Bản án số 41/2022/HS-ST ngày 09/09/2022 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tội vận chuyển trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 41/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 41/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 41/2022/HS-ST ngày 09/09/2022 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tội vận chuyển trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 250.Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Phong Điền (TAND TP. Cần Thơ) |
| Số hiệu: | 41/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
-
1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––
Bản án số: 41/2022/HS-ST
Ngày: 09/9/2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Văn Tường
2. Ông Tạ Quang Đức
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
P, thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: bà Trần
Thụy Quốc Vang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần
Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số: 40/2022/TLST-HS
ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
45/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. TRẦN VĂN L1, sinh ngày 14/02/2004, tại Cần Thơ;
ĐKTT: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Chỗ ở: ấp B, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần Văn T1 (S) và bà Nguyễn Thị D1 (C);
Tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2022 (Có mặt).
2. VÕ HỮU T2, sinh ngày 11/6/2003, tại Cần Thơ;
ĐKTT: Khu vực D, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ;
Chỗ ở: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Võ Hữu Đ (S) và bà Nguyễn Hồng L2 (S);
Tiền sự: Ngày 17/7/2020 bị Công an xã G, huyện P xử phạt 375.000 đồng
-
2 -
về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chấp hành xong ngày 23/6/2022);
Tiền án: không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2022 (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Hồng L2,
sinh năm 1968, trú tại: Tổ Y, ấp A, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ – Vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn L1 và Võ Hữu T2 nghiện ma túy từ năm 2019 nên thường
xuyên cùng nhau mua ma túy về sử dụng. Vào khoảng 09 giờ ngày 26/4/2022,
L1 sử dụng điện thoại di động Iphone gắn sim số 0766969290 nhắn tin qua tài
khoản mạng xã hội Facebook tên “ba nổ” đến điện thoại Samsung A20 gắn sim
số 0776597898 của T2 qua tài khoản mạng xã hội Facebook tên “mít tơ T2” để
nhờ T2 chở L1 đi mua ma túy về cùng sử dụng, T2 đồng ý.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát
65B1-830.41 đến rước L1 tại ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Xe của
T2 bị hư, T2 điện thoại cho L1 đi bộ đến chỗ sửa xe. Sau khi sửa xe, T2 chở L1
về hướng cầu Đ thuộc thị trấn P để mua ma túy, L1 sử dụng số điện thoại
0766969290 để điện thoại cho T3 (không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể) số
điện thoại 0766826808, T3 hướng dẫn L1 chạy đến nhà trọ 662 gặp người tên
P1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Đến nhà trọ 662, T2 đậu xe đợi, L1 đưa P1
200.000 đồng, P1 đưa L1 gói ma túy, L1 mua thêm ống phễu thủy tinh để sử
dụng ma túy với giá 50.000 đồng. Tiền mua ma túy và phễu là của L1.
Sau khi mua được ma túy, L1 cầm ma túy và phễu trên tay phải và lên xe,
T2 chở L1 đi về hướng cầu N thuộc xã T, khi vừa qua khỏi Trung tâm Y tế
huyện P thì L1 và T2 bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công
an huyện P tiến hành khám xét, L1 vứt ma túy và phễu xuống đất ngay chỗ xe
đậu. Lực lượng Công an đã thu giữ vật chứng và mời L1, T2 về Cơ quan Cảnh
sát điều tra, Công an huyện P để làm rõ.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 65B1-830.41; 01 (một)
điện thoại di động Samsung A20 màu đen gắn sim số 0766597898 của T2; 01
(một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy); 01
(một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng gắn sim số 0766969290 của
L1; và 01 (một) ống phễu thủy tinh dùng để sử dụng ma túy;
-
3 -
Tại kết luận giám định số 161/KL-KTHS ngày 29/4/2022 của Phòng kỹ
thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ kết luận: “Tinh thể không màu trong
gói nilon gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1667
gam”.
Quá trình điều tra, L1 thừa nhận cùng T2 đã mua ma túy của T3 được 03
(ba) lần và của T4 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở phường L, quận B được 02
(hai) lần và nhiều lần khác nhưng T2 không nhớ rõ. Trong các lần mua ma túy
về sử dụng thì T2 chỉ hùn tiền một lần 200.000 đồng, các lần còn lại là tiền của
L1. Bản thân T2 không biết rõ người bán, chỉ có L1 trực tiếp liên hệ và mua ma
túy, T2 chỉ điều khiển xe chở L1.
Đối với số điện thoại của T3 là do L1 xin của người tên P2 ở xã G (không
rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Qua xác minh, số thuê bao 0766826808 do L1 cung
cấp được cho là của T3, người đăng ký chủ thuê bao là bà Trần Thị N. Bà N
khai nhận không có đăng ký và sử dụng số thuê bao trên và cũng không có đưa
giấy chứng minh nhân dân để đăng ký.
Đối với người tên P1 bán ma túy cho Trần Văn L1 và Võ Hữu T2, Cơ
quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh đối với chủ nhà trọ 662 là ông
Nguyễn Hữu P3. Ông P3 cung cấp người thanh niên thuê phòng số 7 tên P1
không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể vì chưa cung cấp giấy tờ tùy thân và sau đó thì
bỏ đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp tục xác
minh, làm rõ đối với người tên T3, P1, T4, P2 đủ cơ sở sẽ xử lý theo quy định
của pháp luật.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65B1-830.41, qua xác minh mẹ ruột T2
là bà Nguyễn Hồng L2 khai nhận bà đưa T2 tiền mua xe, để T2 đưa đón bà đi
làm thuê. Qua xác minh, người đứng tên chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn
Văn Bé D2, ông D2 khai nhận đã bán xe, chưa làm thủ tục chuyển tên chủ sở
hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P đã xử lý vật chứng trả lại xe
biển kiểm soát 65B1-830.41 cho bà L2.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS-PĐ ngày 19/8/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Trần Văn L1, Võ Hữu T2
về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 của Bộ
luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

-
4 -
[1] Bị cáo Trần Văn L1 khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 26/4/2022 bị cáo
rủ Võ Hữu T2 cùng đi mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng và 01 ống phễu
thủy tinh dùng để sử dụng ma túy của người thanh niên tên P1 ở nhà trọ 662,
thuộc thị trấn P. Bị cáo T2 điều khiển xe biển kiểm soát 65B1-830.41 chở bị cáo
L1 trên đường về nhà ở xã G, đến Trung tâm y tế huyện P thuộc ấp L, thị trấn P
thì bị khám xét bắt giữ. Gói ma túy thu giữ qua giám định là Methamphetamine,
có khối lượng 0,1667 gam. Lời khai của bị cáo L1 phù hợp với lời khai của bị
cáo T2 và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo cùng
nhau đi mua ma túy, đem về sử dụng, trên đường di chuyển là hành vi đem ma
túy đi từ nơi này đến nơi khác, không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng
trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự.
[2] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo là đúng
người, đúng tội. Kiểm sát viên đề nghị mức án đối với bị cáo L1 từ 03 năm đến
03 năm 06 tháng, bị cáo T2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
[3] Các bị cáo tuổi còn nhỏ nhưng đã nghiện ma túy, từng bị xử phạt hành
chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn không từ bỏ, nhiều
lần mua ma túy sử dụng. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của các bị
cáo đã xâm phạm chính sách của nhà nước về quản lý độc quyền chất ma túy,
cần có mức hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và
phòng ngừa chung. Hai bị cáo thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi, bị cáo
L1 rủ rê, trực tiếp mua và cầm ma túy đem về; bị cáo T2 điều khiển xe chở bị
cáo L1, có tiền sự do chưa hết thời gian 01 năm kể từ ngày chấp hành xong. Hội
đồng xét xử áp dụng tình tiết các bị cáo thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ một
phần hình phạt.
[4] Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu hủy số ma túy, sim số điện thoại và
vật dụng dùng để sử dụng ma túy; tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di
động là phương tiện liên hệ trong thực hiện hành vi phạm tội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38,
Điều 17, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Trần Văn L1, Võ Hữu T2 phạm tội Vận chuyển trái
phép chất ma túy.

-
5 -
Xử phạt: bị cáo Trần Văn L1 03 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày
26/4/2022.
Xử phạt: bị cáo Võ Hữu T2 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ
ngày 26/4/2022.
Tịch thu tiêu hủy 0,1383 gam Methamphetamine (được niêm phong số
161/KL-KTHS ngày 29/4/2022); sim số 0766597898; sim số 0766969290; 01
ống phễu thủy tinh.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20 màu
đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng.
Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- VKSND Tp. Cần Thơ;
- P.hồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT;
- Sở tư pháp Tp. Cần Thơ;
- VKSND huyện P;
- Chi cục THADS H. P;
- CQĐT Công an H. P;
LIÊNG THỊ HỒNG HOA
- Chi cục thuế H. P;
- Cục Hải quan Cần Thơ;
- Đội CSTHAHS H.P;
- Lưu HS (2).
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng