Bản án số 39/2019/HS-ST ngày 19/09/2019 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về tội đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 39/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 39/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 39/2019/HS-ST ngày 19/09/2019 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về tội đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lương Sơn (TAND tỉnh Hòa Bình) |
| Số hiệu: | 39/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH HÒA BÌNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 39 /2019/HS-ST
Ngày 19-09-2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Bạn và bà Phùng Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lương Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xét
xét xử sở thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2019/HSST ngày 07 tháng 8
năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS ngày 05
tháng 9 năm 2019, đối với :
Bị cáo: Nguyễn Văn L - Sinh năm 1986 tại huyện A, tỉnh H; ĐKHKTT: Thôn
L, xã C, huyện A, tỉnh H; Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện L, tỉnh H. Nghề
nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Đặng Thị M; Vợ
đã ly hôn và có 02 con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm2014;
Tiền án: 01 tiền án. (Bản án số: 57 ngày 26/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện
Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù, về tội “đánh bạc”. Đã chấp hành xong
bản án vào ngày 12/07/2018 tuy nhiên chưa được xóa án tích).
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2019 đến ngày 06/4/2019 được tại ngoại có mặt
tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/Anh Nguyễn Mạnh C – sinh năm 1984; Địa chỉ: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh T.
2/ Anh Hứa Quốc T – sinh năm 1991; Thôn B, xã S, huyện N, tỉnh N.
3/Anh Kiều Văn T1 – sinh năm 1983; Địa chỉ: Toor M, khu X, thị trấn X, huyện
C, TP H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 02/04/2019, tại Công ty cổ phần Việt Á địa chỉ tại
thôn Đ, N, L, H sau khi tan ca làm việc bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Mạnh C, Kiều
Văn T và Hứa Quốc T1 (đều là công nhân của công ty cổ phần Việt Á) cùng rủ nhau
đánh bạc bằng hình thức được thua bằng tiền mặt, tất cả đồng ý, Nguyễn Văn L đi
mua một bộ bài tú lơ khơ. Sau đó L, C, T, T1 đi về nhà ăn của công ty, tại đây T1 chải
chiếu để mọi người ngồi đánh bạc được thua bằng tiền mặt dưới hình thức đánh liêng
ăn tiền.
Cách thức đánh là bộ bài tú lơ khơ chia cho mỗi người 3 lá bài, chia xong người
chơi đặt tiền xuống, mức thấp nhất là 10.000 đồng (mười nghìn đồng), cao nhất là
50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). Sau đó so bài, bài có giá trị nhất thì được toàn
bộ số tiền người khác đã đặt cược. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, tổ Công tác Công an
huyện L tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng Nguyễn Văn L, Kiều Văn T,
Hứa Quốc T1, Nguyễn Mạnh C có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình
thức đánh Liêng. Vật chứng thu giữ trên chiếu bạc: tiền ngân hàng nhà nước Việt
Nam 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) và 52 (năm mươi hai)
quân bài tú lơ khơ.
Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
như đã nêu trên.
Cáo trạng số 38/CT - VKSLS ngày 05/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân
huyện L truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Trong phần tranh luận đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện L giữ nguyên quan điểm truy tố, kết luận bị cáo phạm
tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc”. Áp
dụng khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ
sung 2017 xử phạt bị cáo từ 06-09 tháng tù.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017; điều 106 BLTTHS năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn
mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành.
+ Tịch thu tiêu hủy: 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến
kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều
tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình
sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người thực hiện tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Tòa án nhân dân huyện L tiến hành
triệu tập hợp lệ người làm chứng là anh Hứa Quốc T1 tuy nhiên người làm chứng
vắng mặt tại phiên tòa. Sự vắng mặt của người làm chứngnày không gây trở ngại cho
việc xét xử nên căn cứ Điều 293 BLTTHS, HĐXX xét xử vắng người làm chứng.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên
tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với cáo trạng
cùng với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ phản ánh
trong hồ sơ vụ án. Cụ thể như sau:
Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 02/04/2019, Sau khi tan ca làm việc bị cáo L cùng
với Nguyễn Mạnh C, Kiều Văn T và Hứa Quốc T1 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức
được thua bằng tiền mặt tại nhà ăn của công ty. Cách thức đánh là bộ bài tú lơ khơ
chia cho mỗi người 3 lá bài, chia xong người chơi đặt tiền xuống, mức thấp nhất là
10.000 đồng (mười nghìn đồng), cao nhất là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng).
Sau đó so bài, bài có giá trị cao nhất thì được toàn bộ số tiền người khác đã đặt cược.
Đến khoảng 23 giờ 30 phút, tổ Công tác Công an huyện L tiến hành kiểm tra, bắt quả
tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền là 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm bốn mươi
nghìn đồng) và 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ. Cộng với việc bản thân bị cáo
bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội
đánh bạc mà chưa được xóa án tích. Như vậy hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu
tố cầu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự
công cộng, gây mất trật tự trị an, nếp sống văn minh của xã hội và đang bị toàn xã hội
đấu tranh và bài trừ. Đây là những nguyên nhân có thể làm phát sinh các loại tội phạm
khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của
bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị
cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình và
đang nuôi con nhỏ chưa tự chăm sóc được bản thân. Đây là các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự
4
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. HĐXX xét thấy cần áp dụng các tình tiết này cho bị
cáo là phù hợp.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi
đánh bạc bị Nhà nước nghiêm cấm, bản thân đang có án tích về tội “đánh bạc” nhưng
không rút kinh nghiệm mà vẫn cố tình thực hiện. Xét tính chất mức độ của hành vi
phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo
và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt
tù có thời hạn nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội mới và cải tạo, giáo dục bị cáo trở
thành công dân có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo có việc làm, có thu
nhập thấp, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ chưa tự chăm sóc
được bản thân, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu nên không áp dụng hình
phạt bổ xung đối với bị cáo.
[5] Trong vụ án này còn có các đối tượng Kiều Văn T, Nguyễn Mạnh C, Hứa
Quốc T1 cùng tham gia đánh bạc với bị cáo L. Quá trình điều tra, xác minh các đối
tượng chưa có tiền án, tiền sự; Mặt khác số tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc
chưa đến mức để khởi tố. Vậy Công an huyện L, tỉnh H đã áp dụng điểm a khoản 2
điều 26 nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của chính phủ xử phạt vi phạm
hành chính đối với các đối tượng trên là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX
không xem xét.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với các vật chứng cơ quan điều tra phát hiện thu
giữ trên người của bị cáo và các đối tượng Kiều Văn T, Nguyễn Mạnh C là số tiền
mặt và đồ vật sau: Bị cáo Nguyễn Văn L: 625.000đ (sáu trăm hai mươi năm nghìn);
01 (một) điện thoại di động NOKIA màu đỏ đen loại bàn phím đã qua sử dụng.
Nguyễn Mạnh C: 1.000.000đ (một triệu đồng); 01 (một) điện thoại Iphone 6 màu gold
đã qua sử dụng; 01 giấy phép lái xe hạng C số 370152007676 mang tên Nguyễn Mạnh
C; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AH 674788 mang tên Nguyễn Mạnh C. Kiều Văn
T: 37.000đ (ba mươi bảy nghìn đồng); 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu đen đã
qua sử dụng. Đối với các khoản tiền và các đồ vật này, bị cáo và các đối tượng C, T
không dùng để đánh bạc, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo và các đối tượng
C, T trong quá trình điều tra là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
HĐXX áp dụng điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 106
BLTTHS năm 2015
- Đối với số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 2.440.000 đồng (hai triệu bốn
trăm bốn mươi nghìn đồng) đây là số tiền dùng để phạm tội đánh bạc nên cần tịch thu
sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ đây là công cụ phạm tội nên
cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136
BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí
Tòa án.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, điếm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38
BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (Sáu) tháng tù. Được trừ đi 03 ngày tạm giữ
(từ ngày 03/4/2019 đến ngày 06/4/2019). Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 2.440.000 đồng (hai triệu bốn trăm
bốn mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ.
(Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự, theo biên
bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2019 giữa Công an huyện Lương Sơn và Chi cục
Thi hành án huyện Lương Sơn).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp
200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hòa Bình;
- Sở Tư pháp HB;
- VKSND tỉnh Hòa Bình ;
- VKSND H. Lương Sơn;
- Trại tạm giam tỉnh Hòa Bình;
- CA H. Lương Sơn;
- THAHS – DS H. Lương Sơn;
- Bị cáo;
- UBND xã Cẩm ninh, huyện Ân
Thị, tỉnh Hưng Yên.
- Lưu HS;
TM. HỘI ĐNG XT X
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Đức Thịnh
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của TAND huyện Cẩm Xuyên (TAND tỉnh Hà Tĩnh) về tội đánh bạc
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 16/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 10/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 21/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 19/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 15/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 06/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm