Bản án số 41/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 của TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 41/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 41/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 của TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Vĩnh Bảo (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 41/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/10/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PH HI PHÒNG
Bn án s: 41/2018/HS-ST
Ngày 24-10-2018
CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Khanh
2. Bà Triệu Thị Mới
- Thư phiên tòa: Thị Sao, Thư Toà án nhân dân huyện Vĩnh
Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Ông Lê Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ số:
38/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 39/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa
số: 09/2018/HSST- ngày 02/10/2018 đối với bị cáo:
Dương Đức Báu X, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại Hải Phòng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn HD, xã CH, huyện VB, thành
phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đức Q, sinh
năm 1962 bà Trần Thị Lsinh năm 1963; chưa vợ, con; Tiền án: 01 tiền án đã
được xóa án tích. Tại bản án hình sự số 98 ngày 28/7/2010 của Tòa án nhân dân
quận Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Dương Đức Báu X 15 tháng vtội
Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình snăm 1999.
Ngày 27/10/2010, X đã nộp xong tiền án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 14/6/2011, Trại
giam Thanh Phong thuộc tổng cục VIII đã cấp giấy chứng nhận chấp hành xong
hình phạt đối với X; Tiền s: Không; ra đầu tbị tạm giữ từ ngày 07/6/2018
đến ngày 12/6/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú.
2
Ngày 12/9/2018, Dương Đức Báu X bị Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
bắt tạm giam vì đã có hành vi trộm cắp tài sản tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo X có mặt.
- B hi: Th Ng, sinh năm 1957 ông Ngô Văn Ng, sinh năm 1952;
cùng địa ch: Thôn LĐ, xã TP, huyn VB, thành ph Hi Phòng. Bà Ngãi và ông Ng
xin vng mt.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan đến v án:
Anh Nguyễn Đức Th, sinh năm 1985; địa ch: Thôn KS, H, huyn VB,
thành ph Hi Phòng; vng mt.
Ch Vũ Thị D, sinh năm 1987; địa ch: Thôn LĐ, xã TP, huyn VB, thành ph
Hi Phòng; vng mt.
- Người tham gia t tng khác: Người làm chng Ngô Th X, anh Ngô
Văn Th, ông Phạm Văn Q; đều vng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/6/2018, Hà Thị Ng có để một chiếc xe kéo
ngoài đường phía trước cửa nhà Ngô Thị X cùng thôn. Trên xe kéo
khoảng 15 bó lúa chưa tuốt (đây giống lúa 225 được thu hoạch từ 0,8 sào ruộng)
một chiếc nia đựng thóc. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Dương Đức Báu X điều
khiển chiếc xe máy màu đỏ nhãn hiệu Yamaha mang biển số 16K6-1546 đi theo
hướng từ xã ĐM về TP thì thấy chiếc xe kéo của bà Ngãi lề đường bên trái
không có ai trông coi. Lúc này, X nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. X dừng xe lại và
dùng tay trái cầm càng xe để kéo còn tay phải kéo ga điều khiển xe đi theo hướng
đường tông sát thôn Linh Đông sang cánh đồng thôn Dương, Cộng Hiền.
Khi đi đến nghĩa trang của thôn Dương thì X để xe chlúa vừa trộm cắp lại rồi
ném chiếc nia xuống sông và đi về nhà. Khoảng 15 giờ cùng ngày, X gặp một người
tuốt lúa (không biết tên tuổi địa chỉ) tuốt số lúa vừa trộm cắp được thành bốn
bao thóc. Khi chở thóc về nhà thì X gặp một người phụ n(không biết tên tuổi)
Thái Bình đang đi mua thóc. X đã bán 04 bao thóc (nặng khoảng 208 kg) trên cho
người phụ nữ đó với giá 1.200.000 đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, X kéo xe đến
nhà anh Ngô Văn Thể ở cùng thôn rồi thuê anh Thể cắt phần đầu tay kéo của xe kéo
hình chữ “T” và hàn thêm khuy sắt vào đầu tay kéo để dễ di chuyển. Sau đó, X kéo
xe về để vườn đằng sau nhà mình. Khoảng 10 giờ ngày 07/6/2018, X mang chiếc
xe kéo sang bán cho anh Nguyễn Đức Th thôn KS, H, huyện VB, thành phố
3
Hải Phòng với giá 400.000 đồng. Tổng số tiền 1.600.000 đồng được do bán các
tài sản trên X đã dùng để tiêu xài cá nhân hết 1.472.000 đồng, còn lại 128.000 đồng.
Khi phát hiện tài sản của mình bị trộm cắp, bà Ngãi đã làm đơn trình báo công an xã
TP về sự việc trên. Khoảng 13 giờ ngày 07/6/2018, X đến Công an huyện VB, thành
phố Hải Phòng để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 20/KL ngày 07/6/2018 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình shuyện Vĩnh Bảo kết luận: 1 chiếc xe kéo đã qua
sử dụng, khung xe đáy xe bọc tôn giá trị 1.000.000 đồng. 0,8 sào lúa 225,
tương đương 2 tạ thóc 225 giá trị 1.200.000 đồng. 01 chiếc nia hình tròn đường
kính 1,2 m giá trị 100.000 đồng. Tổng giá trị trong vụ trộm cắp tài sản nói trên
là 2.300.000 đồng”.
Ngày 07/6/2018, Công an huyện Vĩnh Bảo ra quyết định tạm giữ từ ngày
07/6/2018 đến ngày 12/6/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi
nơi cư trú đối với Dương Đức Báu X.
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSVB ngày 10/9/2018, Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố Dương Đức Báu X về tội
“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Dương Đức Báu X đã khai nhận về
hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai nhận của Dương Đức Báu X, phù hợp
với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm
chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tiếp nhận người ra đầu thú, bản
kết luận định giá tài sản, vật chứng thu được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện
VB, thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo
như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị
cáo gây ra, nhân thân, vị trí, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự mà bị cáo được hưởng; Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dng khon 1 Điều 173, đim b, h, s khon 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38
ca B lut Hình s năm 2015; xử phạt bị cáo Dương Đức u X với mức án từ 09
đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Vtrách nhiệm dân sự: Bhại là bà Th Ng, sinh năm 1957 ông Ngô
Văn Ngọc, sinh năm 1952; cùng đa ch: Thôn LĐ, xã TP, huyn VB, thành ph Hi
Phòng đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất gồm 01 xe kéo loại ba bánh tự chế, 02 đoạn
dây co, 01 thanh sắt hình chữ “T”. Dương Đức Báu X đã bồi thường cho gia đình bà
Ngãi số tiền 1.200.000 đồng do bị cáo bán 0,8 sào lúa 225, tương đương 02 tạ thóc
4
225 của gia đình Ng. Ng ông Ng không yêu cầu thêm. Sau khi biết
chiếc xe kéo tài sản trộm cắp có, anh Nguyễn Đức Th đã giao nộp cho
quan công an chiếc xe kéo để trả lại cho gia đình bà Ngãi và không có yêu cầu gì về
số tiền 400.000 đồng mà anh Th đã bỏ ra để mua chiếc xe kéo của Dương Đức Báu
X; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về biện pháp pháp: Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo được từ việc
bán chiếc xe kéo trộm cắp cho anh Nguyễn Đức Thiện là tiền bạc do phạm tội mà có
nên buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 47 Bluật nh sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ
sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 128.000 đồng tiền
bạc do phạm tội theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện VB. Về chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đỏ mang biển kiểm soát
16K6-1546 do chưa kết quả xác minh làm chủ shữu hợp pháp đối với chiếc
xe máy này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB đã tách riêng để xử lý
theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sthẩm theo quy
định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xxem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về pháp luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 7 B lut Hình s năm 2015
quy định điều luật được áp dng đối vi mt hành vi phm tội điều luật đang
hiu lc thi hành ti thời điểm hành vi phm ti được thc hiện; do đó cần áp
dng B lut Hình s năm 2015 để xét x đối vi hành vi trm cp tài sn trong v
án này.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc quan cảnh sát
điều tra Công an huyện VB, thành phố Hải Phòng, của Kiểm sát viên thuộc Viện
Kiểm sát nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy t
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và
5
nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết
định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó,
hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tphù hợp với nội dung bản Cáo trạng,
lời khai của bcáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu
khác trong hồ vụ án, đủ sở kết luận: Ngày 06/6/2018, Dương Đức Báu X
đã lén lút chiếm đoạt của gia đình Thị Ng 01 chiếc xe kéo, 01 nia đựng thóc
và 0,8 sào lúa 225 tương đương 2 tạ thóc 225 có tổng giá trị là 2.300.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 20/KL ngày 07/6/2018 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng huyện VB kết luận: “Tổng giá trị trong vụ trộm cắp tài
sản nói trên 2.300.000 đồng”. Như vậy, đủ sở kết luận bị cáo Dương Đức
Báu X đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình s
năm 2015.
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố đối
với bị cáo vtội danh cũng như điều luật áp dụng là sở đúng với quy định
của pháp luật.
Hành vi của bcáo nguy hiểm cho hội, không những xâm phạm quyền
sở hữu tài sản của người khác n gây mất trật tự trị an hội. Do đó, cần áp
dụng nh phạt nghiêm mới tác dụng giáo dục b cáo ng như phòng ngừa
chung.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Th: Anh Th đã mua chiếc xe kéo do X
mang đến nhưng không biết chiếc xe đó tài sản do trộm cắp nên quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện VB không xử lý là phù hợp với quy định của pháp
luật.
Đối với người đã tuốt lúa người phụ nữ đã mua thóc cho X: Do không xác
định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Vĩnh Bảo không có đủ cơ sở để xử lý.
[4] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích. Tại cơ quan
điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối
cải; sau khi phạm tội bcáo đã ra đầu thú; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc
gây thiệt hại chưa lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được
hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
6
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp và không nguồn
thu nhập nào khác nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt
tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm;
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
[7] Về biện pháp pháp: Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo được từ
việc bán chiếc xe kéo trộm cắp cho anh Nguyễn Đức Th tiền bạc do phạm tội
nên buộc bị cáo phải nộp lại đtịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[8] Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nnước số tiền 128.000 đồng là
tiền do phạm tội theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện VB theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015. Về chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đmang biển kiểm soát
16K6-1546, chị Thị D khai mua lại chiếc xe trên một cửa hàng xe máy, hiện
chị đã làm mất giấy tờ mua bán xe, do chưa kết quả xác minh làm rõ chủ sở hữu
hợp pháp đối với chiếc xe máy này nên quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Vĩnh Bảo đã tách riêng để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bcáo, bị hại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[11] Đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Thiện: Anh Th đã mua chiếc xe
kéo do bị cáo X mang đến nhưng không biết chiếc xe đó tài sản do trộm cắp
nên quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB không xử phù hợp với
quy định của pháp luật.
[12] Đối với người đã tuốt lúa và người phụ nữ đã mua số thóc trộm cắp được
của bị cáo X: Do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện VB không có đủ cơ sở để xử lý là phù hợp với quy định của
pháp luật.
[13] Đối với chị Thị D hành vi cho bị cáo Dương Đức Báu X mượn
chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đỏ mang biển kiểm soát 16K6-1546, do chị
Doan không biết bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện để thực hiện phạm tội nên
quan Cảnh sát điều tra ng an huyện Vĩnh bảo không xử là phù hợp với quy
định của pháp luật.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ khon 1 Điu 173; đim b, h, s khon 1, khoản 2 Điều 51; Điu 38 ca
B lut Hình s năm 2015: X pht Dương Đức u X 09 tháng v tội “Trộm
cp tài sản”. Trừ cho b cáo X 05 ngày tm gi bng 05 ngày. Thi hn chp hành
hình pht tù, tính t ngày bt thi hành án.
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015: Buộc bị cáo
Dương Đức Báu X phải nộp lại số tiền 400.000 đồng tiền do phạm tội để
tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
3. Về vật chứng:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch
thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 128.000 đồng tiền bạc do phạm tội mà
theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 6 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Đức Báu X
phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm; bị hại, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Công an thành phố Hải Phòng (PC 81, PV
27);
- VKSND huyện VB;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
- Cơ quan CSĐT CA huyện VB;
- Cơ quan THAHS CA huyện VB;
- Chi cục THADS huyện VB;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án;
- Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ.
Đặng Văn Tuyến
Tải về
Bản án số 41/2018/HS-ST Bản án số 41/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất