Bản án số 41/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND tỉnh Lào Cai về tội mua bán người

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 41/2017/HSST

Tên Bản án: Bản án số 41/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND tỉnh Lào Cai về tội mua bán người
Tội danh: 119.Tội mua bán người (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 41/2017/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
_______________________
Bản án số: 41/2017/HSST
Ngày 19/9/2017
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lù Làn Din
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Chức
2. Ông u Đức Trường
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông
Trần Xuân Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2017 tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, Toà án nhân dân
tỉnh Lào Cai mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai ván hình sự thụ số
45/2017/HSST ngày 25/8/2017 đối với các b cáo:
1. H và tên: Lý Văn M; Tên gọi khác: Không; Gii nh: Nam;
Sinh ngày 14/02/1982 . Tại huyện B, tỉnh Lào Cai;
ĐKHKTT và chỗ : Thôn N, xã C, huyện B, Lào Cai;
Nghnghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam;
n giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12;
Con ông Lý A S - sinhm 1954 Phàn ThH - sinh m 1956
Bố, mcùng ttại C, huyện B, tỉnh Lào Cai;
Gia đình b cáo 05 anh ch em, bị cáo là con th;
Vợ: Tẩn Thị T - Sinh năm 1984 (Đã ly n năm 2013). Bị cáo 02 con
(lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007) cùng trú tại thôn N, xã C, huyện B, Lào
Cai).
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo b bắt tạm giam ngày 04/4/2017, hiện đang bị tm giam tại Trại
tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. mặt.
2
2. Hn: Bàn Văn Q; n gọi khác: Kng; Giới tính: Nam; Sinh
ngày 16/6/1992. Tại huyện B, tỉnh Lào Cai;
ĐKHKTT và chỗ : Thôn 3 V, xã T, huyện B, Lào Cai;
Nghnghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam;
n giáo: Không; Trình đ văna: 9/12;
Con ông Bàn Văn C - sinh năm 1972 và con bà Bàn Th H- sinh m 1973.
Bố, mcùng trú tại: Thôn 3 V, T, huyện B, Lào Cai;
Gia đình bo 04 anh em, bị cáo là con th nhất;
Vợ: Bàn Thị K Sinh năm 1994. Bị cáo 02 con (Con lớn sinh năm
2013, nhỏ sinh năm 2014), cùng trú tại Bản N, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ny 04/4/2017, hin bị can đang bị tm giam
tại Trại tm giam ng an tỉnh Lào Cai. mặt.
3. H tên: Láo L; n gọi kc: Hi; Giới nh: Nam;
Sinh ngày 16/7/1987 . Tại huyện B, tỉnh Lào Cai;
- ĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện S, Lào Cai;
- Chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn V, xã T, huyện S, Lào Cai;
Nghnghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam;
n giáo: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ;
Con ông Tẩn P M ( Đã chết ); Bố dượng: Lò Diếu N - Sinh năm 1967; Mẹ
đẻ: Tẩn Tả M – Sinh năm 1960, cùng trú tại thôn V, xã T,huyện S, tỉnho Cai;
Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư.
Vợ 1: Chảo Tả M 1988 (ly hôn 2009) hiện trú tại thôn K, T, B, Lào
Cai;
Vợ 2: Vàng Mùi L 1992, trú tại thôn T 2, Thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào
Cai.
Bị cáo có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014).
Cùng trú tại tn T 2, Thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Tiền sự: Không; Tiền án: 03 tiền án:
+ Tại bản án s25/HSST ngày 28/9/2009 bị cáo bị a án nn dân
huyện S x phạt 01 m tù vtội “Trộm cắp tài sản. Ngày 20/7/2010 bị cáo
đã chấp hành xong hình phạt và thi hành xong khoản tiền án p nhưng
chưa thi hành khoản tiền trcho anh Vầy, do đó bị cáo chưa đưc xóa ánch.
+ Tại bản án số 56/2012/HSST ngày 19/11/2012 b cáo bTòa án nhân
n huyện B xphạt 01 năm tù vtội “Trm cắp i sản. Ny 23/8/2012 bị
cáo đã chấp nh xong hình phạt tù thi hành xong khoản tiền án p nhưng
3
chưa thi nh khoản tiền tr cho anh Km, do đó bị o chưa được a án
ch.
+ Tại bản án số 10/2017/HSST ngày 21/4/2017 bcáo bị Tòa án nn
n tỉnh Lào Cai x phạt 11 năm về tội “Mua bán người.
Bị cáo b bắt tm giam ngày 25/11/2016, hin bị cáo đang bị tm giam
tại Trại tm giam ng an tỉnh Lào Cai. mặt.
* Người bào chữa cho bcáo Văn M Láo L: Bà Họa T -
Trgiúp viên, Trung tâm trgp pháp lý nhà nưc tỉnh Lào Cai. mt.
Người bào chữa cho bcáo Bàn Văn Q: : Bà Trần Thị C - Tr giúp viên,
Trung m trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, nhưng có gibản
o chữa cho bị cáo.
* Những người bị hại:
1. Đặng Thị Đ - Sinh ngày 30/01/1997.
T tại: Thôn T, xã N, huyn B, tỉnh Lào Cai. mt.
2. Lý Thị V - Sinh ngày 11/11/1990.
T tại: Thôn N, B, huyn B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
3. Lý Th S Sinh năm 1994
T tại: Thôn N I, N, huyện B, tnh Lào Cai.Có mặt.
* Người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đặng Văn B - Sinh năm 1967 và bà Giàng Thị C Sinh năm 1969
(Là bố và mẹ đẻ của bị hại Đ).
Cùng trú tại thôn T, N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Ông B mặt ( bà C ủy
Q cho ông B tham gia tố tụng).
2. Anh Phàn A T Sinh năm 1983 (Là chồng của bị hại V).
Trú tại Tn N, B, huyn B, tỉnh Lào Cai. mt
3. Ông Lý Văn C - Sinh năm 1973 và bà Lý Thị C ( Là bố và mẹ đẻ của bị
hại S).
Trú tại: Tn N I, N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Ông C mặt (bà C ủy Q
cho ông C tham gia tố tụng).
Nời phiên dịch: Ông Văn T Sinh năm 1974
Trú tại: Thôn 7, Đ, tnh phố Lào Cai, tỉnh o Cai. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Khoảng đầu năm 2015 M đi làm thuê bên Trung Quốc thì gặp quen
một người phụ nữ tên P (người dân tộc Mông, sinh ra Việt Nam nhưng đã
lấy chồng và sống ở Trung Quốc). P bảo M về Việt Nam tìm phụ nữ trẻ (dưới 30
tuổi) đưa sang Trung Quốc bán cho P, P sẽ mua với giá từ 15000 CNY đến
4
17000 CNY. M đồng ý, P M đã cho nhau số điện thoại để tiện liên lạc. Cũng
trong thời gian này M quen Quàng Thị T (SN 1994, trú tại B, M, huyện Đ,
tỉnh Điện Biên). Văn M Láo L quan hệ tình cảm với hai người em
gái của Bàn Văn Q (SN 1992, Trú quán: Thôn 3 V, xã T, huyện B, Lào Cai) nên
M, Q, L quen biết nhau. Ttháng 8/2016 đến tháng 11/2017 Văn M, Bàn
Văn Q và Láo L đã cũng nhau thực hiện các lần lừa đưa phụ nữ sang Trung
Quốc bán, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 8/2016, thông qua mạng hội Zalo, M
quen biết Đặng Thị Đ (SN 1997, trú tại thôn T, xã N, huyện B, Lào Cai). Biết Đ
đang có nhu cầu tìm việc làm nên M nói M đang là cai cửu vạn ở bến và hứa tìm
việc làm cho Đ đồng thời hẹn gặp Đ tại thành phố Lào Cai, Đ đồng ý. Khoảng 3
đến 4 ngày sau Đ và M gặp nhau và cùng thuê một nhà nghỉ tại phường Phố Mới
để ở chung sau đó chuyển đến nhà nghỉ Q Linh thuộc phường Phố Mới ở chung
với Bàn Văn Q. Tại đây M đã rủ Q dụ dỗ đưa Đ sang Trung Quốc bán, Q đồng
ý. M gọi điện thoại cho P nhưng không gọi được. Văn M liền gọi điện thoại
cho o L hỏi L biết người nào bên Trung Quốc muốn mua phụ nữ Việt
Nam không thì L nói biết cho M số điện thoại của một người tên là S (L
quen biết S trong khoảng tháng 8/2016 L gặp S được S cho số điện thoại,
bảo L tìm phụ nữ Việt Nam khoảng dưới 30 tuổi đưa sang Trung Quốc bán cho
S, S sẽ trả 14.000CNY/người). Văn M liền gọi điện thoại cho S thì S đồng ý
mua Đ đồng thời hẹn nơi giao, nhận người tại biên giới đoạn đối diện thôn N, xã
B, M. Do M không biết mặt của S nên đã tiếp tục gọi điện thoại rủ L cùng tham
gia đưa Đ sang Trung Quốc bán cho S, khi bán được Đ thì M sẽ chia cho L, Q
mỗi người hơn 10 triệu đồng, L đồng ý. Ngày hôm sau, L đi xe mô của L đến
nhà nghỉ Q Linh đón Q, Đ, M đi ăn đêm tại khu vực gần chợ Cốc Lếu. Sau khi
ăn xong, M rủ Đ cùng đi sang Trung Quốc để M lấy tiền công làm thuê nhưng
thực chất là để lừa đưa Đ sang Trung Quốc bán, Đ đồng ý. L cùng Q đi xe máy
về một nhà nghỉ khu vực phường Phố Mới cất xe sau đó đón xe taxi đi ra đầu
cầu Cốc Lếu đón M, Đ. Cả bốn người đi taxi vào khu vực thôn N, B, M rồi
lội suối sang Trung Quốc gặp S đi ng một người phụ nữ. M, L, Q đã giao Đ
cho hai người này nhận số tiền 6.500CNY rồi về Việt Nam. M đã đổi số tiền
này ra tiền Việt Nam rồi chia cho Q 3 triệu đồng, L 2 triệu đồng. Khoảng một
tuần sau M được nhận nốt số tiền 7.500CNY, M đã chia tiếp cho Q 8 triệu đồng,
chưa kịp đưa cho L số tiền còn lại thì L đã bị bắt trong vụ án khác.
Sau khi bị bán sang Trung Quốc, chị Đặng Thị Đ bị bán lại nhiều lần sau
đó được Công an Trung Quốc giải cứu trao trả về Việt Nam ngày 08/4/2017
qua đường tiểu ngạch thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Vụ thứ hai: Ngày 17/10/2016 Lý Văn M tiếp tục tìm kiếm phụ nữ để làm
quen lừa bán. Thông qua mạng hội Zalo, M làm quen được Thị V (SN
1990, trú tại thôn N, xã B, huyện B, Lào Cai) đang điều trị bệnh tại Trung tâm Y
5
tế thành phố Lào Cai. Ngày m sau M hẹn gặp V. V than phiền chuyện gia
đình M liền nảy sinh ý định lừa đưa V sang Trung Quốc bán. M giả vờ hỏi V
đường đi sang Trung Quốc qua thôn N, B thì V nói biết. M liền rủ V
cùng đi sang Trung Quốc lấy tiền công làm thuê, khi lấy được về sẽ cho V 5
triệu đồng, V đồng ý. Chiều tối ngày hôm sau M gọi điện thoại rủ V đi Trung
Quốc, V đồng ý nên M gọi điện thoại cho P thông báo đã lừa được một phụ nữ
để đưa sang Trung Quốc bán. Sau đó M vào nick Zalo của V tải ảnh của V về
gửi cho P xem mặt và được P trả giá 12.000 CNY. M, P hẹn sẽ giao, nhận người
tại khu vực biên giới Trung Quốc đoạn giáp thôn N, B, M. Sau đó M đón xe
taxi đến khu vực Phòng khám đa khoa khu vực Cốc Lếu đón V đi vào thôn N 4,
B, huyện M. Tại đây V đã chỉ lối mòn đi sang Trung Quốc cách cột mốc 107
khoảng 800m nên M, V xuống trả tiền taxi rồi cùng nhau đi theo lối mòn sang
Trung Quốc gặp P đi cùng hai người đàn ông đến đón. M giới thiệu với V ba
người đó là bạn của M đến đón rồi bảo V lên xe đi cùng P và một người đàn ông
còn M sẽ đi sau. P đã trả cho M 6.000CNY hẹn khi nào bán được V sẽ trả
tiếp số tiền còn lại. Sau khi M vViệt Nam, P thông báo cho M do P bán V
cho người khác không được giá cao nên P không trả thêm tiền cho M nữa.
Sau khi bị bán sang Trung Quốc, Thị V bị bán lại nhiều lần và được
Công an Trung Quốc giải cứu trao trả về Việt Nam vào ngày 20/6/2017 qua
đường tiểu ngạch thuộc tỉnh Quảng Ninh.
- Vụ thứ ba: Khoảng cuối tháng 10/2016, Văn M, Bàn Văn Q đang
cùng với Quàng Thị T tại nhà nghỉ K khu vực dốc K30, phường Phố Mới.
Thời gian này Q hay nói chuyện qua mạng hội Zalo với Thị S (SN 1994,
trú tại thôn N I, N, huyện B, Lào Cai). Ngày 01/11/2016, Thị S đi xe
khách ra thành phố Lào Cai và gọi điện thoại cho Bàn Văn Q. Q đã đến đón S tai
khu vực cầu chui, đường Quốc lộ 70 rồi đưa S về cùng tại nnghỉ K gặp
M, T. Biết S đang nhu cầu tìm việc làm nên M nói dối M đang chủ cai
quân bốc vác bên Trung Quốc rủ S sang làm cho M, công việc là ghi chép
sổ sách, M sẽ trả lương cao, S đồng ý. M liền gọi điện thoại thông báo cho P
việc đã lừa được phụ nđể đưa sang Trung Quốc bán cho P đồng thời vào nick
Zalo của S tải ảnh của S gửi cho P và được P trả giá mua S 15000CNY. Sau
đó M rủ Q ng lừa đưa S sang Trung Quốc bán lấy tiền chia nhau, Q đồng ý.
Ngày 03/11/2017 M, Q thống nhất giả vờ rủ S cùng sang Trung Quốc lấy tiền
công đồng thời dẫn S đi xem công việc luôn. Để tạo lòng tin cho S, M dặn T nói
với S là T cũng sang Trung Quốc nhưng T sẽ đi qua Cửa khẩu quốc tế vì T có sổ
thông nh. Sau đó M gọi điện cho P tđược P hẹn đến tối sẽ đón người tại
biên giới Trung Quốc đoạn giáp N, B, M. Đến tối cùng ngày M rủ S sang Trung
Quốc lấy tiền công làm thuê của M đồng thời dẫn S đi xem công việc, S đồng ý.
Sau đó M bảo M sẽ đi trước xem công việc thế nào, M sẽ gọi xe ôm đón Q và S
đi sau, gặp nhau tại N. M đi vào N trước và thuê xe ôm đến đón Q và S. Khoảng
6
30’ sau có xe ôm đến đón Q, S vào đến thôn N gặp M. M, Q đưa S lội suối sang
Trung Quốc gặp P đi cùng một người đàn ông. M, Q giao S cho hai người này
được P trả cho số tiền 7000CNY, hẹn khi nào bán được S sẽ trả nốt số tiền
còn lại. Khoảng một tuần sau M sang Trung Quốc gặp P lấy nốt số tiền còn lại.
Tổng số tiền bán S được là 14000CNY, M đổi số tiền này ra tiền Việt Nam
được 50.000.000đ chia cho Q 14.000.000 đồng nhưng M đưa Q 10.000.000
đồng, còn 4.000.000 đồng M vay lại. Khi gặp lại T, M nói đã bán S chia cho
T 10.000.000 đồng (Bút lục 45, 50). Sau khi bị bán sang Trung Quốc, Thị S
bị bán lại nhiều lần, sau đó được Công an Trung Quốc giải cứu trao trả về
Việt Nam ngày 19/01/2017 qua được Cửa khẩu Quốc tế L.
Số tiền bán các bị cáo được do bán các bhại tiền do phạm tội mà
có, các bị cáo Bàn Văn Q, Lò Láo L đã tiêu xài cá nhân hết; bị cáo Lý Văn M đã
dùng tiền do phạm tội phạm mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung
Galaxy J7 Prime; 01 xe mô hiệu Wave α, biển kiểm soát 24B1 - 974.74 sau
đó M bán lại chiếc xe này cho một người không quen biết tại huyện B, số tiền
còn lại bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra, các bị cáo Văn M, Bàn Văn Q, Láo L đã thành
khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (BL33-54; 80-85B, 102-116).
Cáo trạng số 42/KT ny 24/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Lào Cai truy tố các bị cáo n M, Bàn Văn Q vtội "Mua n người" theo
quy định tại Điều 119 khoản 2 điểm đ, g B lut hình sự; Bị o Láo L v
tội “Mua n người theo quy định tại Điều 119 khoản 2 đim đ Bộ luật nh
sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ nguyên
quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Văn M, n n Q và Láo L phạm tội Mua
bán người”.
Áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20,
Điều 53 Bộ luật hình sự.
- Xphạt bị cáo Văn M mức án từ 10 (Mười) năm đến 12 (Mười hai)
năm tù.
- Xphạt bị cáo Bàn Văn Q mức án từ 07 (bảy) năm đến 09 (Chín) năm
.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g
khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự :
Xphạt bị cáo Láo L mức án từ 05 (năm) m đến 07 (bảy) năm tù.
Áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của 02 bản án,
tổng cộng hình phạt chung bị cáo L phải chấp hành là 17 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo các bị cáo không
có tài sản gì.
7
Về trách nhiệm dân s xử lý vt chng: Đề nghị Hội đngt x gii quyết
theo quy định ca pháp lut.
Nời bào cha cho c bị o nhất trí với quan điểm của đại diện Viện
kiểm t về tội danh áp dụng điều luật nhưng cho rằng bị o M bđược
tặng thưởng huân chương nhưng đại diện Viện kiểm sát áp dụng khoản 2 Điều
46 Bộ luật hình sự năm 1999 là không C xác và không có lợi cho bị cáo mà phải
áp dụng điểm x Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 mới đúng. Đối với mức hình
phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo quá nghiêm khắc, bởi các bị
cáo đều người dân tộc thiểu số, sống vùng S vùng xa, tuổi đời còn rất trẻ,
trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo M và Q chưa
tiền án, tiền sự, quá trình khai báo thành khẩn ăn năn hối cải. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Văn M mức án 09 (Chín) năm tù;
Bàn Văn Q mức án 06 (sáu) năm tù; Láo L mức án 05 (năm) m
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng t xử giải quyết theo quy định
của pp luật.
n cứo các chứng cứ, tài liu đã được thẩm tra ti phn tòa. Căn cứo
kết qutranh luận tại phn a trên sở xem t, đánh giá đầy đủ, toàn diện c
chứng cứ, ý kiến của Kiểm t vn, ngưi bào chữa cho các bị cáo, bị cáo, những
người bị hại người tham gia tố tụng khác.
T THẤY:
Tại phiên t các bị cáo Văn M, Bàn Văn Q Lò Láo L đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bcáo tại phiên tòa phù
hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của các
bị hại phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Các bo n M, n Văn Q, Lò Láo L những người đủ ng
lực trách nhiệm hình sự. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2016 đến đầu tháng
11/2016 các bị cáo đã thực hiện 03 vụ lừa đưa 03 phụ nữ sang Trung Quốc bán
lấy tiền chia nhau tiêu sài. Trong đó bị cáo Lý Văn M thực hiện 03 vụ, bịo Bàn
n Q thực hiện 02 vụ. nh vi của bị cáo M và Q đã phm o tội Mua bán
người với tình tiết định khung Để đưa ra nước ngoài” “Phạm tội nhiều
lần”. Bị cáo Lò Láo L thực hiện 01 vụn đã phạmo tội “Mua bán người với
tình tiết định khung “Để đưa ra nước ngoài”. vậy Cáo trạng của Vin kiểmt
nhân dân tnh Lào Cai truy tố các bị cáo Văn M, Bàn Văn Q về tội "Mua bán
người" theo quy định tại Điều 119 khoản 2 điểm đ, g Bluật hình sự; Bcáo
Láo L vtội “Mua bán người” theo quy định tại Điu 119 khoản 2 điểm đ
Bộ luậtnh s là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bcáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng,
trực tiếp xâm phạm đến Q tự do về thân thể, nhân phẩm danh dự của con
8
người được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã coi con người như một thứ hàng hóa
để mua bán, trao đổi. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an địa
phương gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải x
các bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật thì mới tác dụng giáo dục, cải
tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích và mới đáp ứng được yêu cầu đấu
tranh phòng chống tội phạm cho xã hội.
Đây vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn trong đó bị o Văn
M là người khởi xướng, chủ mưu và tham gia 03 vụ nên bị o M giữ vai trò thứ
nhất. Bị cáo Bàn Văn Q, o L là người thực hành tích cực trong việc lừa các
bị hại để đưa sang Trung Quốc bán, Q tham gia 02 vụ nên giữ vai trò thứ 2; L
tham gia 01 vụ n givai tthứ 03.
Tuy nhiên t thấy: c bcáo đều ngưi dân tộc thiểu số, trình độ n
a còn thp, bị o L không được đi họcn nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị
o M Q ca tin án, tiền sự; Quá trình điều tra tại phn tòa hôm nay c
bịo đu tnh khẩn khaio, đây những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p
khoản 1 Điều 46 của Bộ luậtnh sự năm 1999. Rng bịo Lý Văn M có bđẻ
Lý A Sửu có thành tích được tặng tng huân cơng n cn áp dụng cho bị cáo
nh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật nh sự m
2015.
Đối với bị cáo Láo L đã 03 tiền án, lần phạm ti này tái phạm nguy
hiểm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Do đó khing hình cũng cần
xem t để n nhắc mức án cho phù hợp đối với từng bị o theo đúng quy định
của pp luật để thhin C sách khoan hồng của pp luật.
Về hình pht b sung: Tại bút lục số 32;101; bn bnc M ny 19 và ny
28/7/2017 C Q địa pơng cung cp: Các b cáo đều kng có tài sn riêng và chung
gì n kng áp dụng hình phạt bsung là phạt tin đối với các bcáo.
Quá trình điều tra bị o n M còn khai nhận: Ngoài 03 lần lừa đưa
phụ nữ đưa sang Trung Quốc n đã nêu trên thì khoảng tháng 11/2016 bị cáo
cùng Quàng Thị T dụ dỗ, lừa gạt một phụ n không rõ lai lịch, địa chỉ sang Trung
Quốc bán cho đối tượng tên là P với giá 12000CNY và chia nhau mỗi người được
một nửa. Tuy nhiên, hiện Quàng Thị T đã bỏ đi khỏi địa phương, quan điều
tra chưa xác M được nhân thân, lai lịch của người bị hại. Do đó khi nào có đủ căn
cứ sẽ đcập xlý sau.
Đối với người phụ nữ tên là P người đàn ông có tên là S những người
đã tham gia việc mua bán Đặng ThĐ, Thị V Lý Thị S, quá trình điều tra
không c định được địa chcụ thể, quan điều tra tiến hành phối hợp xác M
nhưng không làm được, nên không đề cập xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự:
Chị Đặng Thị Đ đề nghị các bị cáo phải bồi thường 30.000.000đ tiền danh
dự nhân phẩm; 4.000.000đ tiền mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam
9
Sung Galaxy J5; 250.000 đồng tiền mua 01 chiếc nhẫn bạc; 7.200.000đ tiền mua
01 chiếc nhẫn vàng 02 chỉ, là những tài sản Đặng Thị Đ bị mất trong quá trình bị
các bị cáo đưa đi bán bên Trung Quốc.
Ông Đặng Văn B Giàng Thị C (là bố, mẹ đẻ của chị Đ) yêu cầu các
bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 12.000.000đ và tiến chi phí đi tìm chị
Đ là 20.000.000đ (BL 122-129).
Chị Thị V yêu cầu bị cáo Văn M bồi thường danh dự nhân phẩm
với số tiền là 40.000.000đ.
Anh Phàn A T (chồng chị V) yêu cầu bị cáo M phải bồi thường tiền chi
phí đi tìm chị V với số tiền là 30.000.000đ.
Chị Thị S đề nghị các bị cáo bồi thường danh dự nhân phẩm với số
tiền 100.000.000đ và tiền trị giá các tài sản đã bị mất gồm: 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Sam Sung là 2.000.000đ và tiền mua 01 máy tính bảng trị giá
4.000.000đ; 01 lắc bằng bạc g500.000đ cùng một squần áo các dụng cụ
sạc điện thoại sạc máy tính bảng. Ông Văn C Thị C ( bố, mẹ
đẻ của chị S) có yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền 12.000.000đ
7.290.000đ chi phí đi tìm chị S (BL148-153).
Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với khoản tiền c bị hại Đặng Thị Đ, Thị V ThS yêu cầu
các bị cáo phải bồi thường tiền tổ thất về danh dự, nhân phẩm C đáng, nhưng
mức yêu cầu là quá cao, bởi vì tại khoản 2 Điều 592 của Bộ luật dân sự năm 2015
quy định: Mức bồi thường đắp tổn thất tinh thần do các n thỏa
thuận, nếu kng thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá 10 lần mức ơng sở do Nhà nước quy
định”.
Hiện nay theo quy định của nhà ớc thì 01 tháng lương cơ sở
1.300.00. Do vậy, chỉ chấp nhận mt phần yêu cu ca nhng người bị hại, buộc
các bị o phải bồi thưng cho mỗi bị hại số tin tổn thất danh dự, nhân phẩm
13.000.000đ.
Đối với u cầu của chị Đặng ThĐ buộc các bị o phải trả 4.000.000đ
tiền mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J5; 250.000đ
tiền mua 01 chiếc nhẫn bạc; 7.200.000đ tiền mua 01 chiếc nhẫn vàng những
tài sản Đ bị mất trong quá trình bị mua, bán bên Trung Quốc.
Hội đồng t xử xét thấy: Tại bút lục số 220 bị o M khai: Đ để quên
phòng tr01 chiếc i n trong có 01 điện thoi Sam Sung, 01 nhn bc đồ
ng lặt vặt của phụ nữ. Bị cáo M đã lấy chiếc nhẫn bạc bán được 80.000đ, các thứ
khác M đã vứt xuống ng. Do đó cần phải buộc bị cáo M phải trcho bị hại Đ
4.250.000đ tiền trị giá chiếc điện thoại chiếc nhẫn bạcTi phn t c bị o
Lý n M, Bàn n Q và Láo L đã khai nhận tn b hành vi phạm tội, li khai
nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phợp với c lời khai của các bị cáo tại cơ
10
quan điều trang như lời khai củac bị hại và phù hợp với cáci liệu, chứng cứ
khác trong hồ sơ vụ án.
Các bo n M, n Văn Q, Lò Láo L những người đủ ng
lực trách nhiệm hình sự. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2016 đến đầu tháng
11/2016 các bị cáo đã thực hiện 03 vụ lừa đưa 03 phụ nữ sang Trung Quốc bán
lấy tiền chia nhau tiêu sài. Trong đó bị cáo Lý Văn M thực hiện 03 vụ, bịo Bàn
n Q thực hiện 02 vụ. nh vi của bị cáo M và Q đã phm o tội Mua bán
người với tình tiết định khung Để đưa ra nước ngoài” “Phạm tội nhiều
lần”. Bị cáo Lò Láo L thực hiện 01 vn đã phạm vào tội “Mua bán người với
tình tiết định khung “Để đưa ra nước ngoài”. vậy Cáo trạng của Vin kiểmt
nhân dân tnh Lào Cai truy tố các bị cáo Văn M, Bàn Văn Q về tội "Mua bán
người" theo quy định tại Điều 119 khoản 2 điểm đ, g Bộ luật nh sự; Bị cáo
Láo L vtội “Mua bán người” theo quy định tại Điu 119 khoản 2 điểm đ
Bộ luậtnh s là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bcáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng,
trực tiếp xâm phạm đến Q tự do về thân thể, nhân phẩm danh dự của con
người được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã coi con người như một thứ hàng hóa
để mua bán, trao đổi. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an địa
phương gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải x
các bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật thì mới tác dụng giáo dục, cải
tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích và mới đáp ứng được yêu cầu đấu
tranh phòng chống tội phạm cho xã hội.
Đây vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn trong đó bị o n
M là người khởi xướng, chủ mưu và tham gia 03 vụ nên bị o M giữ vai trò thứ
nhất. Bị cáo Bàn Văn Q, o L là người thực hành tích cực trong việc lừa các
bị hại để đưa sang Trung Quốc bán, Q tham gia 02 vụ nên givai trò thứ 2; L
tham gia 01 vụ n givai tthứ 03.
Tuy nhiên t thấy: c bcáo đều ngưi dân tộc thiểu số, trình độ n
a còn thp, bị o L không được đi họcn nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị
o M Q ca có tiền án, tiền s; Qtrình điều tra tại phiên a hôm nay c
bịo đu tnh khẩn khaio, đây những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p
khoản 1 Điều 46 của Bộ luậtnh sự năm 1999. Rng bịo Lý Văn M có bđẻ
Lý A Sửu có thành tích được tng tởng hn chương nên cần áp dụng cho bị cáo
nh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật nh sự m
2015.
Đối với bị cáo Láo L đã 03 tiền án, lần phạm ti này tái phạm nguy
hiểm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Do đó khing hình cũng cần
xem t để n nhắc mức án cho phù hợp đối với từng bị o theo đúng quy định
của pp luật để thhin C sách khoan hồng của pp luật.
11
Về hình pht b sung: Tại bút lục số 32;101; bn bảnc M ngày 19 và ngày
28/7/2017 C Q địa pơng cung cp: Các b cáo đều kng có tài sn riêng và chung
gì n kng áp dụng hình phạt bsung là phạt tin đối với các bcáo.
Quá trình điều tra bị o n M còn khai nhận: Ngoài 03 lần lừa đưa
phụ nữ đưa sang Trung Quốc n đã nêu trên thì khoảng tháng 11/2016 bị cáo
cùng Quàng Thị T dụ dỗ, lừa gạt một phụ n không rõ lai lịch, địa chỉ sang Trung
Quốc bán cho đối tượng tên là P với giá 12000CNY và chia nhau mỗi người được
một nửa. Tuy nhiên, hiện Quàng Thị T đã bỏ đi khỏi địa pơng, quan điều
tra chưa xác M được nhân thân, lai lịch của người bị hại. Do đó khi nào có đủ căn
cứ sẽ đcập xlý sau.
Đối với người phụ nữ tên là P người đàn ông có tên là S những người
đã tham gia việc mua bán Đặng ThĐ, Thị V Thị S, quá trình điều tra
không c định được địa chcụ thể, quan điều tra tiến hành phối hợp xác M
nhưng không làm được, nên không đề cập xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự:
Chị Đặng Thị Đ đề nghị các bị cáo phải bồi thường 30.000.000đ tiền danh
dự nhân phẩm; 4.000.000đ tiền mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam
Sung Galaxy J5; 250.000 đồng tiền mua 01 chiếc nhẫn bạc; 7.200.000đ tiền mua
01 chiếc nhẫn vàng 02 chỉ, là những tài sản Đặng Thị Đ bị mất trong quá trình bị
các bị cáo đưa đi bán bên Trung Quốc.
Ông Đặng Văn B Giàng Thị C (là bố, mẹ đẻ của chị Đ) yêu cầu các
bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 12.000.000đ và tiến chi phí đi tìm chị
Đ là 20.000.00(BL 122-129).
Chị Thị V yêu cầu bị cáo Văn M bồi thường danh dự nhân phẩm
với số tiền là 40.000.000đ.
Anh Phàn A T (chồng chị V) yêu cầu bị cáo M phải bồi thường tiền chi
phí đi tìm chị V với số tiền là 30.000.000đ.
Chị Thị S đề nghị các bị cáo bồi thường danh dự nhân phẩm với số
tiền 100.000.000đ và tiền trị giá các tài sản đã bị mất gồm: 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Sam Sung là 2.000.000đ và tiền mua 01 máy tính bảng trị giá
4.000.000đ; 01 lắc bằng bạc giá 500.000đ cùng một số quần áo các dụng cụ
sạc điện thoại sạc máy tính bảng. Ông Lý Văn C Thị C ( bố, mẹ
đẻ của chị S) có yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền 12.000.000đ và
7.290.000đ chi phí đi tìm chị S (BL148-153).
Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với khoản tiền c bị hại Đặng Thị Đ, Thị V ThS yêu cầu
các bị cáo phải bồi thường tiền tổ thất về danh dự, nhân phẩm C đáng, nhưng
mức yêu cầu là quá cao, bởi vì tại khoản 2 Điều 592 của Bộ luật dân sự năm 2015
quy định: Mức bồi thường đắp tổn thất tinh thần do các n thỏa
thuận, nếu kng thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân
12
phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá 10 lần mức ơng sở do Nhà nước quy
định”.
Hiện nay theo quy định của nhà ớc thì 01 tháng lương cơ sở
1.300.00. Do vậy, chỉ chấp nhận mt phần yêu cu ca nhng người bị hại, buc
các bị o phải bồi thưng cho mỗi bị hại số tin tổn thất danh dự, nhân phẩm
13.000.000đ.
Đối với yêu cầu của chĐng ThĐ buộc các bo phải tr4.000.000đ
tiền mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J5; 250.000đ
tiền mua 01 chiếc nhẫn bạc; 7.200.000đ tiền mua 01 chiếc nhẫn vàng những
tài sản Đ bị mất trong quá trình bị mua, bán bên Trung Quốc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bút lục số 220 bị cáo M khai: Đ để quên
phòng trọ 01 chiếc túi bên trong 01 điện thoại Sam Sung, 01 nhẫn bạc đồ
dùng lặt vặt của phụ nữ. Bị cáo M đã lấy chiếc nhẫn bạc bán được 80.000đ, các
thứ khác M đã vứt xuống sông. Do đó cần phải buộc bị cáo M phải trả cho bị hại
Đ 4.250.000đ tiền trị giá chiếc điện thoại chiếc nhẫn bạc. Còn những yêu cầu
khác không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu của bị hại Lý Thị S về các tài sản đã bị mất gồm: 01 điện
thoại di động nhãn hiệu Sam Sung 2.000.000đ tiền mua 01 máy tính bảng
trị giá 4.000.000đ; 01 lắc bằng bạc trị giá 500.000đ cùng một số quần áo và các
dụng cụ sạc điện thoại sạc máy tính bảng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bút lục số 54 bị cáo M thừa nhận có lấy của
Lý Thị S 01 chiếc điện thoại nhưng hiện nay đã bị hỏng. Do vậy cần buộc bị cáo
M phải trả cho bị hại S 2.000.000đ tiền trị giá chiếc điện thoại.
Tại bút lục 221 bị o Bàn Văn Q thừa nhận có lấy của Lý Thị S 01 chiếc
máy tính bảng, nhưng hiện nay Q đã làm hỏng. Do vậy cần buộc bcáo Q phải
trả cho bị hại S 4.000.000đ tiền trị giá chiếc máy tính bảng. Còn những yêu cầu
khác là không có căn cứ chấp nhận.
Riêng đối với yêu cầu của những người đại diện theo ủy Q: Ông Đặng
Văn B ông Văn C mỗi người yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổn thất
tinh thần 12.000.000đ không căn cứ chấp nhận bởi theo quy định tại
Điều 592 của Bộ luật n sự thì khoản tiền tổn thất tinh thần phải bồi thường
trực tiếp cho người bị xâm phạm. Do vậy, trong trường hợp này thì người bị
xâm phạm là chị Đ và chị S.
Đối với khoản tiền chi phí đi tìm các bị hại: Ông Đặng Văn B anh Phàn
A T u cầu mức bồi thường 30.000.000đ quá cao. Ông B anh T đưa ra
chứng M nhưng và không phù hợp với thực tế nên chỉ chấp nhận buộc các bị cáo
phải bồi thường cho mỗi người số tiền 15.000.000đ; Ông Văn C yêu cầu
bồi thường 7.290.000đ là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ.
Tn bộ stin nhng người bị hại nhng người Quyền lợi liên quan
yêu cầu sẽ buộc các bị o phải bồi thường căn cứ theo vai trò của từng bị o.
13
Về vật chứng của vụ án: Tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày
25/8/2017 giữa quan điều tra quan thi nh án dân sự tỉnh Lào Cai gồm
có: 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam Sung
Galaxy J7 Prime, màu đồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng, kèm theo sim Viettet,
không kiểm tra chi tiết bên trong. Chiếc điện thoại đó bị cáo M đã dùng để thực
hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Ngoài ra, đối với số tiền các bị cáo bán các bị hại gồm:
Số tiền bán bị hại Đ được 14000NDT, nhưng bị cáo M khai không nhớ đã
đổi được bao nhiêu tiền Việt Nam.
n cứ vào biên bản ngày 24/5/2017 (Bút lục số 06) do Ngân hàng cung
cấp thì tại thời điểm đó thì 01 nhân dân tệ giá mua vào 3.335đ. Do vậy
14000NDT x 3.335đ = 46.690.000VNĐ, số tiền y M đã chia cho Bàn Văn Q
11.000.000đ và L 2.000.000đ, số còn lại M giữ là 33.690.000đ.
S tiền bán bhại V 6000NDT, bị cáo M khai không nhớ đã đổi được
bao nhiêu tiền Việt Nam.
Căn cứ o biên bản ngày 24/5/2017 (Bút lục số 06) do Ngân hàng cung
cấp thì tại thời điểm đó thì 01 nhân n tệ giá mua vào 3336đ. Do vậy
6000NDT x 3336đ = 20.016.000đ, số tiền này là do một mình M được ởng.
Số tiền bán bị hại S được 14000NDT, b cáo M khai đã đổi được
50.000.000đ tiền Việt Nam M đã chia cho Bàn n Q Quàng Thị T mỗi
người 10.000.000đ nhưng hiện nay T đã bỏ trốn, số còn lại 30.000.000đ M
giữ (Bút lục số 45).
Như vậy tổng số tiền do bán các bị hại Văn M được chia
83.706.000đ (Tám mươi ba triệu bảy trăm linh sáu nghìn đồng) trong đó M đã
sử dụng 6.200.000đ để mua chiếc điện thoại hiện đang bị quan điều tra thu
giữ (Bút lục 42), do vậy cần được khấu trừ cho bị cáo khoản tiền này; Bàn Văn
Q được 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng); Láo L được 2.000.000đ
(Hai triệu đồng). Toàn bộ số tiền các bị cáo được đều do phạm tội ,
hiện nay các bị cáo đã chi tu cá nn hết nên theo quy định của pháp luật thì cần
phải truy thu của c bị cáo để sung qunhàớc.
V án phí: c b o phải chịu án phí hình sự thẩm án phí n sự
thẩm theo quy định ca pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo: Văn M, Bàn Văn Q và Láo L phạm tội:
Mua bán người”.
2. Áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều
20, Điều 53 Bộ luật hình sự 1999 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày
14
20/6/2017; Khoản 3 Điều 7; Điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm
2015:
Xử phạt bị cáo Lý Văn M mức án 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/4/2017.
- Áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20,
Điều 53 Bộ luật hình sự :
Xử phạt bị cáo Bàn Văn Q mức án 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/4/2017.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g
khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự :
Xử phạt bị cáo Lò Láo L mức án 06 (Sáu) năm tù.
Áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai
bản án, tổng cộng hình phạt chung bị cáo Láo L phải chấp hành 17 (Mười
bẩy) năm . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam
25/11/2016.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật nh sự; Điều 584,
Điều 587 Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc các bị cáo Văn M, n n Q Lò o L phải liên đới bồi
thường tiền danh dự, nhân phẩm cho người bị hại Đặng Thị Đ số tiền là
13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) bồi thường tiền chi phí đi tìm người bị hại Đ
cho ông Đặng n B Giàng Thị C mỗi người 7.500.000đ (Bảy triệu năm
trăm nghìn đồng). Tổng cộng các bị cáo phải bồi thường cả hai khoản tiền
28.000.000đ (Hai ơi tám triệu đồng). Phần cụ thể: Văn M 13.000.00
(Mười ba triệu đồng); Bàn Văn Q 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và
Láo L 7.500.00(Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Buộc bị cáo n M phải bồi thường cho chĐặng Thị Đ 4.250.000đ
(Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền trị giá i sản bị mất.
Buộc bị cáo Lý Văn M phải bồi thường 13.000.000đ (Mười ba triệu
đồng) tiền danh dự, nhân phẩm cho bị hại Thị V bồi thưng cho anh Phàn
A T 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) tiền chi phí đi tìm bị hại V. Tổng cộng bị
o M phải bồi tng cả 02 khoản tiền 28.000.00(Hai mươi m triệu đồng).
Buộc các bị cáo n M n Văn Q phải liên đới bồi thường cho b
hại Thị S: 13.000.000đ (Mưi ba triệu đồng) tiền danh dự, nhân phẩm Bi
thường ông Lý Văn C Lý Thị C mỗi người 3.645.00 (Ba triệu sáu trăm bốn
mươi m nghìn đồng) tiền chi phí đi tìm bị hại S . Tổng cộng c bị o phải bồi
thường cả 02 khoản tiền là 20.290.00 (Hai mươi triệu hai trăm chín mươi nghìn
đồng). Phần cụ thể: Văn M phải bồi thường số tiền 12.290.000đ (Mười
hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng); Bàn Văn Q 8.000.000đ (Tám triệu
đồng).
15
Văn M phải bồi thường cho Thị S 2.000.000đ (Hai triệu đồng) tin
trgiá 01 chiếc điện thoại Săm sung bmất;
Bàn Văn Q phải trả cho bhại Thị S 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền
trị giá của 01 chiếc máy tính bảng bị mất.
Tổng cộng mỗi bị o phi bồi tờng cho những người bị hại nhng
người có quyền lợi liên quan tng s tin là: Lý n M 59.540.00 (m mươi
chín triệu năm trăm bốn mươi ngn đồng); n Văn Q 19.500.000đ (ời
chín triệu m tm ngn đồng) Láo L 7.500.000đ (Bảy triệum trăm
ngn đồng).
4. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự
Điều 41 Bộ luật hình sự:
Tịch thu sung quỹ nhà nước của Văn M: 01 (Một) chiếc điện thoại di
động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J7 Prime, màu đồng, điện
thoại cũ đã qua sử dụng, kèm theo sim Viettet, không kiểm tra chi tiết bên trong.
(Các vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày
25/8/2017).
Truy thu của c bị cáo để sung quỹ n nước đối với số tiền do phạm ti
mà cụ th như sau: Lý Văn M số tiền 77.506.000đ ( Bẩy mươi bẩy triệu m
trăm linh sáu nghìn đồng);nn Q 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đng); Lò
Láo L 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Kể tngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án, quan thi hành án ra quyết định thi hành án cho đến khi
thi hành xong các khoản tiền trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án
theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
5. V án phí: Áp dng Điều 99 Blut tố tng hình s Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14.
Buộc các bị cáo Văn M, Bàn Văn Q và Láo L mỗi bị cáo phi chu
200.00 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án p hình s sơ thẩm.
c bcáo phi chịu tiền án phí n sự thẩm: Lý Văn M 2.977.000đ
(Hai triệu chín tm bảy mươi by nghìn đồng); Bàn Văn Q 975.00 (Chín
tm bảy mươi bảy ngn đồng) Láo L 375.00 (Ba trăm by m
ngn đồng).
Tổng cộng mỗi bịo phải chịu cả 02 loại tin án phí nh sự sơ thẩmn
sự sơ thẩm : Văn M 3.177.000đ (Ba triệu một trăm bảy mươi by ngn
đồng; Bàn Văn Q 1.175.000đ (Một triệu một tm by lăm nghìn đồng) và
o L 575.000đ (Năm trăm by m ngn đồng).
Bcáo, những ngưi bị hi, nhng ngưi có Quyn lợi, nghĩa v ln quan
được Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
16
“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự ”.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao 1;
- VKSND tỉnh Lào Cai 2;
- Công an tỉnh 1;
- Bị cáo 3; BH 3;
- Trại giam 1; NLQ3;
- NBC 2;
- THA 5; STP 1;
- Lưu HS 02.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Lù Làn Din
Tải về
Bản án số 41/2017/HSST Bản án số 41/2017/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất