Bản án số 39/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TAND huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 39/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 39/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 39/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TAND huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Pa (TAND tỉnh Gia Lai) |
| Số hiệu: | 39/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/11/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Rơ Ô S "Trộm cắp tài sản" |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TA N NHÂN DÂN CỘNG HA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN K Độc lập –Tự do –Hạnh phúc
TNH G
Bản án số:39/2023/HSST
Ngày 07/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TA N NHÂN DÂN HUYỆN K - TNH G
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị D
-Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn L
Bà Phùng Thị Tố T
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị G – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện K, tỉnh G.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Ông Nay G - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện K,
tỉnh G xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/HSST, ngày 04 tháng 10 năm 2023
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối
vi bị cáo:
Rơ Ô S, sinh năm 1994 tại huyện K, tỉnh G; Trú tại: Buôn T, xã P, huyện K, tỉnh G;
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Jrai; Gii tính: Nam; Tôn giáo:
không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rah Lan B, sinh năm 1962 và bà Rơ Ô H’Đ, sinh
năm 1963; Bị cáo là con thứ 05 trong gia đình có 06 anh chị em.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại
phiên tòa.
-Người bị hại: Ông Lỡ Văn H, sinh năm 1980; Trú tại: Buôn T, xã P, huyện K, tỉnh
G. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
-Người làm chứng: Chị Rơ Ô H’T, sinh năm 1997; Trú tại: Buôn T, xã P, huyện K,
tỉnh G. Có mặt
-Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Nay Dăm T, sinh năm 1986; trú tại: Tổ dân phố 7,
thị trấn P, huyện K, tỉnh G. Có mặt
NHẬN THẤY:
Vào khoảng 20 giờ ngày 04/7/2023, Rơ Ô S đang uống rượu vi gia đình tại nhà thì
xảy ra mâu thuẫn vi cha mẹ nên S lấy ba lô xếp quần áo và bỏ nhà đi. Đến khoảng 20 giờ
30 phút cùng ngày, S đi bộ đến trưc cửa hàng Honda M của anh Lỡ Văn H tại buôn T, xã
P, huyện K, tỉnh G thì thấy một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81N1-237.92 đang dựng trưc
2
cửa hàng, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Rơ Ô S đến gần thì phát
hiện chìa khóa để trên xe, Sơn ngồi lên xe mở khóa, nổ máy và điều khiển xe vào rẫy của
gia đình S tại buôn D, xã I. Tại chòi rẫy của gia đình, S mở cốp xe thì phát hiện trong xe có
4.450.000 đồng, S lấy sử dụng hết 70.000 đồng, số tiền còn lại S cất giữ trong người. Ngày
06/7/2023, em gái S là Rơ Ô H’T thấy S sử dụng xe mô tô của người khác thì nghi ngờ S
trộm cắp tài sản nên trình báo công an xã P.
Kết luận định giá số 17/KL-HĐĐG ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá trong Tố
tụng hình sự huyện K kết luận: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81N1-237.92 trị giá 15.000.000
đồng (mười lăm triệu).
Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 19.450.000 đồng (mười chín triệu bốn trăm
năm mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh tím, loại Wave, biển kiểm soát 81N1-237.92
và số tiền 4.380.000 đồng (bốn triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), đã trả lại cho chủ sở
hữu là ông Lỡ Văn H.
Tại phiên tòa, bị cáo Rơ Ô S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở
trên. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá, các quyết
định cũng như các hành vi của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa
cũng như của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đối vi vụ án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra và truy tố không có khiếu
nại gì các quyết định cũng như các hành vi của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân
huyện K cũng như của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đối vi
vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 70.000 đồng (bảy
mươi nghìn đồng) cho bị hại. Người bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu bồi thường gì
khác.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện K, tỉnh G truy tố bị cáo Rơ Ô S về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều
173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy
tố đối vi bị cáo Rơ Ô S về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau
đây gọi tắt là HĐXX):
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS:
xử phạt bị cáo Rơ Ô S: từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
3
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết
quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm
sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng
tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân
huyện K, tỉnh G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và
tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố
tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày
04/7/2023, Rơ Ô S có hành vi lén lút chiếm đoạt một xe mô tô biển kiểm soát 81N1-237.92,
có giá trị 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) và số tiền 4.450.000 đồng (bốn triệu bốn
trăm năm mươi nghìn đồng) của bị hại Lỡ Văn H, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là
19.450.000 đồng (mười chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Lời nhận tội của bị cáo Rơ Ô S tại phiên tòa phù hợp vi nội dung của bản cáo trạng,
lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn
cứ để kết luận hành vi của bị cáo Rơ Ô S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và
hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân
dân huyện K truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn
cứ pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của
người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng
lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật. Tuy
nhiên, vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nhưng lại lười lao động mà muốn hưởng thành
quả trên sức lao động của người khác, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị
4
hại để chiếm đoạt tư lợi cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo phải chịu sự trừng phạt của
pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thì bị cáo tỏ ra thành thật khai
báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị cáo là
người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy
định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Do đó, xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Lời luận tội của Kiểm sát
viên tại phiên tòa là phù hợp vi tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, đảm bảo được tính răn đe
phòng ngừa chung đối vi đối vi một tầng lp thanh thiếu niên lười lao động, ham chơi bời
lêu lổng dẫn đến hành vi phạm tội, nhất là tội phạm xâm phạm sở hữu đang có chiều hưng
gia tăng nhất là trong khu vực dân cư đồng bào dân tộc thiểu số, nên HĐXX chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 70.000 đồng (bảy
mươi nghìn đồng) cho bị hại. Người bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu bồi thường gì
khác nên HĐXX không xem xét đến vấn đề này nữa.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định và không có thu nhập,
nên hông áp dụng hình phạt bổ sung đối vi bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Rơ Ô S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ
luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Rơ Ô S 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành
án.
2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Rơ Ô S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ
ngày tuyên án (07/11/2023), người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo
quy định pháp luật để yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
5
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Gia Lai;
- VKSND h. Krông Pa;
- Công an h. Krông Pa;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Chi cục THADS h. Krông Pa;
- Lưu HS vụ án, THA hình sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Lê Thị Dung
6
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm