Bản án số 42/2021/HS-ST ngày 25/08/2021 của TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 42/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 42/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 42/2021/HS-ST ngày 25/08/2021 của TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hàm Tân (TAND tỉnh Bình Thuận) |
| Số hiệu: | 42/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HÀM TÂN Độc lập –Tự do –Hạnh phúc
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 42/2021/HS-ST
Ngày: 25-8-2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Quốc Thái và bà Trần Thị Ngọ;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:
Ông Nông Ngọc Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021 Hội trường xét xử TAND huyện Hàm Tân
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2021/TLST-HS
ngày 24/6/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS
ngày 12/7/2021; quyết định hoãn phiên tòa số 17/2021/HSST-QĐ ngày
27/7/2021 đối với bị cáo:
KIỀU NGỌC L, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1971 tại tỉnh H;
Nơi cư trú: Ấp B, xã X, huyện X1, tỉnh Đ.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Kiều Ngọc Đ1 (chết) và bà Nguyễn Thị M;
Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 04;
Vợ: Phạm Thị H (Đã chết); Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ
sinh năm 2013;
Tiền án: Ngày 26/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh
Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng
kể từ ngày 26/11/2020 tại bản án số 175/2020/HSST ngày 26/11/2020. Bị cáo
chưa chấp hành xong bản án.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 30/4/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ
Công an huyện Hàm Tân. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Trại giam T – Cục C10 – Bộ Công an;
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Bá Th, sinh năm 1967; Giám thị Trại
2
giam T.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978; Địa chỉ:
Trại giam T, xã T, huyện H, tỉnh B (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 25/12/2020, Kiều Ngọc L, sinh năm 1971 điều
khiển xe mô tô BKS 86XA-0191 vào Phân trại 1 – Trại giam T thuộc xã T,
huyện H, tỉnh B để tìm hái dừa. Khi đi qua nhà kho chứa vật tư, L thấy không có
ai trông coi, phía sau kho có một lỗ hổng có thể chui vào được và bên trong có
nhiều khung nhôm đã hư hỏng nên L nảy sinh ý định lấy trộm để bán lấy tiền
tiêu xài cá nhân. Sau đó, L chui vào bên trong kho, tháo các thanh nhôm ra được
15kg và lấy đi 02 cuộn dây diện lõi nhôm đã qua sử dụng ở gần đó. Khi L đang
mang các tài sản trên ra vị trí để xe cách nhà kho khoảng 20m thì bị lực lượng
tuần tra của Trại giam T phát hiện, bắt giữ và bàn giao cho Công an xã T.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 09/3/2021
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Hàm Tân kết luận giá
trị của tài sản bị Lân chiếm đoạt vào ngày 25/12/2020 như sau:
- 01 sợi dây cáp điện vỏ màu đen dài 5m, lõi dây có 7 sợi nhôm vặn
xoắn có giá 43.100đ
- 01 sợi dây cáp điện vỏ màu đen dài 20m, lõi dây có 19 sợi nhôm vặn
xoắn có giá 294.000đ
- 15 kg thanh nhôm dạng khung cửa có giá 330.000đ
Vật chứng của vụ án: 01 sợi dây cáp điện vỏ màu đen dài 5m, lõi dây có
7 sợi nhôm vặn xoắn; 01 sợi dây cáp điện vỏ màu đen dài 20m, lõi dây có 19 sợi
nhôm vặn xoắn; 15 kg thanh nhôm dạng khung cửa đã được Cơ quan điều tra
giao trả lại cho ông Nguyễn Văn N, là đại diện hợp pháp của Trại giam T;
01 xe mô tô BKS 86XA-0191 Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông
Phạm Thanh B.
Về trách nhiệm dân sự: Trại giam T đã nhận lại tài sản và không có yêu
cầu gì về phần dân sự.
Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 21/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Kiều Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo
khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất
với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn
trong Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền
công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị
3
Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung Cáo
trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức
hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173,
điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Kiều
Ngọc L từ 12 tháng đến 18 tháng tù và tổng hợp hình phạt theo quy định.
* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố, tuy nhiên xin Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy
tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá
trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 25/12/2020 bị cáo L đã vào nhà kho chứa vật tư của Trại giam
T lén lút chiếm đoạt tài sản là 15kg thanh nhôm dạng khung cửa và 02 cuộn dây
diện lõi nhôm đã qua sử dụng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 667.100đ
Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại; biên bản hỏi cung; lời
khai bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như Cáo trạng
đã nêu.
Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng
trị giá 667.100đ, mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới hai triệu đồng nhưng
bị cáo L đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm; Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là
quyền sở hữu tài sản của công dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự,
nhận thức hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật
nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố
cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và
đúng pháp luật
4
[3] Bị cáo Kiều Ngọc L nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của
người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng với bản tính chây lười lao động, bị cáo
tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo đã từng bị
kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, đang trong thời gian thử thách nhưng không lấy
đó làm bài học tu dưỡng bản thân, sửa đổi để trở thành người có ích cho xã hội
mà tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng
xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải dành cho bị
cáo mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm
tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội
phạm chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trại giam T đã nhận lại được tài sản và
không có yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như
tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây
là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
[7] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách theo
bản án số 175/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân
Lộc, tỉnh Đồng Nai nên cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt của bản án này và
tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
[8] Về vật chứng vụ án:
- 01 sợi dây cáp điện vỏ màu đen dài 5m, lõi dây có 7 sợi nhôm vặn
xoắn; 01 sợi dây cáp điện vỏ màu đen dài 20m, lõi dây có 19 sợi nhôm vặn
xoắn; 15 kg thanh nhôm dạng khung cửa đã được Cơ quan điều tra giao trả lại
cho ông Nguyễn Văn N, đại diện hợp pháp của Trại giam T là phù hợp nên
HĐXX không xem xét.
- 01 xe mô tô BKS 86XA-0191 do bị cáo mượn của ông Phạm Thanh B,
ông B không biết việc bị cáo mượn xe của mình để dùng làm phương tiện thực
hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông Phạm Thanh
B là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Kiều Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 65
Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Kiều Ngọc L 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt
06 (Sáu) tháng tù tại bản án số 175/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt
5
chung là 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày
30/4/2021.
2. Án phí: Áp dụng: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án
Buộc bị cáo Kiều Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo có mặt tại
phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Thuận;
- VKSND huyện Hàm Tân
- Công an huyện Hàm Tân;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Thuận;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ;
- Chi cục THADS Hàm Tân;
- UBND địa phương bị cáo cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Thùy Trang
6
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thùy Trang
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng