Bản án số 44/2023/KDTM-PT ngày 24/05/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2023/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 44/2023/KDTM-PT ngày 24/05/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 44/2023/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/05/2023
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
—————————
Bản án số: 44/2023/KDTM-PT
Ngày: 24 - 5 - 2023
V/v: “Tranh chấp về quyền sở hữu trí
tuệ”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Hà Huy Cầu
- Thư phiên tòa: Trần Thị Kim Yến Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Việt Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh
thương mại thụ số: 86/2022/TLPT-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2022 về
việc “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ”.
Do bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 13/2022/KDTM-ST ngày
07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm s: 651/2023/-PT
ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: L;
Địa chỉ: Cộng hòa Pháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Duy L1, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ : Phòng số 5, Tầng 15, Tòa nhà H, số 4A L, phường T, quận B,
thành phố Hà Nội.
Người đại diện ủy quyền lại:
1/Ông Bạch Hoàng G, sinh năm 1990 (có mặt);
Địa chỉ: Tầng 9, Tòa nVăn phòng Tổng Công ty 789, số 147 đường H,
phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
2
2/Bà Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tầng 9, Tòa nVăn phòng Tổng Công ty 789, số 147 đường H,
phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ;
Địa chỉ: M7A, đường D17, Khu công nghiệp M, phường T, thị B,
tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
1/Ông Vũ Tuấn L2 (có mặt);
Địa chỉ liên lạc: Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ; địa chỉ: M7A, đường
D17, Khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
2/Từ Thị Hồng H3 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tầng 5M Tòa nhà H, số 1 N, phường N, quận T, thành phố
Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
1/Luật sư Phan Thị Lam H3 Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (vắng mặt).
2/Luật Nhâm Mạnh H4 Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại phiên tòa thẩm, người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn L trình bày:
Nguyên đơn L (sau đây viết tắt S) yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ chấm dứt hành vi xâm
phạm quyền sáng chế được bảo hộ theo Điểm 1 của Yêu cầu bảo hộ, bao gồm
nhưng không giới hạn hành vi sản xuất, nhập khẩu, khai thác công dụng, lưu
thông, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, chào hàng và tàng trữ để lưu thông sản
phẩm xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 7181 của nguyên đơn, bao gồm
nhưng không giới hạn bởi các sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg)
Nisten - F (Ivabradine 7.5mg).
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thu hồi toàn bộ các sản
phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã phân
phối trên thị trường; đồng thời tiêu hủy toàn bộ sản phẩm thuốc Nisten
(Ivabradine 5mg), Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã thu hồi cũng như còn tồn
kho các nguyên, vật liệu được sử dụng để sản xuất hoặc kinh doanh các sản
phẩm xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 7181.
3
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ tiến hành thủ tục rút số
đăng VD-20362-13 đối với sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) số
đăng ký VD-21061-14 đối với sản phẩm thuốc Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) tại
Cục quản lý Dược - Bộ Y tế.
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần ợc phẩm Đ bồi thường thiệt hại cho
nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng theo điểm c khoản 1 Điều 205 Luật S
hữu trí tuệ.
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thanh toán chi phí hợp
trị giá 300.000.000 đồng nguyên đơn bỏ ra để thuê Luật sư bảo vquyền
lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nhằm chống lại hành vi xâm phạm.
- Buộc bđơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải xin lỗi nguyên đơn
cải chính công khai trên tạp chí Dược Mỹ phẩm; tạp cKhoa học và Đời
sống Báo Thanh niên trong 03 kỳ liên tiếp về các hành vi xâm phạm quyền
đối với sáng chế.
Lý do:
- Thứ nhất: Bằng độc quyền sáng chế số 7181 của nguyên đơn đã và đang
có hiệu lực:
Nguyên đơn là chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế số 7181, là một trong
những tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới. Với vị trí như vậy, S luôn chú
trọng đến công tác nghiên cứu phát triển và hiện đang sở hữu rất nhiều bằng độc
quyền sáng chế trên toàn cầu.
Ivabradin Hydroclorua (tên quốc tế (INN) Ivabradine Hydrochloride)
các đối tượng liên quan đã được bảo hộ độc quyền sáng chế một trong số
những sáng chế quan trọng nhất của S. Ivabradin chất làm giảm chuyên biệt
nhịp tim. Tác dụng trên tim của thuốc đặc hiệu với nút xoang mà không ảnh
hưởng tới thời gian dẫn truyền trong nhĩ, trong nhĩ-thất, stái cực thất hoặc co
cơ tim.
Tại Việt Nam, S chsở hữu của nhiều quyền sở hữu trí tuệ liên quan
đến hợp chất Ivabradin Hydroclorua, bao gồm nhưng không giới hạn bởi Bằng
độc quyền sáng chế số 7181. Bằng độc quyền sáng chế số 7181 thời hạn bảo
hộ đến hết ngày 15 tháng 02 năm 2026, bảo hộ bao gồm nhưng không giới hạn
cho các đối tượng sau đây: Hợp chất Ivabradin Hydroclorua dạng tinh thể
gamma, quy trình điều chế và dược phẩm chứa nó.
Phạm vi bảo hcủa sáng chế được xác định theo 6 điểm yêu cầu bảo hộ,
trong đó 5 điểm độc lập (Điểm 1, 2, 4, 5, 6) 1 điểm phụ thuộc (Điểm 3).
Đối tượng được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 7181 bao gồm nhưng
không giới hạn hợp chất Ivabradin Hydroclorua dạng tinh th gamma, quy
trình điều chế và dược phẩm chứa nó.
Theo quy định của pháp luật, S độc quyền sử dụng và ngăn cấm người
khác sử dụng các sáng chế đang được bảo hộ (Khoản 1 Điều 125 Luật Sở hữu trí
4
tuệ). Phạm vi quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế được quy định
tại khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ, theo đó sdụng sáng chế bao gồm
nhưng không giới hạn bởi việc sản xuất, nhập khẩu, khai thác công dụng, lưu
thông, bán, vận chuyển, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm
được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ.
Chiếu theo các quy định pháp luật nêu trên, mọi hành vi sử dụng sáng chế
đang được bảo hộ của S không được phép của S với cách chủ sở hữu
được coi hành vi xâm phạm quyền đối với các sáng chế đang được bảo hộ
(khoản 1 Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ).
- Thứ 2: Bị đơn phải chấm dứt hành vi xâm phạm quyền đối với Bằng độc
quyền sáng chế số 7181 (yêu cầu khởi kiện số 1):
+ Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế:
Nguyên đơn chủ sở hữu của Bằng độc quyền sáng chế số 7181. Do đó,
nguyên đơn được độc quyền sdụng sáng chế, ngăn cấm người khác sử dụng
sáng chế và định đoạt đối với sáng chế.
Trong vụ việc này, trong khi chưa được sự cho phép của nguyên đơn, bị
đơn đã tiến hành sản xuất, lưu thông, buôn bán, vận chuyển, quảng o, chào
hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg)
Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) chứa hoạt chất Ivabradin Hydroclorua dạng
tinh thể gamma được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 7181. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi nêu trên của bị đơn
hành vi sử dụng sáng chế.
Sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine
7.5mg) chứa hoạt chất Ivabradine cùng tên gọi, trùng công thức cấu tạo với
hoạt chất Ivabradin Hydroclorua dạng tinh thể gamma được bảo hộ của Bằng
độc quyền sáng chế số 7181. Thông qua phân tích bột nhiễu xạ tia X và ý kiến
chuyên môn của GS.TS Gerard Coquerel tại Đại học Rouen, Pháp thì sản phẩm
thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) chứa hoạt chất Ivabradine cấu tạo hóa học
trùng với cấu tạo hóa học của hợp chất được bảo hộ theo Điểm 1 của Bằng độc
quyền sáng chế số 7181. Ngoài ra, hoạt chất trong sản phẩm thuốc Nisten
(Ivabradine 5mg) cũng dạng tinh thể gamma trùng với dạng tinh thế của hoạt
chất Ivabradine được bảo hộ theo Điểm 1 của Bằng độc quyền sáng chế số 7181.
Bên cạnh đó, theo ghi nhận trong phần Chỉ định của Tờ hướng dẫn sử
dụng thuốc thì sản phẩm thuốc Nisten được dùng để điều trị chứng đau thắt ngực
ổn định mãn tính. Như vậy, sản phẩm thuốc Nisten chung mục đích sử dụng
với sáng chế đang được bảo hộ tại Bằng độc quyền sáng chế số 7181 đều
sản phẩm được dùng để điều trị/phòng ngừa các triệu chứng của bệnh tim mạch.
Trong vụ việc này, bị đơn cho rằng sản phẩm thuốc Nisten chứa hoạt
chất Ivabradin Hydroclorua dưới dạng bột vô định hình là không chính xác. Trên
thực tế, hoạt chất Ivabradin Hydroclorua trong thuốc Nisten dạng tinh thể
gamma, trùng với sáng chế đang được bảo hộ tại điểm 1 Yêu cầu bảo hcủa
5
Bằng độc quyền sáng chế số 7181. Phòng thí nghiệm của Đại học Rouen, một
trong những phòng thí nghiệm thuốc hàng đầu thế giới, đạt tiêu chuẩn chứng
nhận Châu Âu được phê chuẩn mã số EA 3233 bởi Bộ Nghiên cứu của Pháp,
đã thực hiện kiểm nghiệm thuốc Nisten do bị đơn sản xuất. Phòng thí nghiệm đã
sử dụng phương pháp nhiễu xạ tia X, một phương pháp hiện đại bậc nhất hiện
nay, để xác định rằng hoạt chất Ivabradin Hydroclorua trong thuốc Nisten
dạng tinh thể gamma chứ không phải dạng định hình. Do đó, sản phẩm
thuốc Nisten yếu tố xâm phạm quyền đối với Bằng độc quyền sáng chế số
7181. Ngoài ra, S xin lưu ý bị đơn đưa ra nhận định rằng sản phẩm thuốc Nisten
chứa hoạt chất Ivabradin Hydroclorua dưới dạng bột định hình mà không
hề đưa ra bất cứ bằng chứng xác đáng nào chứng minh cho vấn đề này. Do đó,
nhận định của bị đơn là hoàn toàn vô căn cứ.
Ngày 26/9/2016, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã ra Kết luận
giám định số SC015-16YC/KLGĐ với nội dung khẳng định sản phẩm thuốc
Nisten là yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế đang được bảo htại u
cầu bảo hộ số 1 của Bằng độc quyền sáng chế số 7181.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP
của Chính phủ, khoản 1 Điều 16 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006
của Chính phủ, Điều 11 Thông s11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 thì
sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) bị
coi yếu tố xâm phạm quyền đối với Bằng độc quyền sáng chế s7181 của
nguyên đơn.
Do đó, hành vi sản xuất, lưu thông, bán, quảng cáo, tàng trữ để lưu thông
sản phẩm thuốc nêu trên của bị đơn là hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế
đang được bảo hộ của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Sở
hữu trí tuệ. Căn cứ theo khoản 1 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ, bị đơn phải chấm
dứt các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, bao gồm nhưng không giới
hạn bởi hành vi sản xuất và phân phối sản phẩm thuốc Nisten - F và Nisten.
+ Việc được cấp số đăng lưu hành không nghĩa sản phẩm Nisten
không xâm phạm quyền sở hữu t tuệ đối với Bằng độc quyền sang chế số
7181:
Quy định của pháp luật về vấn đđã nêu rất ràng, theo đó sở đăng
thuốc chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ của thuốc
đăng lưu hành. Cục Quản Dược không chịu trách nhiệm về vấn đề sở hữu
trí tuệ khi thực hiện việc đăng ký lưu hành thuốc.
Cụ thể, Điều 14 Thông số 22/2009/TT-BYT (“Thông 22”), thông
tư có hiệu lực tại thời điểm đăng ký lưu hành thuốc Nisten, quy định rằng:
“Điều 14. Nguyên tắc chung
1. sở đăng thuốc chu trách nhim v các vấn đề liên quan đến s
hu trí tu ca thuốc đăng ký lưu hành.
6
2. B Y tế khuyến khích các sở đăng thuc xác lp các quyn v s
hu trí tu hoc tiến hành tra cứu các đối tượng s hu trí tu liên quan
trước khi đăng ký lưu hành thuốc ti Vit Nam.
3. Trường hp tranh chp v s hu trí tu trong khi xem xét cp s
đăng ký, bên phản đối vic cp s đăng ký cho thuốc có tranh chp v s hu t
tu phi cung cp kết lun của cơ quan quảnnhà c v s hu trí tu hoc
quan chức năng thc thi quyn s hu trí tu v hành vi xâm phm. B Y
tế s t chi cp s đăng lưu hành cho thuốc đó nếu đủ sở để khng
định thuốc khi được cp s đăng lưu hành sẽ xâm phm quyn s hu trí tu
của cá nhân, cơ sở khác đang được bo h.
4. Trường hp tranh chp v s hu trí tu sau khi đã cp s đăng
lưu hành, trên s xem xét đề ngh ca ch th quyn s hu trí tu hoc bên
th ba lợi ích liên quan căn cứ vào phán quyết ca Tòa án hoc kết lun
cui cùng của quan quản nhà nước v s hu trí tu hoặc quan chức
năng thực thi quyn s hu trí tu v hành vi xâm phm, B Y tế s quyết định
đình chỉ hoc rút s đăng lưu hành đối vi thuc b kết lun m phm
quyn s hu trí tuệ.”.
Điều 13 Thông số 44/2014/TT-BYT, là thông thay thế Thông 22,
cũng có quy định tương tự như quy định nêu trên của Thông tư 22.
Như vậy, khi np h sơ xin đăng ký lưu hành thuc, ch th đăng phải
t chu trách nhim v các vấn đề liên quan đến s hu trí tu c trong quá trình
đăng ký lẫn sau khi sn phm thuốc đã được cp s đăng ký lưu hành. Cc Qun
Dược ch gii quyết hu qu ca v vic xâm phm s hu trí tu đối vi sn
phm thuc tùy theo tng tình hung c th khi quyết định, kết lun của
quan có thm quyn v s hu trí tu (Tòa án hoc Thanh tra Khoa hc và Công
ngh). Trong những trường hp này, h xin đăng thuc th b t chi
cp s lưu hành hoặc giấy phép lưu hành thuốc đang tồn ti th b đình chỉ
hoc rút s đăng ký.
Pháp lut s hu trí tu là pháp lut chuyên ngành nên v nguyên tc phi
áp dụng các quy định ca pháp lut s hu trí tu để gii quyết các tranh chp
liên quan đến s hu trí tuệ. Điều 5 Lut S hu ttu 2005, sửa đổi b sung
năm 2009 cũng quy định rng: “trong trường hp s khác nhau gia quy
định v s hu trí tu ca Lut này với quy định ca lut khác thì áp dng quy
định ca Luật này”.
Theo Điều 2 Lut S hu trí tu thì Lut S hu trí tu áp dng cho mi
t chc, nhân Việt Nam cũng như tổ chức, nhân nước ngoài. Pháp lut s
hu trí tu, c th Điều 9 Lut S hu trí tu, yêu cu các cá nhân t chc
trách nhim tôn trng quyn s hu trí tu ca t chức, nhân khác. Như
vy, mi cá nhân, t chc, bao gm c b đơn trong v án này là Công ty Đ phi
nghĩa vụ tôn trng quyn s hu trí tu nói chung quyền đối vi sáng chế
đưc bo h ti Bằng độc quyn sáng chế s 7181 ca S nói riêng.
7
Căn cứ theo Điều 14 Thông tư số 22, Công ty Đ phi t chu hoàn toàn
trách nhim v các vấn đề liên quan đến s hu trí tuệ. Cho đến hin nay, Bng
độc quyn sáng chế s 7181 vẫn đang hiệu lc trên toàn lãnh th Vit Nam.
Do đó, việc được Cc Quản Dược cp s đăng lưu nh thuốc ch liên
quan đến vic phê duyt, cp phép của quan chức năng về tính an toàn, hiu
qu ca sn phm mà không, trong bt k trường hp nào, bao gm c các khía
cnh v s hu trí tu ca sn phm nói chung và ca thuc Nisten ca Công ty
Đ nói riêng.
- Th ba: B đơn phải thu hi tiêu hy toàn b các sn phm thuc
Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) được thu hi còn
tn; tiêu hy các nguyên liu, vt liệu cũng như các các phương tin chính
đưc s dụng đ sn xut và/hoc kinh doanh các sn phm xâm phm Bng
độc quyn sáng chế s 7181 (liên quan đến yêu cu khi kin s 2):
Căn cứ theo khoản 5 Điều 202 ca Lut S hu trí tu và c khon 1
Điều 29 và Điều 31 Ngh định s 105, toàn b sn phm thuc toàn b sn phm
thuc Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg), các nguyên
liu, vt liệucác phương tiện chính khác đ sn xut và kinh doanh sn phm
thuc Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg), bao gm
nhưng không giới hn bi nguyên liu thuc, màng nhôm, v thuốc, hướng dn
s dng, hp thuc, tài liệu kinh doanh, đều phải được tiêu hủy dưới s chng
kiến của nguyên đơn cũng như các cơ quan chức năng có thẩm quyn.
- Th 4: B đơn phi rút s đăng các sản phm thuc Nisten
(Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) ti Cc Quản Dược (liên
quan đến yêu cu khi kin s 3):
Căn cứ theo Quyết định s 414/QĐ-QLD ngày 27/12/2013 Quyết định
s 296/QĐ-QLD ngày 12/06/2014 ca Cục trưởng Cc quản Dược thì b đơn
đã đăng ký sn phm thuc Nisten (Ivabradine 5mg) theo s đăng VD-
20362-13 s đăng ký VD-21061-14 đi vi sn phm thuc Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) vi Cc Qun lý Dược.
Căn c theo quy định tại các Điều 13.4, 32.6, 33.2 Thông s
44/2014/TT-BYT ngày 25/11/2014, để bo v quyn li ích hp pháp ca
nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu b đơn rút hoặc hy b hai đăng thuốc nêu
trên do hai sn phm này là yếu t m phm quyn s hu trí tu. Bên cạnh đó,
nguyên đơn cũng yêu cu b đơn không được đăng ký bt k loi thuc nào xâm
phm quyền đối vi sáng chế đang được bo h ti Bằng độc quyn sáng chế s
7181 trong thi hn bo h ca sáng chế này.
- Th 5: B đơn phi bồi thường thit hi v vt chất cho nguyên đơn (liên
quan đến yêu cu khi kin s 4):
Hành vi xâm phm Bằng độc quyn sáng chế s 7181 ca b đơn đã, đang
s gây ra thit hại trong tương lai về vt chất cho nguyên đơn với cách
ch s hu Bng độc quyn sáng chế s 7181. Các thit hi trên bao gm các
8
tn tht v tài sn, mc gim sút v thu nhp li nhun, tn tht v hội
kinh doanh cũng như các chi phí khác nguyên đơn phi gánh chịu để ngăn
chn và khc phc thit hi.
Nhìn chung, các thit hi của nguyên đơn không thể định lượng, không
th khc phc không th đắp được. Tuy nhiên, không ảnh hưởng đến yêu
cu này và cho các mục đích của yêu cầu này, nguyên đơn yêu cầu b đơn phải
bồi thường thit hại cho nguyên đơn, bao gồm các thit hi sau:
+ Thit hi vt cht gây ra bi vic sn xut phân phi các sn phm
thuc Nisten và Nisten-F ra th trường;
+ Thit hi vt chất nguyên đơn đã phải b ra để ngăn chặn các thit
hi gây ra bi hành vi xâm phm quyền trước khi khi kin, bao gồm chi phí để
x lý v việc trước Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
+ Thit hi vt cht gây ra s vic gim sút li nhun tn tht v
hi kinh doanh; và
+ Các thit hi phát sinh khác, d như nếu nguyên đơn buộc phi gim
giá thành các sn phm ca mình nếu B đơn lưu hành các sản phm vi phm.
T nhng thông tin công khai trên các website ca các S Y Tế, nguyên
đơn đã biết được b đơn đã sản xut và cung cp s ng thuốc Nisten như sau
cho mt s S Y Tế:
STT
S Y Tế
Thuc
S ng
thuc
Nisten
(viên)
Đơn giá
ng)
Năm
1
Bà Ra
Vũng Tàu
NISTEN
22000
3149
Năm
2016
NISTEN-F
15000
6290
2
Bình
Phước
NISTEN
15500
3149
NISTEN-F
30500
6290
3
Bc Ninh
NISTEN
5000
3880
4
Hà Nam
NISTEN
45000
3150
5
Long An
NISTEN
26500
3490
6
Đắc Nông
NISTEN
500
3200
9
NISTEN-F
500
6390
7
Thanh Hóa
NISTEN
7300
3180
8
Sóc Trăng
NISTEN
2000
3149
NISTEN-F
50000
6290
9
Hưng Yên
NISTEN
8000
3150
10
Bình
Dương
NISTEN
10000
3390
11
An Giang
NISTEN
24500
3149
NISTEN-F
3500
6290
12
Ninh
Thun
NISTEN-F
50000
6290
13
Tin Giang
NISTEN
55200
3149
NISTEN-F
12000
6290
14
Sơn La
NISTEN-F
21500
7000
15
Đồng Tháp
NISTEN
12000
3149
16
Đắc Lc
NISTEN
150
3290
Năm
2017
17
Ninh
Thun
NISTEN-F
50000
6290
18
Đồng Tháp
NISTEN
12000
3149
19
H Chí
Minh
NISTEN
40950
3145
NISTEN-F
45500
6290
Như vậy, b đơn đã sản xut thuc Nisten vi phạm đ cung cấp cho các
s y tế trong 19 tnh thành nêu trên vi tng giá tr 2.233.609.550 đồng (bng
ch: Hai t hai trăm ba mươi ba triệu sáu trăm không chín nghìn năm trăm m
mươi đồng). Trên đây là những thông tin mà nguyên đơn biết được t năm 2016
đến năm 2017. Rất th, b đơn còn cung cấp ra th trường cũng như cho các
10
S Y tế các tnh, thành ph khác mt s ng ln thuc Nisten vi phm. Nếu
không sn phm thuc ca b đơn thì nguyên đơn đã th cung cp sn
phm ca mình cho các S Y tế các bnh vin trên c c bi nguyên
đơn người duy nht nm gi Bằng độc quyn sáng chế s 7181 bo h cho,
cùng vi những đối tượng khác, Ivabradin Hydroclorua dng tinh th gamma.
Như vậy, tính b, thit hi vt cht của nguyên đơn trong việc cung cp sn
phm ra th trường có th lên đến hàng t đồng.
Hiện nay, nguyên đơn đang tiếp tc thu thp bng chng v các thit hi
nêu trên cũng giám sát liên tc các hành vi vi phạm đang s xy ra trong
tương lai của b đơn. Nguyên đơn sẽ tiếp tc n lc thu thp thông tin và tài liu
cn thiết để chng minh các thit hi phát sinh t vic xâm phm quyền đối vi
sáng chế. Với tình hình như vậy, ti thời điểm này, căn cứ vào điểm c khon 1
Điu 205 Lut S hu trí tuệ, nguyên đơn yêu cầu b đơn phải bồi thường thit
hại cho nguyên đơn với s tiền 500.000.000 đồng (bng chữ: năm trăm triu
đồng chn).
Nguyên đơn sẽ yêu cầu tăng mức bồi thường thit hại trên s các
chng c mới được thu thp và/hoc hành vi xâm phm tiếp tc hoc s din ra
trong tương lai của b đơn.
- Th 6: B đơn phải bồi thường chi phí hợp nguyên đơn đã bỏ ra
để thuê luật sư (liên quan đến yêu cu khi kin s 5):
Bên cnh các thit hi vt chất nguyên đơn như đã nêu, do hành vi
xâm phm quyn ca b đơn, nguyên đơn đã phi b ra ít nht 300.000.000
đồng đ thuê Luật bảo v quyn li ích hp pháp ca mình trong v án
này.Theo quy định ti khoản 3 Điu 205 Lut S hu trí tuệ, nguyên đơn yêu
cu b đơn phải thanh toán khon chi phí hợp 300.000.000 đồng chn
nguyên đơn đã phải b ra để thuê Luật sư.
- Th 7: B đơn phải xin li công khai nguyên đơn hành vi xâm phm
quyền (liên quan đến yêu cu khi kin s 6):
Hành vi xâm phm quyền đối vi sáng chế thc hin bi b đơn không
nhng trc tiếp gây thit hi ln v vt chất cho nguyên đơn mà n ảnh hưởng
đến uy tín và danh tiếng ca nguyên đơn vớicách là chủ s hu hp pháp ca
Bằng đc quyn sáng chế s 7181. Do đó, theo quy định ti khoản 2 Điều 202
Lut S hu trí tuệ, nguyên đơn yêu cầu b đơn phải xin li công khai nguyên
đơn trên các phương tiện thông tin đại chúng, c th là đăng li xin li công khai
trên Tạp chí Dược M phm, Tp chí Sc khỏe Đời sng và báo Thanh
niên trên ba s báo liên tiếp v hành vi xâm phm quyn.
* Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp
pháp của bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ trình bày:
Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ (sau đây gọi tắt Công ty Đ) cho rằng
các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn không căn cứ, không
đúng quy định pháp luật, bởi các lý do sau:
11
Thứ nhất: Sản phẩm Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine
7.5mg) của ng ty Đ đã được đăng ký, sản xuất, u nh theo đúng quy định
pháp luật đã được Cục quản Dược - Bộ Y tế cấp phép lưu hành thuốc.
Công ty Đ được thành lập hoạt động từ năm 2004, trong suốt quá trình
hoạt động, sản xuất kinh doanh, Công ty luôn tuân thủ, chấp hành các quy định
pháp luật thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Không những tạo nguồn
công việc ổn định cho người dân, góp phần thúc đẩy kinh kế của tỉnh Bình
Dương nói riêng đất nước nói chung, Công ty còn những đóng góp trong
việc giảm nhẹ nỗi lo về bệnh tật gánh nặng tài chính cho người bệnh với
những sản phẩm thuốc có chất lượng và hiệu quả điều trị cao.
Để được lưu hành sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg), Công ty Đ đã tiến hành đăng theo quy định pháp luật
được Cục quản Dược - Bộ Y tế cấp Giấy phép lưu hành sđăng VD-
20362-13 đối với sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) số đăng VD-
21061-14 đối với sản phẩm thuốc Nisten - F (Ivabradine 7.5mg).
Như vậy, trong suốt quá trình nghiên cứu, đăng ký, sản xuất lưu hành
sản phẩm thuốc, ng ty Đ đã thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý theo quy định
pháp luật, các sản phẩm thuốc mang tên Nisten đã được quan nhà nước
thẩm quyền cấp Giấy phép lưu hành.
Thứ hai: Sản phẩm Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine
7.5mg) của Công ty Đ không vi phạm bằng độc quyền sáng chế 7181 của Công ty
L:
- Mt là, hot cht Ivabradin hydroclorua trong sn phm Nisten (Ivabradine
5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) Công ty Đ s dng dng bột đnh hình
(amorphous poweder form) ch kng phi là dng tinh th gama.
n c theo quy định ti khon 1 Điều 8 Ngh đnh s 105/2006/NĐ-CP
ngày 22/9/2006 quy định chi tiết ng dn thi nh mt s điu ca Lut S
hu trí tu v bo v quyn s hu trí tu quản lý n c v s hu trí tu thì
yếu tm phm quyền đi ving chế thuc mt trong các dng sau đây:
- Sn phm hoc b phn (phn) sn phm trùng hoặc ơng đương với
sn phm hoc b phn (phn) ca sn phm thuc phm vi bo h sáng chế;
- Quy trình trùng hoc ơng đương với quy trình thuc phm vi bo h
ng chế;
- Sn phm hoc b phn (phn) ca sn phẩm đưc sn xut theo quy tnh
trùng hoc tương đương với quy trình thuc phm vi bo hng chế”.
N vậy, để khẳng định mt sn phm có yếu t m phm quyền đối vi
ng chế hay không t phi xem xét sn phm, b phn ca sn phm, quy tnh
sn xuất trùng hay ơng đương với sn phm hoc b phn, quy trình thuc
phm vi bo h ng chế hay kng.
12
Theo ni dung Bng độc quyn ng chế 7181 thì phm vi bo h ca ng
chế “Hp cht Ivabradin Hydroclorua dng tinh th gama, quy trình điều chế và
c phm chứa ”. Trên thc tế, Ivabradin hydroclorua rt nhiu dng kết
tinh n α, β, βd, γ, γd, δ, δd, hoặc dng định hình tùy thuco quy trình tng
hp và tinh chế hot chấty và cũng được bo h bng nhiu patent EP. Qua vic
tra cu thông tin trên trang web http://iplib.noip.gov.vn/WebUI/Wlogin.php cho
thy hot chất Ivabradin hydroclorua đã được đăng ký bo h rt nhiu như
Ivabradin hydroclorua dng tinh th β, Ivabradin hydroclorua dạng tinh th βd...
N vậy, cùng dng tinh th nhưng hot cht Ivabradin hydroclorua đưc xem
t bo h tùy thuco dng kết tinh ca nó.
Đi chiếu vi sn phm Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine
7.5mg) do Công ty Đ sn xut, theo kết qu th nghim hot cht Ivabradin
hydroclorua do Trung tâm Dch v phân tích t nghim Thành ph H Chí Minh -
S Khoa hc ng ngh Tnh ph H Chí Minh cung cp thì hot cht cht
Ivabradin hydroclorua Công ty Đ s dng dng bột định nh (amorphous
poweder form) ch không phi dng tinh th gama. Ngi ra, quy tnh tng hp
tinh chế Ivabradin hydroclorua amorphous form hn toàn kng tng hoc
ơng đương với Bằng độc quyn ng chế 7181. Do đó, sản phm Nisten
(Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) do ng ty Đ sn xut kng
m phm Bng đc quyn sáng chế 7181 của nguyên đơn.
- Hai , Kết lun giám định v s hu công nghip s SC015-16YC/KL
ngày 26/9/2016 ca Vin Khoa hc S hu trí tu - B Khoa hc và Công ngh kết
lun sn phm Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) cang
ty Đ xâm phm Bằng độc quyn sáng chế 7181 không có giá tr pháp lý.
Quá trình giám định, Giám định viên Viện Khoa học sở hữu trí tuệ đã
không tiến hành thực hiện các thí nghiệm, phân tích nhiễu xạ bột tia X hoạt chất
Ivabradin hydroclorua trong sản phẩm Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) do Công ty Đ sản xuất.
Hơn nữa, cũng không bất cứ tài liệu nào chứng minh rằng mẫu vật
giám định đúng sản phẩm thuốc Nisten do Công ty Đ sản xuất, lưu hành bởi
căn cứ hồ sơ vụ án thì Kết luận giám đnh s SC015-16YC/KLđưc Vin
Khoa hc S hu trí tu thc hin ngày 26/9/2016 trong khi Vi bng v vic thu
thp mu vật giám định là sn phm thuốc Nisten được lp ngày 12/10/2016, sau
thời điểm thc hiện giám định.
Theo Kết luận giám đnh v s hu công nghip s SC015-16YC/KL
ngày 26/9/2016 ca Vin Khoa hc s hu t tu - B Khoa hc và Công ngh, cơ
quan y đã s dng tài liệu giám đnh tài liu s 2 o o phân ch nhiu x
bt tia X sn phm thuc Nisten do GS. TS. Gerard Coquerel - Đại hc Rouen,
Pp thc hin và ý kiến đánh giá của giáoy v c vấn đề liên quan đếnng
chế và đốiợng giám định (bng tiếng Anh) và bn dch tiếng Vit ca tài liuy
đưc chng nhn bởi Văn phòng công chứng Vũ Đào, thành phố Ni, là tài liu
bản và quan trng nhất để so nh bn cht k thut ca ng chế đưc bo h
13
(Bắng độc quyn sáng chế s 7181) đốiợng giám định (thuc Nisten). Chúng
i cho rng vic Giám định viên Viện Khoa học shữu trí tuệ sử dụng kết quả
Báo cáo phân tích nhiễu xạ bột tia X sản phẩm thuốc Nisten do GS. TS. Gerard
Coquerel - Đại học Rouen, Pháp thực hiện để ban hành Kết luận giám định s
SC015-16YC/KLGĐ ngày 26/9/2016 là không khách quan, không đúng quy
định pháp lut, xâm phm nghiêm trng quyn li hp pháp ca Công ty Đ bi:
+ Ni dung Báo cáo Kết qu xét nghim không th hiện đầy đ các thông
tin v phương pháp, đối tượng nghiên cứu cũng như th hiện được năng lực
chuyên môn, thm quyn ca GS. TS. Gerard Coquerel.
+ Quá trình xét nghim của GS. TS. Gerard Coquerel không đưc bt c
cá nhân, t chc nào kim chng, giám sát. Mu vt mà GS. TS. Gerard
Coquerel tiến hành thí nghiệm là do phía nguyên đơn cung cp. Vậy căn c nào
để xác định mu vt thí nghim mà GS. TS. Gerard Coquerel thc hiện đúng là
sn phm thuc Nisten do Công ty Đ sn xut?
+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP: “Để
được công nhận sử dụng tại Việt Nam, các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài
phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 9 Nghị định
nàythì để tài liệu bằng tiếng Anh vBáo cáo phân tích nhiễu xạ bột tia X sản
phẩm thuốc Nisten được công nhận và sử dụng tại Việt Nam thì tài liệu này phải
được hợp pháp hóa lãnh stại quan nhà nước thẩm quyền Việt Nam. Tuy
nhiên, trên thực tế tài liệu này đã không được hợp pháp hóa lãnh sự để được
công nhận sử dụng tại Việt Nam. Hơn nữa, Công ty Đ không thấy bất kỳ
bằng chứng nào chứng minh rằng tài liệu bằng tiếng Anh về Báo cáo phân tích
nhiễu xạ bột tia X sản phẩm thuốc Nisten của GS. TS. Gerard Coquerel - Đại
học Rouen, Pháp (không tìm thấy bất kỳ chữ nào của người này hoặc được
xác thực của bất kỳ tổ chức nào khác). Do vậy, Công ty Đ cho rằng ai cũng
thể chuẩn bị được tài liệu này tự công bố rằng do GS. TS. Gerard
Coquerel - Đại học Rouen thực hiện. Việc dịch tài liệu này từ tiếng Anh sang
tiếng Việt được chứng nhận tại Văn phòng công chứng Đào, thành phố
Nội chỉ đơn giản xác nhận chữ của người dịch của một tài liệu bất kỳ
bằng tiếng Anh sang tiếng Việt theo quy định của pháp luật hiện nh, Văn
phòng công chứng này chỉ xác nhận bản dịch chính xác, không vi phạm pháp
luật, không trái với đạo đức xã hội chứ không chịu trách nhiệm về tính hợp pháp
của tài liệu tiếng Anh tại Việt Nam.
Trên thực tế, Bộ Y tế quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: khám bệnh, chữa bệnh, dược, an toàn
thực phẩm, v.v... nên bất ký kiến chuyên môn nào trong lĩnh vực (ví dụ n
dược phẩm) từ bất kỳ tổ chức, nhân nước ngoài nào, để giá trị pháp lý
được sử dụng tại Việt Nam thì trước tiên phải được công nhận bởi Bộ Y tế. Như
vậy, đối với tài liệu Báo cáo phân tích nhiễu xạ bột tia X sản phẩm thuốc Nisten,
muốn giá trị pháp và được sử dụng tại Việt Nam thì phải được BY tế
công nhận, phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định. Trong khi đó, Công
ty Đ không thấy bất kỳ sự công nhận nào của Bộ Y tế đối với Báo cáo phân tích
14
nhiễu xạ bột tia X sản phẩm thuốc Nisten. Vì vậy, tài liệu giám định là tài liệu số
2 Báo cáo phân tích nhiễu x bột tia X sản phẩm thuốc Nisten do GS. TS.
Gerard Coquerel - Đại học Rouen, Pháp thực hiện và ý kiến đánh giá của giáo
này về các vấn đề liên quan đến sáng chế đối tượng giám định (bằng tiếng
Anh) không giá trị pháp lý, không được công nhận sử dụng tại Việt
Nam.
Vi những do đã u trên, Công ty Đ khẳng định rng Kết lun giám
định v s hu ng nghip s SC015-16YC/KL ngày 24/9/2016 của Vin
Khoa hc S hu t tu - B Khoa hc Công ngh là không có gtr pháp do
s dng tài liu giám định (i liu s 2) kng có giá tr pháp, không đưc ng
nhn và s dng ti Vit Nam.
T những căn cứ pn ch u trên, Công ty Đ cho rng yêu cu khi
kin của nguyên đơn không có căn cứ. Do vy, Công ty Đ kính đề ngh Tòa án
c toàn b yêu cu khi kin ca ngun đơn.
* Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 04/2019/KDTM-ST
ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định: Chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 17/2020/KDTM-PT
ngày 08/6/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy
bản án thẩm số 04/2019/KDTM-ST ngày 17/7/2019, chuyển hồ vụ án về
cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại vụ án với do: Tòa án cấp thẩm đã
căn cứ vào các Tài liệu không được hợp pháp lãnh sự, mà theo quy định tại Điều
26 Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sgiữa Cộng hòa hội chủ
nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp phải được hợp pháp hóa lãnh sự.
*Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 13/2022/KDTM-ST ngày
07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định như
sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn L đối với bị
đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ về việc “tranh chấp về quyền sở hữu trí
tuệ.
1.1. Buộc Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải chấm dứt hành vi xâm
phạm quyền sáng chế được bảo hộ theo Điểm 1 của Yêu cầu bảo hộ Bằng độc
quyền sáng chế số 7181.
1.2. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ bồi thường thiệt hại cho
nguyên đơn L s tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo điểm c
khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.
1.3. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thanh toán cho nguyên
đơn L chi phí hợp lý số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên thì còn
15
phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
1.4. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải xin lỗi nguyên đơn
L cải chính công khai trên tạp chí Dược Mỹ phẩm; tạp chí Khoa học
Đời sống Báo Thanh niên trong 03 kỳ liên tiếp về các hành vi xâm phạm
quyền đối với sáng chế.
1.5. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải tiến hành các thủ
tục rút số đăng VD-20362-13 đối với sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine
5mg) số đăng VD-21061-14 đối với sản phẩm thuốc Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) tại Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vviệc buộc bị
đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thu hồi toàn bộ các sản phẩm thuốc Nisten
(Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã phân phối trên thị trường;
đồng thời tiêu hủy toàn bộ sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg), Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) đã thu hồi cũng như còn tồn kho các nguyên, vật liệu
được sử dụng đsản xuất hoặc kinh doanh các sản phẩm xâm phạm Bằng độc
quyền sáng chế số 7181.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 13/9/2022 bị đơn Công ty cổ phần Dược
phẩm Đ kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Công ty cổ phần Dược phẩm Đ (có ông
Vũ Tuấn L2 là đại diện theo ủy quyền) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, với các lý
do: Do bản án thẩm vi phạm tố tụng khi chưa xem xét cách tham gia tố
tụng của nguyên đơn. Vì đại diện theo ủy quyền của ngun đơn không có quyền
ủy quyền lại, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thu thập chứng cứ và tạm đình
chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả khiếu nại bằng sáng chế là không đủ căn cứ để
giải quyết vụ án. Vì theo khoản 3 Điều 96 Luật sở hữu trí tuệ thì trong trường hợp
khiếu nại của bị đơn được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận thì bằng ng chế của
nguyên đơn không có hiệu lực, nên nguyên đơn không có quyền khởi kiện đối với
bị đơn và không có căn cứ xác định bị đơn vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nguyên
đơn L (có ông Mai Duy L1 đại diện theo ủy quyền) không đồng ý yêu cầu
kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong phần tranh luận:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu:
- Về phạm vi ủy quyền của nguyên đơn: Theo giấy ủy quyền của nguyên
đơn thì không ủy quyền cho ông Mai Duy L1 làm việc với bị đơn, chỉ ủy
quyền làm việc với Tòa án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, ông
L1 không được tham gia hòa giải, tranh tụng nên vi phạm quy định của Bộ luật tố
tụng về hòa giải, thỏa thuận, tranh tụng trong xét xử. Do không thể hòa giải,
16
không tham gia hỏi, không tranh luận, nên đề nghị Hội đồng xét xử tạm dừng
phiên tòa để triệu tập nguyên đơn hoặc yêu cầu nguyên đơn bổ sung phạm vi ủy
quyền của ông L1. Do vậy, ông L1 không quyền tranh luận với bị đơn.
- Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn, thì người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn tiếp
tục tranh luận về nội dung giải quyết vụ án: Tại bản tuyên bcủa công ty nội
dung chỉ định các cá nhân đại diện theo ủy quyền của công ty. Việc ủy quyền của
nguyên đơn cho ông L1 là không hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam,
pháp luật Việt Nam không có quy định việc chỉ định ủy quyền, nên không có hiệu
lực pháp luật.
Từ những phân tích trên thì, Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng vì tại cấp
thẩm không người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, nhưng a án
cấp sơ thẩm vẫn công nhận tư cách người đại diện theo ủy quyền của ngun đơn
không đúng quy định pháp luật, n đề nghị hủy bản án thẩm. Về nội dung
khác tngười đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã trình bày đầy đủ, nên người
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn không bổ sung.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Tại phiên a thẩm,
thì ông G bà T1 mặt, ông L1 vắng mặt, nhưng theo giấy ủy quyền của nguyên
đơn thì ông L1 là người đại diện ủy quyền không có quyền ủy lại, nên đề nghị
xem t lại tư cách ông G, T1 tại phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung thì quá trình
giải quyết vụ án thì bị đơn khẳng định bị đơn không vi phạm quyền sáng chế,
không vi phạm Luật Sở hữu trí tu.
Người đại diện theo ủy quyền của ngun đơn (ông Mai Duy L1) trình bày:
Ông L1 toàn quyền thay mặt nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án thể hiện
tại giấy ủy quyền, ông L1 quyền khởi kiện, quyết định toàn bộ nội dung vụ
việc liên hệ tổ chức, nhân. Ông L1 tham gia hòa giải tại Tòa án cấp
thẩm, có trình bày đã ủy quyền lại cho ông G, bà T1. Hồ sơ vụ án có nhiều chứng
cứ chứng minh sản phẩm của bị đơn thuộc bảo hộ sáng chế của nguyên đơn
theo kết luận giám định, các phiên tòa thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng t
xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ ngun bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu
quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Vụ án từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thđến khi xét xử đã
thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Ngày 10/6/2019 bị đơn có đơn đề nghị Tòa án tạm đình chỉ
giải quyết vụ án. Nguyên đơn là chủ sở hữu sáng chế đã được Cục Sở hữu trí tuệ
cấp bằng sáng chế tại Việt Nam. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không
ý kiến về văn bằng sáng chế, hiện tại văn bằng sáng chế của nguyên đơn vẫn
đang có hiệu lực pháp luật, nên yêu cầu tạm đình chỉ là không có căn cứ.
Theo kết luận giám định ngày 26/9/2019 sáng chế được bảo hộ hợp chất
(đối tượng giám định), thì sản phẩm của bị đơn dùng công thức, biểu đồ
17
nhiễu xạ được bảo hộ của nguyên đơn. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và
hướng dẫn Nghđịnh 99 thì sản phẩm của bị đơn xâm phạm sáng chế của
nguyên đơn. Theo kết luận giám định sở hữu công nghiệp thì thuốc của bị đơn
thành phần trùng với hợp chất sáng chế của nguyên đơn, xâm phạm quyền
đối với sáng chế đang được bảo hộ. Vậy, bị đơn đã sản xuất thuốc và phân phối
tại thị trường Việt Nam có áp dụng sáng chế của nguyên đơn mà không xin phép
vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Bản án sơ thẩm đã xét xử căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng ủy quyền của nguyên đơn không
hợp pháp, nhưng hồ sơ vụ án thể hiện cách người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn là đúng quy định pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận lời trình
bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Từ đó, đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên a căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của
Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo Đơn khởi kin 21/11/2016, nguyên đơn L khi kin yêu cu b
đơn Công ty c phần dược phm Đ phi chm dt hành vi xâm phm quyn
sáng chế; Thu hi toàn b các sn phm thuc Nisten (Ivabradine 5mg), Nisten -
F (Ivabradine 7.5mg) đã phân phi trên th trường tiêu hy toàn b sn phm
thuc Nisten (Ivabradine 5mg), Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã thu hồi cũng
như còn tồn kho các nguyên, vt liệu được s dụng để sn xut hoc kinh
doanh các sn phm xâm phm Bằng độc quyn sáng chế s 7181; Tiến hành
th tc rút s đăng VD-20362-13 đối vi sn phm thuc Nisten (Ivabradine
5mg) s đăng VD-21061-14 đi vi sn phm thuc Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) ti Cc quản Dược - B Y tế; bồi thường thit hi cho
nguyên đơn s tin 500.000.000 đồng theo đim c khoản 1 Điu 205 Lut S
hu trí tu; Thanh toán chi phí hp tr giá 300.000.000 đồng; Phi xin li
nguyên đơn và ci chính công khai trên tạp chí Dược và M phm, tp chí Khoa
học Đời sng Báo Thanh niên trong 03 k liên tiếp v các hành vi xâm
phm quyền đối vi sáng chế.
[2] Bản án sơ thẩm nhận định:
- L chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế số 7181 được Cục Sở hữu trí
tuệ cấp ngày 15/7/2008 theo Quyết định số 13701/QĐ-SHTT, hiệu lực 20
năm (kể từ ngày 15/02/2006), bảo hộ đối với sáng chế: Hợp chất Ivabradin
Hydroclorua dạng tinh thể gama, quy trình điều chế dược phẩm chứa nó.
Ivabradin là chất làm giảm chuyên biệt nhịp tim. Tác dụng trên tim của thuốc
đặc hiệu với nút xoang mà không làm ảnh hưởng tới thời gian dẫn truyền trong
nhĩ, trong nhĩ - thất, sự tái cực thất hoặc co cơ tim.
- Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn bị đơn đã sản xuất, lưu hành,
tàng trữ trên thị trường sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten-F
18
(Ivabradine 7.5mg) có chứa hoạt chất Ivabradin Hydroclorua dạng tinh thể
gamma đã được bảo hộ bởi Bằng độc quyền sáng chế số 7181.
Bị đơn cho rằng, hoạt chất Ivabradin Hydroclorua trong sản phẩm thuốc
Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten-F (Ivabradine 7.5mg) của bị đơn sử dụng
dạng bột định hình (amorphous poweder form) chkhông phải dạng tinh
thể gamma và sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten- F (Ivabradine
7.5mg) đã được đăng sản xuất, lưu hành theo đúng quy định của pháp luật,
được Cục quản Dược - Bộ Y tế cấp Giấy phép lưu hành sđăng VD-
20362-13 đối với sản phẩm Nisten (Ivabradine 5mg) số đăng VD-21061-
14 đối với sản phẩm Nisten - F (Ivabradine 7.5mg), nên không vi phạm Bằng
độc quyền sáng chế số 7181 của nguyên đơn.
- Xét, tại Kết luận Giám định về sở hữu công nghiệp ngày 03/5/2019 do
Giám định viên độc lập ông Phạm Phi Anh đối với 02 mẫu thuốc Nisten
(Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) do bị đơn cung cấp, xác
định:“Sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine
7.5mg) do Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ sản xuất chứa hoạt chất Ivabradine
trùng với hợp chất thuộc phạm vi bảo hộ của các điểm Yêu cầu bảo hộ của Bằng
độc quyền sáng chế số 7181 do đó, sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg)
Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) bị coi yếu txâm phạm quyền đối với sáng
chế đang được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 7181”. Đồng thời, tại
Văn bản số 11611/QLD-TTra ngày 21/6/2018 của Cục Quản Dược - Bộ Y tế
đã xác định: “việc sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) và Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) được Bộ Y tế cấp Giấy phép lưu hành không phải căn cứ
để khẳng định thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine 7.5mg)
có hay không vi phạm các bằng độc quyền sáng chế có liên quan”. Vì vậy, có đủ
căn cứ xác định bị đơn đã vi phạm Bằng độc quyền sáng chế số 7181 của
nguyên đơn.
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 124, khoản 1 Điều 126 Luật Sở hữu trí
tuệ, việc bị đơn tiến hành tàng trữ, sản xuất, lưu thông, buôn n, vận chuyển,
quảng cáo, chào hàng trên thị trường sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg)
Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) chứa hoạt chất Ivabradin Hydroclorua dạng
tinh thể gama đang được bảo hộ tại Bằng độc quyền sáng chế số 7181, khi chưa
được sự cho phép của nguyên đơn hành vi sdụng đối tượng sở hữu công
nghiệp, xâm phạm quyền đối với sáng chế của S.
Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ thì nguyên
đơn quyền yêu cầu quan Nhà nước thẩm quyền buộc bị đơn phải chấm
dứt hành vi xâm phạm quyền sáng chế được bảo hộ theo Điểm 1 của Bằng độc
quyền sáng chế s7181 của nguyên đơn; phải xin lỗi nguyên đơn cải chính
công khai trên tạp chí Dược Mỹ phẩm; tạp chí Khoa học và Đời sống và Báo
Thanh niên trong 03 kỳ liên tiếp về các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng
chế của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ;
phải bồi thường thiệt hại số tiền 500.000.000 đồng theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ thanh toán stiền 300.000.000 đồng
19
chi phí hợp lý mà nguyên đơn đã bỏ ra để thuê Luật sư theo quy định tại khoản 3
Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.
- Đối với yêu cầu buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thu hồi
toàn bộ các sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg) Nisten - F (Ivabradine
7.5mg) đã phân phối trên thị trường; đồng thời tiêu hủy toàn bộ sản phẩm thuốc
Nisten (Ivabradine 5mg), Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã thu hồi cũng như còn
tồn kho các nguyên, vật liệu được sdụng để sản xuất hoặc kinh doanh các
sản phẩm xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 7181: t thấy, nguyên đơn
không xác định được số lượng cụ thể sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg)
Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã phân phối trên thị trường, đồng thời không
định danh, định lượng được chính xác nguyên liệu thô, vật liệu máy móc
cũng như nơi bảo quản người đang quản , sử dụng các nguyên, vật liệu
được sử dụng đsản xuất hoặc kinh doanh các sản phẩm xâm phạm Bằng độc
quyền sáng chế số 7181 nên không tính khả thi khi thi hành án. Do đó, yêu
cầu này của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Tòa án cấp thẩm đã nhận định, đánh giá đy đủ tài liệu chứng cứ trong
hồ sơ và xét xử là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử nhận định thêm:
- Bị đơn kháng cáo cho rằng Bản án thẩm đã vi phạm tố tụng khi
công nhận cách người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại cấp
thẩm, và đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết của Cục
Sở hữu trí tuệ đối với Bằng độc quyền sáng chế số 7181 của nguyên đơn.
Xét, theo Giấy chỉ định đại diện ngày 21/11/2016, L đã chỉ định ông Mai
Duy L1 người đại diện, với nội dung: Ông Mai Duy L1 người đại diện
theo y quyền của chúng tôi toàn quyền được ủy quyền lại, hủy bỏ việc ủy
quyền lại, để thực hiện các công việc sau nhân danh cho L...phù hợp Điều
138 Bộ luật Dân sự m 2015. Căn cứ Giấy chỉ định đại diện ngày 21/11/2016,
ông Mai Duy L1 đã ủy quyền lại cho ông Bạch Hoàng G Nguyễn Thị Anh
T1 tham gia tố tụng (theo Văn bản ngày 22/7/2022) không trái pháp luật. Tại
cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Mai Duy L1
mặt, xác định người được ủy quyền của nguyên đơn tại cấp thẩm đã thực
hiện đúng quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp của
nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định Tòa án cấp thẩm không vi
phạm tố tụng trong trường hợp này.
Đối với yêu cầu tạm đình chỉ giải quyết ván của phía bị đơn đã được
Tòa án cấp thẩm nhận định không chấp nhận là đúng. Do vậy, yêu cầu kháng
cáo của bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tạm đình chỉ giải quyết vụ án
không có căn cứ chấp nhận. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật thì từ khi biết
20
được hành vi hoặc văn bản hành chính của quan Nhà ớc thẩm quyền
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà không được giải quyết theo quy
định pháp luật, thì đương sự quyền khởi kiện vụ án hành chính. Theo bị đơn
trình bày từ năm 2019 bị đơn đã có văn bản đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ xem xét
hủy bỏ hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế số 0007181, đến nay chưa kết quả
giải quyết nhưng bị đơn không yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính là đã hết thời
hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm
đã xét xử căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không tài liệu, chứng cứ
chứng minh. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát tham gia phiên tòa; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn;
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo
phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
I. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần dược
phẩm Đ.
Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số 13/2022/KDTM-
ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Áp dụng khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 124, khoản 1 Điều 125, khoản
1 Điều 126, Điều 201, Điều 202, Điều 204, Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Các Điều 16, 20 Nghị định số
105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phquy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày
30/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
quản nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
21
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn L đối với bị
đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ về việc “tranh chấp về quyền sở hữu trí
tuệ.
1.1. Buộc Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải chấm dứt hành vi xâm
phạm quyền sáng chế được bảo hộ theo Điểm 1 của Yêu cầu bảo hộ Bằng độc
quyền sáng chế số 7181.
1.2. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ bồi thường thiệt hại cho
nguyên đơn L s tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo điểm c
khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.
1.3. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thanh toán cho nguyên
đơn L chi phí hợp lý số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên thì còn
phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
1.4. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải xin lỗi nguyên đơn
L cải chính công khai trên tạp chí Dược Mỹ phẩm; tạp chí Khoa học
Đời sống Báo Thanh niên trong 03 kỳ liên tiếp về các hành vi xâm phạm
quyền đối với sáng chế.
1.5. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ phải tiến hành các thủ
tục rút số đăng VD-20362-13 đối với sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine
5mg) số đăng VD-21061-14 đối với sản phẩm thuốc Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) tại Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vviệc buộc bị
đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ thu hồi toàn bộ các sản phẩm thuốc Nisten
(Ivabradine 5mg) và Nisten - F (Ivabradine 7.5mg) đã phân phối trên thị trường;
đồng thời tiêu hủy toàn bộ sản phẩm thuốc Nisten (Ivabradine 5mg), Nisten - F
(Ivabradine 7.5mg) đã thu hồi cũng như còn tồn kho các nguyên, vật liệu
được sử dụng để sản xuất hoặc kinh doanh các sản phẩm xâm phạm Bằng độc
quyền sáng chế số 7181.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
II. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty cổ phần dược phẩm Đ phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng),
được trừ vào 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai thu số 0000247 ngày 28/9/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án
22
theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân ti cao;
- VKSND cp cao ti TP.HCM
- TAND tnh Bình Dương;
- VKSND tnh Bình ơng;
- Cc THADS tnh Bình Dương;
- (1);
- (1);
- Lưu (10) 17b (Án TTKY).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Phm Th Duyên
Tải về
Bản án số 44/2023/KDTM-PT Bản án số 44/2023/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất