Bản án số 408/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 408/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 408/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 408/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 27/8/2025, anh Nguyễn Tấn T2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 408/2026/DS-PT Bản án số 408/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 408/2026/DS-PT Bản án số 408/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 408/2026/DS-PT
Ngày 10 tháng 6 năm 2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Phùng Văn Định
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Hiền - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện Kiểm t nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Huỳnh Diễm Lệ- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 451/2025/TLPT-DS ngày 5 tháng 11
năm 2025 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 29/2025/QĐ-PT ngày 05
tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1956, địa chỉ trú: ấp Ô,
K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo y quyền của nguyên đơn: Ông Văn T, sinh năm
1951. Địa chỉ: ấp Ô, K, tỉnh Mau (Theo hợp đồng ủy quyền ngày
29/01/2026). (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M (M5), sinh năm 1956, địa chỉ: ấp Ô, K,
tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Văn Ú, sinh năm 1984.
Địa chỉ: ấp L, K, tỉnh Mau (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 27/01/2026).
(Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1995, địa chỉ trú: Số A, T, phường L,
tỉnh Cà Mau.
2. Anh Nguyễn Tấn T2; sinh năm 1990, địa chỉ trú: Số A, T, phường L,
2
tỉnh Cà Mau.
3. Đinh Thị X; sinh năm 1967, địa chỉ trú: Số A, T, phường L, tỉnh
Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Tấn T1, bà Đinh Thị X: Anh
Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A, T, phường L, tỉnh Mau. (Có
mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Tấn T2: Luật
Huỳnh Công D Văn phòng luật Huỳnh Công D thuộc đoàn luật tỉnh C.
(Vắng mặt)
4. Bà Phạm Mỹ L, sinh năm 1959, địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Mỹ L: Ông Lê Văn Ú, sinh năm
1984. Địa chỉ: ấp L, K, tỉnh Mau (Theo hợp đồng ủy quyền ngày
27/01/2026). (Có mặt)
5. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1951 (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông D1:
5.1 Anh Nguyễn Trung K (Vắng mặt)
5.2 Anh Nguyễn Trung K1, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
5.3 Anh Nguyễn Văn H1 (Vắng mặt)
5.4 Anh Nguyễn Chí T3 (Vắng mặt)
5.5 Anh Nguyễn Thanh T4 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Đường T, khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau.
6. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1971 (chết)
Địa chỉ cư trú: số A, Trương Phùng X1, khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau.
7. Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1974, địa chỉ trú: ấp Ô, xã K, tỉnh
Mau. (Vắng mặt)
8. Nguyễn Thị , sinh năm 1959, địa chỉ trú: ấp Ô, K, tỉnh
Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Ẩ: Ông Nguyễn Quang S,
sinh năm 1961, địa chỉ: Khóm A, xã T, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
9. Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1947, địa chỉ: ấp Ô, K, tỉnh Mau.
(Có mặt)
10. Ông Lê Văn C, sinh năm 1974, địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uquyền của ông Văn C: Ông Văn T, sinh năm
1951, địa chỉ: ấp Ô, K, tỉnh Mau (Theo hợp đồng ủy quyền ngày
03/02/2026). (Có mặt)
11. Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1970, địa chỉ trú: ấp Ô, K, tỉnh Cà
Mau. (Có mặt)
12. Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1952, địa chỉ trú: ấp Ô, K, tỉnh
3
Cà Mau
Người đại diện theo y quyền của ông Nguyễn Hoàng Đ: Ông Trần Văn
Ú1, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp L, xã K, tỉnh Mau (Theo hợp đồng ủy quyền
ngày 20/5/2026). (Có mặt)
13. Nguyễn Thị N, địa chỉ cư trú: ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
14. Chị Nguyễn Thị N1, địa chỉ trú: ấp B, K, tỉnh Mau. (Vắng
mặt)
15. Chị Nguyễn Thị P, địa chỉ cư trú: ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
16. Nguyễn Tuyết N2; sinh năm 1973, Địa chỉ cư trú: Đường A; phường
T, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
17. Chị Nguyễn Kim T5 (T6), sinh năm 1991, địa chỉ trú: Đường A,
Phường T, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
18. Chị Nguyễn Kim N3, địa chỉ trú: đường A, phường T, tỉnh Mau.
(Vắng mặt)
19. Dương Thị M2, sinh năm 1969 (chết)
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của M2: Anh Nguyễn Trung
N4, sinh năm 2000 và chị Nguyễn Thị Bé T7, sinh năm 2001. (Vắng mặt)
20. Anh Nguyễn Trung N4, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
21. Chị Nguyễn Thị Bé T7, sinh năm 2001 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Đường H, khu phố A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
22. Anh Nguyễn Nhựt Đ1 (Vắng mặt)
23. Chị Kim P1 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau;
24. Thị H2, sinh năm 1945, địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
25. Ông Huỳnh Văn N5, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp Ô, K, tỉnh Mau
(đã chết ngày 01/12/2025)
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông N5: Nguyễn Kim V, sinh
năm 1968; địa chỉ: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
26. Ông Huỳnh Văn C2, sinh năm 1972
27. Ông Huỳnh Văn C3, sinh năm 1976
Cùng địa chỉ: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau;
28. Huỳnh Thị D2, sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau
Người đại diện theo ủy quyền của anh bà Lê Thị H2, bà Nguyễn Kim V, ông
Huỳnh Văn C2, ông Huỳnh Văn C3, Huỳnh Thị D2: Ông Nguyễn Quang S,
sinh năm 1961; Địa chỉ: Khóm A, xã T, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
29. Bà Châu Bích T8, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
4
30. Anh Lê Chí T9, sinh năm 2004 (Vắng mặt)
31. Chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
32. Anh Hồ Văn H3, sinh năm 1976 (Có mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
33. Thị G, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
34. Anh Nguyễn Văn D3, sinh năm 1987
Địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn D3: Ông Nguyễn Quang
S, sinh năm 1961, địa chỉ: Khóm A, xã T, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
35. Trần Thị T10, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp Ông B, xã Khánh Bình, tỉnh Cà Mau
36. Bà Lưu Thị N6, sinh năm 1962 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
37. Bà Huỳnh Thị V1, sinh năm 1956. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Đường T, khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau.
38. Ông Lê Văn T, sinh năm 1951, (Có mặt)
Địa chỉ: ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn Lê Văn T trình bày:
- Cha mẹ bà H (cũng là cha mẹ vợ của ông) là cụ Nguyễn Văn L4 (chết năm
2002), mẹ cụ Phạm Thị T11 (chết năm 2001), sinh thời các cụ mười người con
cụ thể:
+ Ông Nguyễn Văn D1 (ông D1 chết năm 2025)
+ Ông Nguyễn Văn Đ2 (ông Đ2 chết năm 1977, vợ tên C4 không biết họ
tên cụ thể, địa chỉ ở, không có con chung giữa ông Đ2 và bà C4)
+ Bà Nguyễn Thị H
+ Ông Nguyễn Chí T12 (ông T12 chết khi còn nhỏ lúc 03 tuổi)
+ Ông Nguyễn Văn T13 (ông T13 chết năm 2008, vợ Đinh Thị X, con
Nguyễn Tấn T2, Nguyễn Tấn T1)
+ Ông Nguyễn Văn M
+ Ông Nguyễn Văn T14 (ông T14 chết năm 2018, 02 người vợ, một
Nguyễn Thị N, bà N và ông T14 có 02 người con là Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị P
cùng địa chỉ ấp B, K, tỉnh Mau; người vợ thứ hai Nguyễn Thị M3, ông
5
T14 và M3 có hai người con tên Nguyễn Trung N7, Nguyễn Thị Bé T7, giữa bà
M3 ông T14 đã ly hôn)
+ Ông Nguyễn Văn T15 (ông T15 chết năm 2017 vợ Nguyễn Tuyết N2,
con Nguyễn Kim T5, Nguyễn Kim N3)
+ Ông Nguyễn Văn L1 (ông L1 chết năm 2023, không vợ con)
+ Ông Nguyễn Văn L2.
Khi còn sống cụ L4, cụ T11 có tạo lập tài sản là phần đất tại ấp Ông B, xã K,
tỉnh Cà Mau gồm các thửa 395, 388, 406 tờ bản đồ số 3 tổng diện tích 43.270m² do
cụ Nguyễn Văn L4 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 12/4/2002 thửa đất ven
sông diện tích khoảng 10 công tầm lớn không biết được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chưa thì ông không biết, hiện tại do vợ con ông T13 Đinh
Thị X, Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Tấn T2 đang quản lý, sử dụng.
Khi còn sống cụ T11 và cụ L4 có cho đất các con như sau:
Cho ông Nguyễn Văn D1 02 công đất ruộng, cho Nguyễn Thị H 02 công
ruộng, cho ông Nguyễn Văn M 02 công ruộng 02 công đất vườn, cho ông
Nguyễn Văn T13 02 công đất ruộng 01 công đất vườn để cất nhà ở, cho ông
Nguyễn Trung T16 03 công đất ruộng, sau đó cho thêm ông T16 02 công đất ruộng
tổng cộng 05 công, cho ông Nguyễn Văn T15 02 công đất ruộng, 01 công đất vườn
làm nhà ở, cho ông Nguyễn Văn L2 02 công đất ruộng; cho ông Nguyễn Văn L1
02 công đất ruộng.
Trước đây cụ T11 và cụ L4 sống ly thân hơn 20 năm đến khi các cụ chết, do
ông Nguyễn Văn T13 nuôi mẹ cụ T11 nên sau khi cụ T11 cụ L4 chết thì anh
em họp gia đình (không lập biên bản) cho thêm phần đất của cụ T11 cho ông
T13 1,5 công tầm lớn, cho thêm ông T15 diện tích 1,5 công tầm lớn do ông T15
nuôi cha (cụ L4).
Ngày 18/12/2008 anh em H họp gia đình (có lập biên bản) để thống
nhất chuyển tên quyền sử dụng đất cụ L4 đứng tên (toàn bộ diện tích 43.270m²) và
10 công đất trồng lá ven sông qua cho ông Nguyễn Văn T15 đứng tên để cất đất ra
phân chia đất cho các anh em của ông T15 nhưng sau đó không thực hiện được,
hiện tại cụ L4 vẫn còn đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 43.270m².
Phần đất anh em được cha mẹ cho theo di chúc thì các anh em đã chuyển
nhượng lại cho người khác, các anh em trong gia đình đều biết và thống nhất. Phần
đất của ông Nguyễn Văn L1 được cha mẹ tặng cho thì X, anh T2, anh T1
chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn C1 diện tích 2.592m², còn lại diện tích đất cất
nhà thờ khoảng hơn 2.000 do ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn L2 quản
lý, trên diện tích đất này có nhà của ông M, ông L2.
H yêu cầu chia di sản của cụ T11, cụ L4 để lại theo di chúc (Biên bản
họp gia đình vi chúc lại ngày 26/11/1997), yêu cầu được công nhận cho bà H được
quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích theo đo đạc thực tế tại thửa số 3 diện
tích 353,2m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau. Đồng ý để cho ông L2 quản lý, trông
coi khu đất mồ ông diện tích tại thửa số 8 diện tích 253,1m
2
ông L2
không được ngăn cản con cháu đến thăm viếng, đối với yêu cầu của bà X, anh T2,
anh T1 và yêu cầu của bà M3, chị T7, anh N4 bà H không đồng ý.
6
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn M là ông Lê Văn Ú trình
bày:
Theo nguyên đơn trình bày về cha mẹ ông M, có các người con và di sản cha
mẹ chết để lại đúng. Hiện tại trên phần đất cha mẹ ông M chết để lại ông M
xây cất căn nhà kiên cố quản sử dụng phần đất này từ lúc cha mẹ còn sống
(hiện tại ông M và vợ ông cùng quản lý là Phạm Mỹ L, con Nguyễn Thị L3, Hồ
Văn H3), theo di chúc tcha mẹ tặng cho ông phần đất vườn 02 công nhưng thực
tế theo đo đạc thì không đủ, ông đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn công nhận
cho nguyên đơn được quản lý, sử dụng phần đất tại thửa số 3 diện tích 353,2m
2
thống nhất yêu cầu của ông L2 công nhận cho ông L2 được quyền quản lý, sử dụng
phần đất theo đo đạc thực tế tại thửa số 4 diện tích 346,8m
2
đồng ý để cho ông L2
quản , trông coi khu đất mồ ông diện tích tại thửa số 8 diện tích
253,1m
2
ông L2 không được ngăn cản con cháu đến thăm viếng mồ mã ông bà, đối
với yêu cầu của X, ông T2, ông T1 yêu cầu của M3, chị T7, anh N4 ông
M không đồng ý.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L2 là ông Lê Văn Ú trình
bày:
Ông L2 cũng thống nhất về cha mẹ ông L2 các người con di sản cha
mẹ chết để lại đúng. Ông L2 yêu cầu được chia thừa kế phần đất cha mẹ ông
chết để lại, ông L2 yêu cầu được công nhận quyền quản lý, sdụng phần đất tại
thửa số 4 diện tích 346,8m
2
thống nhất quản lý, trông coi khu đất mồ mã ông bà
diện tích tại thửa s8 diện tích 253,1m
2
ông L2 đồng ý không ngăn cản con
cháu đến thăm viếng mồ ông bà đất tại ấp Ông B, K, tỉnh Mau. Trên
phần đất ông L2 yêu cầu thì ông L2 vợ Thị G xây cất căn nhà hiện
đang quản lý, sử dụng , đối với yêu cầu của X, ông T2, ông T1 yêu cầu của
M3, chị T7, anh N4 ông L2 không đồng ý.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T2 cũng người
đại diện theo uỷ quyền của bà Đinh Thị X, ông Nguyễn Tấn T1 trình bày:
Ông yêu cầu công nhận hiệu lực pháp luật và chia thừa kế “Biên bản họp gia
đình di chúc ngày 26/11/1997” yêu cầu công nhận phần đất cha anh được
hưỡng theo di chúc phần đất được nhận theo đo đạc thực tế thửa số 1 diện tích
962,9m
2
, thửa số 3 diện tích 353,2m
2
thửa số 4 diện tích 346,8m
2
, thửa số 5
diện tích 214,6m
2
các phần đất những người được hưỡng tài sản của cụ L4,
cụ T11 theo di chúc đã chuyển nhượng phải trả lại cho gia đình ông để đủ diện
tích 4.465,8m
2
đất tại ấp Ô, K, tỉnh Mau. Đồng ý để cho ông L2 quản lý,
trông coi khu đất mồ mã ông bà có diện tích tại thửa số 8 diện tích 253,1m
2
ông L2
không được ngăn cản con cháu đến thăm viếng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị M2, anh Nguyễn
Trung N4, chị Nguyễn Thị Bé T7 cùng trình bày:
M2 vợ của ông Nguyễn Trung T16 ng T16 chết năm 2017). Trước
khi cụ L4 chết thì cụ L4 lập di chúc tặng cho các con trong đó ông T16 03
7
công đất (đất ruộng 02 công, còn lại 01 công đất nền nmặt tiền cặp với phần
đất ông M đang quản ), phần đất tặng cho ông T16 đã nhận canh tác khoảng vài
chục năm. Khi ông T16 còn sống cất nhà phần đất mặt tiền, sau khi ông T16
chết gia đình mới đi nơi khác đến nay. Phần đất ruộng ông T16 chuyển nhượng
cho ông M1 01 công còn một công nửa ông T16 chuyển nhượng cho ai thì
không biết. Việc ông T16 chuyển nhượng đất thì bà không biết.
chung sống với ông T16 khoảng năm 1999 hay m 2000 không nhớ
chính xác, giữa bà ông T16 chung sống với nhau không có đăng kết hôn,
chung sống với ông T16 có 02 người con là Nguyễn Trung N4, Nguyễn Thị Bé T7.
Nay M2, anh N4, chị T7 yêu cầu Tòa án yêu cầu được công nhận phần
đất này di sản của ông T16 chết để lại diện tích 01 công (diện tích 1.296m
2
) đất
tiếp giáp ông Nguyễn Văn M, đất tại ấp Ông B, K, tỉnh Mau, ngoài ra
không còn yêu cầu nào khác.
Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyễn Thị , ông Nguyễn Văn D3
ông Nguyễn Quang S trình bày:
Ngày 22 tháng 12 năm 2002 ông Văn T vợ Nguyễn Thị H (con cụ
L4, cụ T11) chuyển nhượng cho cho ông Nguyễn Văn L5 2 công đất ruộng,
diện ch 2.600 với giá 18 chỉ vàng 24k. Hai bên làm giấy tay Hợp đồng
sang đất, được UBND K chứng thực số 42, ngày 01/04/2003. Ông L5 đã giao
đủ số vàng cho vợ chồng ông T.
Ngày 22 tháng 12 năm 2002 ông Nguyễn Văn T13 ông Nguyễn Văn L2
(con cụ L4, cụ T11) chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L5 4,5 công đất tầm 3
mét, diện tích 5.832 m² giá 40,3 chỉ vàng 24k. Hai bên làm giấy tay - Hợp đồng
sang đất được UBND K chứng thực số 34, ngày 24/03/2003, ông L5 đã giao đủ
số vàng cho ông T13, ông L2.
Ông L5 cùng vợ con đã quản sử dụng các thửa đất nói trên từ khi chuyển
nhượng đến nay không có tranh chấp nào từ phía các con của ông L4.
Ông Nguyễn Văn L5 đã chết, Nguyễn Thị (là vợ ông L5) và Nguyễn
Văn D3 (là con ông L5) yêu cầu công nhận cho Nguyễn Thị , anh Nguyễn
Văn D3 được quyền sử dụng, quản lý phần đất theo đo đạc thực tế tại thửa số 12 có
diện tích 8.584,3m
2
đất tại ấp ông B, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của Thị H2, anh Huỳnh Văn N5, anh
Huỳnh Văn C2, anh Huỳnh Văn C3 Huỳnh Thị D2 ông Nguyễn Quang S
trình bày:
Vào ngày 09/02/2003 âm lịch ông Nguyễn Văn T13 (con ông Nguyễn Văn
L4) chuyển nhượng cho vợ chồng ông Huỳnh Thật S1 diện tích đất trồng lúa
3.888m² giá là 25,5 chỉ vàng 24k.
Năm 2004, sau khi làm giấy tay chuyển nhượng 3.888 đất nói trên ông
T13 còn một i địa liền kvới khu đất này diện tích khoảng hơn 600 ông T13
8
kêu bản rẻ cho ông S1 với giá 2 chỉ vàng 24k. Ông S1 đồng ý mua, hai bên đã
giao đất và nhận vàng (Hợp đồng miệng, không làm giấy tờ gì).
Tất cả diện tích đất nói trên ông Huỳnh Thật S1 cùng vợ con quản lý sử
dụng cho đến nay là hơn 21 năm. Trong quá trình quản lý sử dụng không có bất kỳ
một tranh chấp nào từ phía gia đình ông T13 cũng như anh, chị, em ruột của ông
T13.
Ông Huỳnh Thật S1 đã chết, Thị H2, anh Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh
Văn C2, anh Huỳnh Văn C3 Huỳnh Thị D2 (vợ con của ông sự) yêu cầu
công nhận cho Lê Thị H2, anh Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2, anh Huỳnh
Văn C3 Huỳnh Thị D2 được quyền sử dụng, quản phần đất theo đo đạc
thực tế tại thửa số 11 có diện tích 4.041,4m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M1 trình bày:
Ngày 21/7/1996 ông chuyển nhượng của ông Nguyễn Trung T16 phần đất
diện tích 01 công tầm lớn, giá chuyển nhượng 08 chỉ vàng 24k. Tháng 2/1997
ông chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn D1 phần đất có diện tích 01 công đất tầm
lớn, giá chuyển nhượng 05 chỉ vàng 24k. Cùng năm 1997 chuyển nhượng của ông
Nguyễn Trung T16 diện tích 01 công tầm lớn, giá chuyển nhượng 05 chỉ vàng 24k,
đất tọa lạc tại ấp Ông B, K, tỉnh Mau. Từ khi chuyển nhượng đến nay ông
quản lý, sử dụng không có bất kỳ tranh chấp nào với các con của cụ L4, cụ thiệt.
Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận cho ông được quyền quản lý, sử dụng
phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 4.074,5m
2
(thửa số 14), đất tại ấp Ô, xã K,
tỉnh Cà Mau.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị N6 trình bày: Thống
nhất ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn M1 (chồng bà) không ý kiến trình
bày bổ sung, do điều kiện đi lại khó khăn đề nghị Toà án tiến hành vắng mặt
các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn C1 trình bày:
Năm 2015 v chồng ông (vợ Trần Thị T10) nhận sang nhượng phần đất
vườn của gia đình bà Đinh Thị X diện tích 3.187 m², tọa lạc tại ấp Ô, K, huyện
T, tỉnh Mau giá chuyển nhượng 2,95 cây vàng 24k, ông đã trả đủ vàng cho
gia đình bà X và tiếp quản đất sử dụng từ năm 2015 cho đến nay, không tranh chấp
với ai. Phần đất trên có nguồn gốc từ cụ Nguyễn Văn L4 cho ông Nguyễn Văn T13
(ông T13 con cụ L4) khi chuyển nhượng anh em ông T13 đều thừa nhận phần
đất bà X chuyển nhượng của ông T13 được cụ L4 tặng cho. Sau khi chuyển
nhượng của gia đình X, ông sau đó chuyển nhượng lại một phần cho ông
Nguyễn Văn Đ3 để làm đường nước.
Ông yêu cầu công nhận cho ông được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo
đo đạc thực tế tại thửa số 6 diện tích 2.672m² tọa lạc tại ấp Ông B, K, tỉnh
Mau.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T10 thống nhất ý kiến
trình bày của ông C1 không có ý kiến khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng Đ trình bày:
9
Vào ngày 13 tháng 05 năm 2015 ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất
của vchồng ông Văn C, Châu Bích T8 phần đất diện tích 1.130m² giá
chuyển nhượng 26 chỉ vàng 24k, vị trị đất nằm ấp Ô B, K, tỉnh Mau, cũng
vào ngày 13 tháng 05 năm 2015 ông nhận chuyên nhượng của ông Huỳnh n
C1 diện tích đất dài 66m ngang 12 m trị giá số tiền 37.978.000 đồng chỉ nói
miệng, từ khi chuyển nhượng đến nay ông quản lý, sử dụng không có ai tranh chấp
với ông, hiện tại chưa được cấp quyền sử dụng đất.
Ông yêu cầu công nhận cho ông được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo
đo đạc thực tế thửa số 9 diện tích 1.667,6m
2
thửa s5 diện tích 214,6m
2
tổng
diện tích 1.891,2m
2
đất tại ấp Ông B, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Lê Văn C là ông Văn T trình bày:
Năm 2011 ông C nhận chuyển nhượng của gia đình anh Nguyễn Tấn T2
phần đất diện tích 01 công tầm lớn, giá chuyển nhượng 02 lượng vàng 24k. Năm
2012 ông C chuyển nhượng của ông Nguyễn Trung T17 diện tích 2 công 01 gốc tư
tầm lớn, giá chuyển nhượng 3,5 lượng vàng 24k.
Tháng 10/2012 nhà nước thu hồi phần đất ông nhận chuyển nhượng diện
tích 1.189,7m
2
của ông C, sau đó ông C chuyển nhượng lại cho ông Đ phần đất
có diện tích 1.130m
2
giá chuyển nhượng 2,6 lượng vàng 24k, từ khi chuyển
nhượng đến nay quản lý, sử dụng không ai tranh chấp hiện tại ông C chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trên phần đất chuyển nhượng ông C xây cất căn nhà kết cấu bán
bản, hiện tại cùng vợ con đang quản lý, sử dụng (vợ Châu Bích T8, con Chí
T9).
Nay ông C yêu cầu công nhận cho ông C được quyền quản lý, sử dụng phần
đất theo đo đạc thực tế thửa số 7 diện tích 1.335,2m
2
đất tại ấp Ông B, K, tỉnh
Cà Mau.
Chị Nguyễn Kim T5, chị Nguyễn Kim N3 và Nguyễn Tuyết N2 cùng trình
bày:
Trong vụ án tranh chấp chia thừa kế giữa bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn
Văn M không có liên quan cũng không có yêu cầu gì, đề nghị Toà án tiến hành các
thủ tục tố tụng vắng mặt và xét xử vắng mặt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung K1 trình bày:
Theo ông biết nguồn gốc phần đất tranh chấp hiện tại của ông bà nội ông
khi còn sống tặng cho ông M hiện tại ông M đang quản lý, sử dụng tặng cho
ông L2 hiện tại ông L2 đang quản lý, sử dụng đối với phần đất nhà thờ ông
chưa cho ai, để thờ cúng ông bà con cháu ai cũng có quyền đến thắp hương ông bà,
trong vụ án này ông không yêu cầu chia thừa kế ý kiến đối với phần đất
nhà thờ không ai được phân chia, để thờ cúng ông bà, do điều kiện đi lại khó khăn
đnghị Toà án tiến hành vắng mặt các phiên toà thẩm phúc thẩm nếu
có.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị V1 trình bày:
10
Trước đây sống với ông Nguyễn Văn D1 từ năm 1975 đã ly hôn với
ông D1 năm 1986 sau đó bà chung sống lại với ông D1 năm 1995 một thời gian thì
không còn sống chung. ông D1 năm người con chung Nguyễn Trung
K, Nguyễn Trung K1, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Chí T3 Nguyễn Thanh T4.
hiểu biết sự việc như sau: Lúc cha mẹ chồng còn sống phân chia đất cho các
con, đối với phần đất ông M đang quản lý, sử dụng là do cha mẹ chồng bà cho ông
M, phần đất ông L2 đang cũng do cha mẹ chồng cho khi còn sống, phần đất
ông D1 trước khi chết cha mẹ chồng không cho ai cất nhà tđường để
thờ cúng ông bà. Trước đây cha mẹ chồng bà cho ông T13 phần đất (đất rẩy)
05 công còn 05 công để thờ cúng ông nhưng sau đó con ông T13 đã chuyển
nhượng hết 10 công đất lá, cha mẹ chồng sinh thời hai phần đất đất đất
ruộng, đất vườn riêng biệt, trong vụ án này bà không có yêu cầu gì.
Từ nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày
14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H. Công nhận cho
Nguyễn Thị H được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế tại thửa
số 3 (CLN) diện tích 353,2m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn M. Công nhận cho ông
Nguyễn Văn M được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế tại thửa
số 1 (CLN) diện tích 962,9m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L2 Thị H2, anh
Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2, anh Huỳnh Văn C3 chHuỳnh Thị D2;
Nguyễn Thị , anh Nguyễn Văn D3; ông Nguyễn Hoàng Đ; ông Nguyễn Văn M1;
ông Lê Văn C; ông Huỳnh Văn C1.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn L2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất
theo đo đạc thực tế tại thửa số 4 (CLN) diện tích 346,8m
2
đất tại ấp Ô, K, tỉnh
Cà Mau.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Ẩ, anh Nguyễn Văn D3 được quyền sử dụng,
quản phần đất theo đo đạc thực tế thửa số 12 (LUC) diện tích 8.584,3m
2
đất tại
ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Công nhận cho Thị H2, anh Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2, anh
Huỳnh Văn C3 chị Huỳnh Thị D2 được quyền sử dụng, quản phần đất theo
đo đạc thực tế thửa số 11 (LUC) có diện tích 4.041,4m
2
đất tại ấp Ô, K, tỉnh
Mau.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn C5 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa số 7 (CLN) diện tích 1.313,95m
2
đất tại ấp Ô, K,
tỉnh Cà Mau.
Công nhận cho ông Huỳnh Văn C1 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa số 6 (CLN) có diện tích 2.672,5m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh
Cà Mau.
11
Công nhận cho ông Nguyễn Văn M1 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa số 14 (LUC) diện tích 4.074,5m
2
đất tại ấp Ô, K,
tỉnh Cà Mau.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn Đ3 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa s5 (CLN) diện tích 214,6m
2
thửa số 9 (CLN)
diện tích 1.676,6m
2
, tổng diện tích 1.891,2m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Đinh Thị X, anh Nguyễn Tấn T2,
anh Nguyễn Tấn T1 về việc yêu cầu được nhận phần đất tại các thửa số 1
(962,9m
2
), 3 (353,2m
2
), 4 (346,8m
2
), 5 (214,6m
2
) yêu cầu các phần đất các con
của cụ L4, cụ T11 được tặng cho khi còn sống đã chuyển nhượng giao trả lại
cho đủ diện tích 4.465,8m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Dương Thị M2, anh Nguyễn Trung
N4, chị Nguyễn Thị T7 về việc yêu cầu được nhận phần đất 01 công đất vườn
(tương đương 1.296m
2
) đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Đối với phần đất khu mộ tại thửa số 8 diện tích 253,1m
2
đường đi vào
khu mộ ngang 1m (diện tích 22,25m
2
) ông Nguyễn Văn L2 được quyền trông coi,
quản lý không được ngăn cản anh em, con cháu trong thân tộc đến thăm viếng ông
bà.
Các đương sự được quyền liên hệ quan quản đất đai để được cấp giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định.
(Kèm theo Mảnh vẽ hiện trạng (bổ sung) ngày 14/8/2025 của Công ty
TNHH MTV T19)
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về án phí quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/8/2025, anh Nguyễn Tấn T2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Mau theo hướng yêu cầu được nhận phần đất
tại các thửa số 1 (962,9m
2
), 3 (353,2m
2
), 4 (346,8m
2
), 5 (214,6m
2
) yêu cầu các
phần đất các con của cụ L4, cụ T11 được tặng cho khi còn sống đã chuyển nhượng
dư giao trả lại cho đủ diện tích 4.465,8m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ đến khi xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư các đương sự đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn
Tấn T2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ lưu trong hồ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên a, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự ý kiến
12
phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị
án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Tấn T2 nộp trong thời hạn luật định,
đã đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ Điều 273 Điều 276 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Văn T, ông Lê Văn Ú, anh Nguyễn
Tấn T2, ông Nguyễn Quang S, ông Nguyễn Văn M1, ông Huỳnh Văn C1, ông Hồ
Văn H3 mặt, các đương sự khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng
vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành
xét vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của anh Nguyễn Tấn T2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Mau theo hướng yêu cầu được nhận phần đất
tại các thửa số 1 (962,9m
2
), 3 (353,2m
2
), 4 (346,8m
2
), 5 (214,6m
2
) yêu cầu các
phần đất các con của cụ L4, cụ T11 được tặng cho khi còn sống đã chuyển nhượng
giao trả lại cho đủ diện tích 4.465,8m
2
đất tại ấp Ô, K, tỉnh Mau, Hội
đồng xét xử xét thấy:
2.1. Xét về hàng thừa kế của cụ L4, cụ T11: cụ L4 cụ T11 10 người
con: Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn
Văn D1 (chết năm 2025), ông Nguyễn Văn T13 ( chết năm 2008), ông Nguyễn
Văn T14 (chết 2018), ông Nguyễn Văn T15 (chết 2017), ông Nguyễn Văn L1 (chết
2023), ông Nguyễn Văn Đ4 (chết lúc 23 tuổi, không vợ con),ông Nguyễn Văn T18
(chết còn nhỏ).
2.2. Xét di sản tranh chấp: Ngày 26/11/1997 cụ T11 cụ L4 lập di chúc
để phân chia đất cho các con “Biên bản hợp gia đình vi chúc lại” được các con của
cụ T11, cụ L4 thừa nhận đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo
quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại tờ di chúc nêu trên không
nói cụ T11, cụ L4 tổng cộng diện tích đất bao nhiêu đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chưa, thửa đất nào, vị trí đất tại đâu. Đến ngày
12/4/2002, cụ Nguyễn Văn L4 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 12/4/2002 diện tích 43.270m
2
tại các thửa đất 395,
388, 406 tờ bản đồ số 02 đất tại ấp P, K, huyện T, tỉnh Mau ( nay là ấp Ông
B, K, tỉnh Mau), tuy nhiên theo đo đạc thực tế diện tích đất thuộc quyền sử
dụng của cụ L4, cụ T11 chỉ tương đương 31.522,4m
2
(có diện tích nhà nước thu
hồi xây dựng Hệ thống thuỷ lợi tiều vàng III Bắc C diện tích 1.189,7m
2
).
Sau khi được cha mẹ phân chia đất thì thực tế các con của cụ L4 cũng đã
quản lý sử dụng và chuyển nhượng lại cho nhiều người cụ thể:
Năm 1996, ông T14 chuyển nhượng cho ông M1 diện tích 1 công đất ruộng;
năm 1997 ông D1 chuyển nhượng cho ông M1 01 công ruộng, ông T14 chuyển
nhượng cho ông M1 01 công đất ruộng.
13
Năm 2003, ông T13 chuyển nhượng lại cho ông S1 (chồng H2) 3 công
ruộng và đìa khoảng 600m
2
.
Năm 2002, ông T, H chuyển nhượng cho ông L5 (chồng ) 02 công
ruộng trong năm 2002 thì ông T13 ông L2 chuyển nhượng cho ông L5 4,5
công đất ruộng (trong đó ông T13 chuyển nhượng 2,5 công, ông L2 chuyển
nhượng 2 công).
Năm 2011, X, anh T2 và anh T1 (vợ con ông T13) chuyển nhượng cho
ông C5 1 công đất vườn (ngang 18m x dài 72m); năm 2012 thì ông T15 chuyển
nhượng cho ông C5 tổng diện tích vườn và ruộng (2.942m
2
).
Năm 2015, thì X, anh T2 anh T1 (vợ con ông T13) chuyển nhượng
cho ông C1 diện tích 3.187m
2
đất vườn.
Các đương sthống nhất xác định hiện tại di sản của cụ T11, cụ L4 để lại
tổng diện tích 1.916m
2
(thửa số 1 diện tích 962,9m
2
; thửa số 3 diện tích 353,2m
2
;
thửa số 4 diện tích 346,8m
2
thửa số 8 điện tích 253,1m
2
đất khu mộ), đối với
phần đất khu mộ các đương sự không yêu cầu chia, để lại làm nơi an nghỉ của ông
bà.
X, anh T2 anh T1 yêu cầu được nhận phần đất tại các thửa số 1
(962,9m
2
), 3 (353,2m
2
), 4 (346,8m
2
), 5 (214,6m
2
) các phần đất con của cụ L4,
cụ T11 được tặng cho khi còn sống đã chuyển nhượng dư giao trả lại cho đủ diện
tích 4.465,8m
2
. Thấy rằng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ L4
năm 2002 diện tích 43.270m
2
(cấp theo bản đồ 299) nhưng đo đạc thực tế
31.522,4m
2
(có diện tích nhà nước thu hồi xây dựng Hệ thống thuỷ lợi tiều vàng III
Bắc C diện tích 1.189,7m
2
) ít hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Trong phần đất qua đo đạc thực tế là 31.522,4m
2
thì gia đình ông T13
đã chuyển nhượng cho người khác hơn 09 công đất (tương đương 11.664m
2
)
hiện đang quản diện tích 5.817,6m
2
(thửa s580). Trong khi đó, ông M được
chia 2 công đất ruộng và 02 công đất vườn, tuy nhiên hiện tại nếu tổng tính cả luôn
khu mộ thân tộc ông M chỉ quản sử dụng diện tích 1.916m
2
, ít hơn rất nhiều so
với phần đất được chia. Từ đó cho thấy diện tích đất thực tế của cụ T11, cụ L4 để
phân chia cho những người con ít hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Gia đình anh T2 cho rằng theo di chúc còn thiếu diện tích đất được
cho 4.465,8m
2
nhưng như đã phân tích diện tích đo đạc thực tế ít hơn diện tích
cụ L4, cụ T11 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặt khác thời điểm
các anh em của ông T13 còn sống thì không ai ý kiến về việc cha mẹ phân chia
đất cho các con, ông T13 cũng không ý kiến cho rằng diện tích đất ông cho ít
hơn di chúc cũng không ý kiến về việc ông M, ông L2 xây dựng nhà kiên
cố trên phần đất đang tranh chấp. Do đó, gia đình anh T2, X anh T1 căn cứ
vào diện tích đất cấp quyền sdụng cho cụ L4 năm 2002 căn cứ vào di chúc
năm 1997 yêu cầu nhận thêm quyền sử dụng đất là không có căn cứ.
[2.3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không căn cứ chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của ông T2; Chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát
14
viên; Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Anh T2 kháng o không được chấp nhận nên
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Các phần Quyết định khác của Bản án dân sự thẩm số: 105/2025/DS-
ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Mau không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Tấn T2 về việc yêu
cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau.
Căn cứ khoản 3, 5 Điều 26, điềm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều
39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116, Điều 624, Điều 643, Điều 651 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H. Công nhận cho
Nguyễn Thị H được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế tại thửa
số 3 (CLN) diện tích 353,2m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn M. Công nhận cho ông
Nguyễn Văn M được quyền quản lý, sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế tại thửa
số 1 (CLN) diện tích 962,9m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L2; Thị H2, anh
Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2, anh Huỳnh Văn C3 chHuỳnh Thị D2;
Nguyễn Thị , anh Nguyễn Văn D3; ông Nguyễn Hoàng Đ; ông Nguyễn Văn M1;
ông Lê Văn C; ông Huỳnh Văn C1.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn L2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất
theo đo đạc thực tế tại thửa số 4 (CLN) diện tích 346,8m
2
đất tại ấp Ô, K, tỉnh
Cà Mau.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Ẩ, anh Nguyễn Văn D3 được quyền sử dụng,
quản phần đất theo đo đạc thực tế thửa số 12 (LUC) diện tích 8.584,3m
2
đất tại
ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Công nhận cho Thị H2, anh Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2, anh
Huỳnh Văn C3 chị Huỳnh Thị D2 được quyền sử dụng, quản phần đất theo
15
đo đạc thực tế thửa số 11 (LUC) có diện tích 4.041,4m
2
đất tại ấp Ô, K, tỉnh
Mau.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn C5 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa số 7 (CLN) diện tích 1.313,95m
2
đất tại ấp Ô, K,
tỉnh Cà Mau.
Công nhận cho ông Huỳnh Văn C1 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa số 6 (CLN) có diện tích 2.672,5m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh
Cà Mau.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn M1 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa số 14 (LUC) diện tích 4.074,5m
2
đất tại ấp Ô, K,
tỉnh Cà Mau.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn Đ3 được quyền sử dụng, quản phần đất
theo đo đạc thực tế thửa s5 (CLN) diện tích 214,6m
2
thửa số 9 (CLN)
diện tích 1.676,6m
2
, tổng diện tích 1.891,2m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của B1 Đinh Thị X, anh Nguyễn Tấn
T2, anh Nguyễn Tấn T1 về việc yêu cầu được nhận phần đất tại các thửa số 1
(962,9m
2
), 3 (353,2m
2
), 4 (346,8m
2
), 5 (214,6m
2
) yêu cầu các phần đất các con
của cụ L4, cụ T11 được tặng cho khi còn sống đã chuyển nhượng giao trả lại
cho đủ diện tích 4.465,8m
2
đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Dương Thị M2, anh Nguyễn Trung
N4, chị Nguyễn Thị T7 về việc yêu cầu được nhận phần đất 01 công đất vườn
(tương đương 1.296m
2
) đất tại ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.
Đối với phần đất khu mộ tại thửa số 8 diện tích 253,1m
2
đường đi vào
khu mộ ngang 1m (diện tích 22,25m
2
) ông Nguyễn Văn L2 được quyền trong coi,
quản lý không được ngăn cản anh em, con cháu trong thân tộc đến thăm viếng ông
bà.
Các đương sự được quyền liên hệ quan quản đất đai để được cấp giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định.
(Kèm theo Mảnh vẽ hiện trạng (bổ sung) ngày 14/8/2025 của Công ty
TNHH MTV T19)
2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
*Chi phí đo đạc:
Chi phí đo đạc ông M đã dự nộp 02 lần (19.979.000 đồng 3.788.000
đồng) tổng 23.767.000 đồng ông M tự nguyện chịu.
Chi phí đo đạc ông C1 dự nộp 3.460.000 đồng, bà H dự nộp 3.112.000 đồng,
ông Đ3 5.410.000 đồng, H2 dự nộp 5.336.000 đồng, dự nộp 5.336.000
đồng, ông M1 dự nộp 5.336.000 đồng, ông C5 dự nộp 5.190.000, ông L2 dự nộp
3.112.000 đồng các đương sự tự nguyện chịu, đã thực hiện xong.
*Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị H ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H2, bà Nguyễn Thị Â,
ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Nguyễn Văn M1 được miễn án phí; anh Huỳnh Văn
N5, anh Huỳnh Văn C2, anh Huỳnh Văn C3 chị Huỳnh Thị D2 phải chịu
16
300.000 đồng; anh Nguyễn Văn D3 phải chịu 300.000 đồng; ông Văn C phải
chịu 300.000 đồng, ông Huỳnh Văn C1 phải chịu 300.000 đồng.
Ngày 06/01/2023 ông Nguyễn Văn M4 đã dự nộp 3.000.000 đồng biên lai
thu số 0005993, ngày 10/7/2024 anh Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2,
Huỳnh Thị D2, anh Huỳnh Văn C3 dự nộp 300.000 đồng biên lai thu số 0005287,
ngày 10/7/2024 anh Nguyễn Văn D3 d nộp 300.000 đồng biên lai thu số
0005286, ngày 01/10/2024 ông Huỳnh Văn C1 đã dự nộp 300.000 đồng biên lai
thu số 0005608, ngày 05/8/2024 ông Văn C đã dự nộp 300.000 đồng biên lai
thu số 0005432 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (Phòng thi
hành án dân sự khu vực 3 Mau), ông Nguyễn Văn M4 được nhận lại án phí
3.000.000 đồng; anh Huỳnh Văn N5, anh Huỳnh Văn C2, anh Huỳnh Văn C3
chị Huỳnh Thị D2; anh Nguyễn Văn D3; ông Lê Văn C; ông Huỳnh Văn C1 đã dự
nộp được chuyển thu.
Ông Nguyễn Văn L2 phải chịu 7.282.800 đồng, ngày 04/01/2023 ông L2 đã
dự nộp 3.000.000 đồng biên lai thu số 5985 chi Cục thi hành án dân sự huyện Trần
Văn Thời (Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 Mau) được đối trừ, ông L2
phải nộp tiếp 4.282.800 đồng.
Đinh Thị X, anh Nguyễn Tấn T2, anh Nguyễn Tấn T1 phải chịu án phí
300.000 đồng, ngày 23/02/2024 đã dự nộp 2.232.000 đồng biên lai thu số 0004535
của chi Cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (Phòng thi hành án dân sự
khu vực 3 – Cà Mau), được đối trừ nhận lại 1.932.000 đồng.
Dương Thị M2, anh Nguyễn Trung N4, chNguyễn Thị T7 phải chịu
300.000 đồng, ngày 24/7/2024 đã nộp 300.000 đồng biên lai thu số 0005355 của
chi Cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (Phòng thi hành án dân sự khu
vực 3 – Cà Mau) được chuyển thu.
*Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Tấn T2 phải chịu 300.000 đồng. Anh
T2 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011724
ngày 10/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 của Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- TAND khu vực 3-CM;
- Phòng THADS khu vực 3-CM;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
Tăng Trần Quỳnh Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 408/2026/DS-PT Bản án số 408/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 408/2026/DS-PT Bản án số 408/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất