chôn cọc mốc, bà H có điện thoại biểu bà G ra chỉ đất
thì bà nói bà bận, còn chồng của bà G bỏ đi về. Ngay lúc đó bà H điện thoại cho
ông L kể lại sviệc. Bà H và ông H đi về, các trụ bê tông còn bỏ tại thửa đất
chồng G chỉ, không đem về. Tiền mua cây trụ tông tiền thuê ông H đi
chôn trụ bà H là người chi trả.
Sau đó H đến gặp G hỏi tại sao chỉ đất không đúng, thì G nói
bà có chỉ thửa đt ở phía kia, tức là đứng thửa đất sát đường nhưng chỉ thửa đất
xa đường, bà H có nói lại tại sao G không dắt tới tận nơi thửa đất mà lại đứng
chnày chỉ đất chỗ kia thì G nói thôi đbán cho thửa đất khác, sau đó
bà G chỉ thửa đất khác do bà chính chủ với giá 520.000.000 đồng.
H ông L đến gặp bà G để giải quyết việc chuyển nhượng thửa đất,
nhưng hai bên không thoả thuận được giá do G đưa giá rất cao so với thị trường,
ông L trả giá 400.000.000đồng nhưng bà G không đồng ý, bà G nói nếu không lấy
thửa đất này thì bà sẽ không trả cọc.
10
H có nhắn tin trách bà G về việc làm sai trái của bà G. Sau đó sáng ngày
10/8/2023, ông L cùng bà H và bà O đến nhà bà G để nói về việc chuyển nhượng
đất thì bà G nói là bà đã chỉ đúng đất và bà không đồng ý trả lại tiền cọc cho ông
L. Chiều cùng ngày 10/8/2023 bà G nhắn tin cho bà H sđiện thoại của ông Đ
nói đã chuyển tiền cọc cho Đ, biểu H tự liên hệ với Đ, nhưng
không biết ông Đ ai nên có nhắn tin trả lời G không biết ai, bà chỉ
biết bà G.
- Tại bản tự khai ngày 25/03/2024 người làm chứng ông Từ Văn H trình
bày: Bà Hồ Thị H thuê ông đem trụ bê tông đến chôn cọc mốc giới tại thửa đt
gần đường dẫn cầu Thạch Bích ông Văn Q chồng G người chỉ ch
cho ông chở trtông đến btại thửa đất trồng cách xa đường rảnh cầu
Thạch Bích, Khi thấy ông Q chỉ thửa đất xa đường rảnh thì H nói lại
bữa đi coi bà G chỉ đt ở gần nhưng nay sao lại xuống dưới này, ông Q không nói
gì, bà H bđi về. Do không ai nói gì nên ông H vẫn tiếp tục đi chôn trụ tại thửa
đất ông Q chỉ. Khi ông H chở trđến chôn trụ thì không ông Q, H,
G. Chiều cùng ngày H bảo ông H nhổ trđem về nhưng ông H không nhổ. Bà
H có trả tin công cho ông H.
- Người làm chứng ông Lê Xuân Q không có văn bản trình bày nhưng ông
thống nhất sự việc diễn ra theo trình bày của Nguyễn Thị Ánh G tại biên bn
lấy lời khai ngày 20/03/2025.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi
phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên
đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng chưa thực hiện
đúng quyền, nghĩa vụ được quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 26,35, 91 Điều 147 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 127,, 134, 138, 328, 385 và Điều 401
của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Quảng L về việc tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 vô hiệu; yêu cầu bà
Nguyễn Thị Ánh G phải hoàn trả cho ông L số tiền cọc đã nhận là 50.000.000
đồng, khoản tiền bồi thường (hay gọi phạt cọc) 100.000.000 đồng, lãi phát
sinh tính từ ngày 13/8/2023 mức 1%/tháng của khoản tiền cọc 50.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TA N:
11
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đây vụ án u cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu”, bị đơn và bất động sản liên quan đến tranh chấp
có địa chỉ tại khu vực phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi, nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên toà ngày 05/8/2025, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn Thị Hoàng O có đơn xin hoãn phiên tòa, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Lê Thị Mỹ D vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ
luật Ttụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên toà
ngày 22/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng Đ có
đơn đề nghị hoãn phiên toà, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 08/9/2025, nguyên đơn, bđơn người quyền lợi,
nghĩa vliên quan yêu cầu Hội đồng xét xtạm ngừng phiên toà đthothuận
hoàn trả số tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng, nhưng nay các đương sự không thỏa
thuận với nhau được, vậy Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023
giữa Nguyễn Thị Ánh G ông Nguyễn Quảng L hiệu; Yêu cầu
Nguyễn Thị Ánh G phải hoàn trả cho ông L số tiền cọc đã nhận 50.000.000
đồng; Yêu cầu bà G bồi thường cho ông L 100.000.000 đồng; Yêu cầu bà G phải
trcho ông L khoản tiền lãi của số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng theo mức lãi suất
1%/tháng, thời gian tính tiền lãi kể từ ngày 13/8/2023 cho đến ngày hôm nay
19/9/2025 là 12.600.000 đồng.
Hội đồng xét xnhận thấy: Ông Nguyễn Quảng L trực tiếp đi xem đất, bà
G đã đưa ông L đến khu vực thửa đất cần chuyển nhượng (bán) đchỉ cho ông
L, nhưng ông L không yêu cầu G đưa đến tận nơi vị tthửa đất cần nhận
chuyển nhượng (mua), chưa xác định chính xác thửa đất cần nhận chuyển nhượng
vị trí nào đã quyết định mua là có một phần lỗi của ông L. G cũng một
phần lỗi khi không đưa ông L đến ngay vị trí thửa đất cần chuyển nhượng đch,
mà đứng từ xa chỉ, nên đã gây việc nhầm lẫn cho ông L.
Trước ngày hợp đồng đặt cọc ông L đã trực tiếp xem nội dung giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; trước khi ký hợp đồng đặt cọc thì bà Nguyễn Thị Ánh G
cũng đã đưa Hợp đồng đặt cọc cho ông Nguyễn Quảng L và bà Võ Thị Hoàng O
đọc kiểm tra nội dung hợp đồng đặt cọc, trong hợp đồng có ghi thửa đất số 176 tờ
bản đồ số 7, diện tích 559,8 m2, tại thôn Độc Lập, xã Tịnh Ấn Tây, thành phố
Quảng Ngãi, nhưng ông L và O không ai ý kiến gì, không yêu cầu G
cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đối chiếu, kiểm tra, mà ông L đã
đồng ý ký tên vào hợp đồng đặt cọc chuyển số tiền 50.000.000 đồng để đặt cọc
12
cho bà G, như vậy ông L cũng đã nhận chuyển nhượng thửa đất trên, nhưng sau
đó ông L không tiếp tục thực hiện nhận chuyển nhượng đối với thửa đất trên là
một phần lỗi của ông L.
Thửa đất số 176 tbản đồ số 7, diện tích 559,8 m2, tại thôn Độc Lập,
Tịnh Ấn Tây, thành phố Quảng Ngãi có tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Trọng Đ,
nhưng tại Hợp đồng đặt cọc ở mục “Bên bán (Bên A)” có ghi tên người bán là bà
Nguyễn Thị Ánh G; Tại mục “Cam kết chung” ghi Bên A cam kết tài sản trên
thuộc quyền sở hữu của mình” làm cho bên ông L, O nhầm lẫn cứ ởng là đất
chính chủ.
Thửa đất số 176 hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông Nguyễn Trọng
Đ nên thuộc quyền định đoạt của ông Nguyễn Trọng Đ và vợ là bà Lê Thị Mỹ D,
vào ngày 11/7/2023 ông Nguyễn Trọng Đ viết giấy ủy quyền cho Nguyễn
ThÁnh G với nội dung ủy quyền cho G viết nhận tiền hợp đồng đặt cc
tiền đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tha
số 176, tbản đsố 7. Giấy ủy quyền này không sự y quyền của Lê Thị
Mỹ D (không có chứng thực, công chứng), nhưng bà Nguyn Thị Ánh G đã đứng
tên người bán trong hợp đồng đặt cọc, việc này đã tạo nên sự nhầm lẫn làm cho
các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch.
[2.2] Nguyễn Thị Ánh G đứng tên mục người bán tại Hợp đồng đặt
cọc, ông Nguyễn Quảng L đặt cọc trực tiếp s tiền 50.000.000 đồng cho
Nguyễn ThÁnh G, do đó người chịu trách nhiệm đối với số tiền 50.000.000 đồng
này là bà Nguyễn Thị Ánh G, chứ không phải là ông Nguyễn Trọng Đ.
[2.3] Từ những phân tích mục [2.1], Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn
cứ tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 giữa bên bán: bà Nguyễn Thị Ánh
G và bên mua Nguyễn Quảng L, đối với thửa đất Thửa đất số 176 tờ bản đồ số 7,
diện tích 559,8 m
2
, tại thôn Độc Lập, Tịnh Ấn Tây, thành phố Quảng Ngãi
vô hiệu, theo quy định tại Điều 122, Điều 123, Điều 126 của Bộ luật Dân sự.
[3] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Như đã phân tích ở mục [2], vì Hợp
đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 giữa bà Nguyễn Thị Ánh G và ông Nguyễn Quảng
L vô hiệu do bnhầm lẫn, ông L bà G đều lỗi dẫn đến hợp đồng đặt cọc ngày
13/7/2023 không thực hiện được. Do đó, theo quy định tại Điều 131 của Bộ lut
Dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự sự của các bên kể từ thời điểm gia dịch được xác lập, các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bà Nguyễn
ThÁnh G đã nhận của ông Nguyễn Quảng L số tiền 50.000.000đồng tiền cọc nên
Nguyễn Thị Ánh G phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Quảng L s tin
50.000.000 đồng này.
Như đã phân tích mục [2], Hợp đồng đặt cọc ngày 13/7/2023 giữa
Nguyễn Thị Ánh G và ông Nguyễn Quảng Lhiệu, có một phần lỗi của ông L.
Do đó, không sở chấp nhận yêu cầu của ông L về vic yêu cầu bà Nguyễn
ThÁnh G bồi thường cho ông Long 100.000.000 đồng khoản tiền lãi của số
tiền đặt cọc 50.000.000 đồng theo mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 13/8/2023
cho đến nay 19/9/2025 là 12.600.000 đồng.
13
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi về
việc giải quyết vụ án không phợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
không được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Quảng L phải chịu án phí đối với phần không
được Tòa án chấp nhận (100.000.000 đồng tiền phạt cọc + 12.600.000 đồng
tiền lãi) x 5% = 5.630.000 đồng theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội được
khấu trừ vào số tiền 3.757.000 đồng ông L đã nộp tạm ứng tại Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006941 ngày 26/9/2023 của Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Quảng Ngãi (nay Phòng Thi hành án dân skhu vực 1
Quảng Ngãi), do đó ông Nguyễn Quảng L còn phải nộp 1.873.000 đồng tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị
đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của phần được Tòa án chấp nhận cho nguyên
đơn theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, cụ thể tiền án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải nộp (50.000.000 đồng
x 5%) = 2.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 144, Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 123, Điều 126, Điều 131 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Quảng Long.
1.1. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ghi ngày 13 tháng 07 năm 2023 gia ông
Nguyễn Quảng L và bà Nguyễn Thị Ánh G vô hiệu.
1.2. Buộc bị đơn Nguyễn Thị Ánh G phải hoàn trả cho ông Nguyễn
Quảng L số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quảng L vvic yêu cầu
Nguyễn Thị Ánh G phải trả cho ông Nguyễn Quảng L số tiền phạt cọc
100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) khoản tiền lãi của số tiền đặt cọc
50.000.000 đồng theo mức lãi suất 1%/tháng, thời gian tính tiền lãi ktừ ngày
13/8/2023 cho đến hôm nay 19/9/2025 12.600.000 đồng (mười hai triệu sáu
trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
14
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác;
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Quảng L phải chịu 5.630.000 đồng tiền án phí
nhưng được khấu trừ vào số tiền 3.757.000 đồng ông L đã nộp tạm ứng tại
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006941 ngày 26/9/2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 1 Quảng Ngãi), do đó ông Nguyễn Quảng L còn phải nộp 1.873.000
đồng (một triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn Nguyễn Thị Ánh G phải chịu án phí n sự thẩm 2.500.000
đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
4. Đương sự, người đại diện có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự, người đại diện vắng mặt tại
phiên toà quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản
án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tnh Qung Ngãi;
- VKSND khu vc 1-Qung Ngãi;
- THADS tnh Qung Ngãi;
- Đương sự; người đại din;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Đã ký
Nguyễn Văn Thu
15
16
CC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHN- CHỦ TỌA PHIÊN TA
Nguyễn ThThanh Nguyễn Thị Bình Nguyễn Văn Thu
17
Tải về
Bản án số 44/2025/DS-ST Bản án số 44/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2025/DS-ST Bản án số 44/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất