Bản án số 38/2017/HNGĐ-PT ngày 25/09/2017 của TAND tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2017/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2017/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 38/2017/HNGĐ-PT ngày 25/09/2017 của TAND tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Kiên Giang |
| Số hiệu: | 38/2017/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị H ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 38/2017/HNGĐ-PT
Ngày: 25-9-2017
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán: Ông Lê Lâm Sơn
Ông Huỳnh Tài Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2017/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 9
năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 44/2017/HNGĐ-ST ngày
14/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 209/2017/QĐ-PT ngày
11 ngày 9 tháng 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thúy H, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Nguyễn Văn R, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Văn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Nguyên đơn chị Ngô Thúy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K tự tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân
trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện G cấp
Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/8/2013. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc
được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình, không có sự
cảm thông, chia sẻ, tin tưởng lẫn nhau; anh K thường xuyên nhậu nhẹt, không quan
tâm chăm sóc vợ con. Mặc dù, hai bên gia đình đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ
chồng giữa chị và anh H nhưng cũng không có kết quả. Vợ chồng chị đã sống ly
thân từ tháng 9/2016 đến nay. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh
phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị và anh K có hai người con chung tên Nguyễn Ngô Bảo
Y, sinh ngày 12/01/2014 và bà Nguyễn Ngô A, sinh ngày 03/01/2017. Hiện nay,
hai con đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con cho đến
khi trưởng thành, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của chị
H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay anh đồng ý với
yêu cầu xin ly hôn của chị H; anh yêu cầu được nuôi dưỡng một người con tên Bảo
Y và giao cho chị H nuôi con tên A; tài sản chung và nợ chung không có nên
không yêu cầu giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 44/2017/HNGĐ-ST ngày
14/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện G đã quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Ngô Thúy H được ly hôn với anh
Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngô Bảo Y, sinh ngày 12/01/2014 và
cháu Nguyễn Ngô A, sinh ngày 03/01/2017 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến
khi trưởng thành (trừ trường hợp thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật).
Do chị H không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử
không giải quyết.
Anh K có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai
được quyền ngăn cấm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo
luật định.
3
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/7/2017 bị đơn anh Nguyễn Văn K có đơn
kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bỏ một phần bản án sơ thẩm;
yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngô Bảo Y.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu
ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những
người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại
phiên tòa phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về
hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
anh Nguyễn Văn K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong
vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Xin ly hôn” là chưa cụ thể. Căn cứ
theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, cấp sơ thẩm cần xác định
quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Do vi phạm
này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên Hội đồng xét xử rút kinh nghiệm
chung đối với cấp sơ thẩm khi giải quyết các vụ án khác.
[2] Phần quyết định của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô
Thúy H và anh Nguyễn Văn K không bị kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Anh K kháng cáo yêu cầu được nuôi cháu Bảo Y, sinh ngày 12/01/2014,
Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu được nuôi con của anh K là chính đáng tuy
nhiên việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét đảm bảo mọi quyền
lợi của con. Từ khi sinh ra cho đến nay, hai cháu Y và A được chị H trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc; hai cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Hiện tại, chị H
cũng có công việc ổn định là bán hàng tạp hóa, nuôi heo và làm ruộng nên cũng có
thu nhập để nuôi con. Xét điều kiện nuôi con của anh K, mặc dù anh K cũng có
công việc ổn định, có thu nhập để nuôi con; tuy nhiên anh K lại thường xuyên giao
lưu ăn nhậu với bạn bè nên sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc và nuôi dạy con. Hơn
nữa, hai cháu Y và A là bé gái, từ nhỏ đã sống chung với mẹ nên nếu tách cuộc
sống của hai cháu ra thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý và gây xáo trộn
cuộc sống của hai cháu. Do đó, cấp sơ thẩm quyết định giao hai cháu Y và A cho
4
chị H tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp và có cơ sở; kháng cáo của anh
K là không có cơ sở để chấp nhận.
Từ những cơ sở nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét
xử thống nhất: chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không chấp nhận
kháng cáo của anh K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh K
phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 27,
29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn K.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 44/2017/HNGĐ-ST ngày 14/7/2017 của Tòa
án nhân dân huyện G.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Ngô Thúy H được ly hôn với
anh Nguyễn Văn K.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngô Bảo Y, sinh ngày 12/01/2014 và
cháu Nguyễn Ngô A, sinh ngày 03/01/2017 cho chị Ngô Thúy H tiếp tục nuôi
dưỡng cho đến khi trưởng thành (trừ trường hợp thay đổi người nuôi con theo quy
định của pháp luật).
Anh K có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai
được quyền cản trở.
3. Về án phí:
Án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thúy H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng,
được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo lai thu số
0002481 ngày 23/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
5
Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 đồng, được khấu
trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0008127 ngày
28/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND tỉnh Kiên Giang;
-TAND huyện G;
-THA dân sự huyện G;
- Các đương sự; (Đã ký và đóng dâu)
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Nhiên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm