Bản án số 39/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 của TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương về tội đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 39/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 39/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 39/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 của TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương về tội đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hải Dương (TAND tỉnh Hải Dương) |
| Số hiệu: | 39/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/03/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG
----------------------
Bản án số: 39/2019/HS-ST
Ngày 19 tháng 3 năm 2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Doanh
Ông Nguyễn Văn Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Oanh -Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
30/2019/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
40/2019/HSST-QĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Vũ Thị T, sinh năm 1960; ĐKHKTT và cư trú: số X B3 tập thể B, phường
P, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ;
Tôn giáo: Không; Dân tộc : Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:
7/10; Con ông Vũ Kim N, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm
1931; chồng là Phạm Quốc L, sinh năm 1962 và có 02 con; lớn sinh năm 1992, nhỏ
sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2019 đến ngày 12/01/2019. Hiện đang thực
hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 35/LCCC ngày 11/3/2019 của Tòa án nhân dân
thành phố Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Chị Lê Thị M, sinh năm 1983; cư trú tại: số A phố B, phường Trần Hưng
Đạo, TP Hải Dương. vắng mặt
2. Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1981; cư trú tại: khu P, phường Thạch
Khôi, TP Hải Dương. vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị T hàng ngày bán xổ số tại vỉa hè trước cổng Sở giao thông vận tải
Hải Dương, đường Bạch Đằng, phường Trần Phú, thành phố Hải Dương. Ngoài ra
2
nếu ai có nhu cầu mua số lô, số đề trái phép thì T bán. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày
09-01-2019, Vũ Thị T đi bán xổ số như thường lệ, đến khoảng 17 giờ 20 phút có
chị Lê Thị M đến hỏi mua số lô, số đề. T đồng ý và ghi tích kê bán cho chị M các
số đề từ 00 đến 09 x 22.000đồng nhưng khuyến mãi tiền đề 20.000đồng để được
tính vào tiền trúng thưởng; các số lô 15, 51, 37, 73, 40, 41 x 15 điểm (mỗi điểm lô
tương ứng số tiền 20.000đồng) và các số đề 15, 51, 02, 20 x55.000đồng nhưng
khuyến mại tiền đề 20.000đồng để được tính vào tiền trúng thưởng; số lô xiên 02,
20 số tiền 100.000đ; các số lô 02, 20, 17, 87 x10 điểm (mỗi điểm lô tương ứng số
tiền 20.000đồng), đồng thời T ghi vào 2 mảnh giấy đưa cho chị M để làm căn cứ
thanh toán, M trả cho T tổng số tiền mua số lô, số đề là 3.100.000đ. Sau khi ghi
bán số lô, số đề cho chị M thì có anh Nguyễn Văn Tr vào mua, T ghi tích kê bán
cho anh Tr các số đề 05, 50, 34, 73, 74 x 55.000đ nhưng khuyến mãi tiền đề
25.000đồng để được tính vào tiền trúng thưởng; các số lô 27, 72,35, 45 x 15 điểm
(mỗi điểm lô tương ứng số tiền 20.000đồng) và số lô 37, 57, 48, 42 x 10 điểm (mỗi
điểm lô tương ứng số tiền 20.000đồng); đồng thời T chép lại vào 1 mảnh giấy đưa
cho anh Tr để làm căn cứ thanh toán, anh Tr trả cho T số tiền là 2.250.000đ. T ghi
lại các số đề, số lô bán cho khách vào 1 mảnh giấy để giữ lại so sánh kết quả thì bị
lực lượng Công an thành phố Hải Dương kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt quả
tang hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề trái phép được thua bằng
tiền. Thu giữ của T số tiền 5.350.000đồng, 03 tờ tích kê có ghi số lô, số đề của chị
M và anh Tr; 01 tờ giấy của T ghi lại số lô, đề đã bán cho chị M, anh Tr và 01
chiếc bút bi màu đen.
Vũ Thị T thống nhất với chị M, anh Tr lấy kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc
mở thưởng ngày 09-01-2019 làm căn cứ tính thắng thua. Số đề được so sánh với
hai chữ số cuối của giải đặc biệt. Còn số lô so sánh với hai số cuối của tất cả các
giải, nếu người mua số lô thắng sẽ được trả số tiền gấp 3,5 lần số tiền người chơi bỏ
ra; người mua số đề thắng thì được trả số tiền gấp 70 lần số tiền người chơi bỏ ra,
nếu người mua không trúng thì T được hưởng số tiền người mua bỏ ra mua số lô,
số đề. Đối với người mua số đề cứ 10.000đồng khuyến mại thêm 1.000đồng và ghi
vào trong tích kê.
Tổng số tiền T dùng vào việc đánh bạc là 5.415.000đồng (trong đó số tiền
nhận của những người mua số lô, số đề là 5.350.000đồng; số tiền T khuyến mại
cho chị M và anh Tr là 65.000đồng).
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSTPHD ngày 14-02-2019, Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội “Đánh bạc” theo
khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Vũ Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác định
VKSND thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản
1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng.
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên nội dung
quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Đánh bạc”;
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; khoản
1 Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Vũ Thị T từ 20 triệu đến
25 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01
chiếc bút bi màu đen. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng để
đánh bạc là 5.415.000đồng, đã thu 5.350.000đồng, bị cáo còn phải nộp tiếp
65.000đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ
phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Bị cáo
Vũ Thị T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Thị T không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương và nói lời sau cùng đề nghị xem xét
xử phạt tiền mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Tòa án như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù
hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng trong
giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản giải
trình số lô, số đề và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, có đủ cơ
sở kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 09-01-2019, tại vỉa hè trước cổng Sở giao
thông vận tải Hải Dương, đường Bạch Đằng thuộc phường Trần Phú, thành phố
Hải Dương, Vũ Thị T có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số
đề cho chị Lê Thị M với số tiền 3.140.000đồng, anh Nguyễn Văn Tr với số tiền
2.275.000đồng thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt
quả tang, thu giữ gồm: 03 tờ tích kê có ghi số lô, số đề; 01 tờ giấy ghi các số lô, số
đề; 01 chiếc bút bi màu đen và số tiền 5.350.000đồng. Tuy nhiên, theo các tích kê
ghi tổng số tiền là 5.415.000đồng nên T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng
số tiền ghi dùng đánh bạc là 5.415.000đồng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm
phạm đến trật tự, an toàn xã hội và gây mất trật trị an tại địa phương. Vũ Thị T là
người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lợi dụng việc Nhà
nước mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày để đánh bạc trái phép dưới
hình thức mua, bán số lô, số đề với chị Lê Thị M, anh Nguyễn Văn Tr tổng số tiền
là 5.415.000đồng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy,
hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo
4
khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Xác định VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh
Hải Dương truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân
đối với bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng: không có. Quá trình điều tra và tại
phiên toà bị cáo Vũ Thị T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, là
người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng, bản thân được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong
nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i, x khoản 1 Điều 51
của Bộ luật hình sự.
[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy không cần
thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền
theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở
thành công dân có ích cho xã hội và gia đình.
[5] Về xử lý vật chứng: Tổng số tiền bị cáo Vũ Thị T đánh bạc trái phép là
5.415.000đồng nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, cơ quan
CSĐT Công an thành phố Hải Dương đã thu giữ được số tiền là 5.350.000đồng.
Còn số tiền T khuyến mại là 65.000đồng, bị cáo T chưa nộp nên bị cáo T còn phải
nộp tiếp số tiền 65.000đồng; đối với 01 chiếc bút bi màu đen liên quan đến việc
phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp
luật.
[6] Về án phí: Bị cáo Vũ Thị T phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với chị Lê Thị M, anh Nguyễn Văn Tr là người mua số lô, số đề của
Vũ Thị T nhưng số tiền sử dụng để đánh bạc của mỗi người đều dưới 5.000.000đ,
chưa bị kết án về tội này và tội quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự nên không
phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Dương đã ra các
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm s, i, x khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự.
5
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2
Điều 106; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí
và lệ phí số 97 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Vũ Thị T 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng)
nộp ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu đen.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Vũ Thị T dùng để đánh
bạc là 5.415.000đồng, đã thu 5.350.000đồng, bị cáo còn phải nộp tiếp
65.000đồng.
(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an
thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Thị T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tr-êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ®-îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt
Thi hµnh ¸n d©n sù th× ng-êi ®-îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng-êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n
sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh
¸n hoÆc bÞ c-ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6, 7 vµ 9 LuËt Thi
hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ®-îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30
LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- VKSND TP Hải Dương;
- CQCSĐT-Công an TP Hải Dương;
- Chi cục THADS TP Hải Dương;
- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(đã ký)
Nguyễn Thị Thu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng