Bản án số 374/2022/HS-ST ngày 14/12/2022 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tội cướp giật tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 374/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 374/2022/HS-ST ngày 14/12/2022 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tội cướp giật tài sản
Tội danh: 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 374/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/12/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ Tòa án nhân dân
tHnh phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân tnh phố
An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số
359/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra
xét xử số 166/2022/XXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh năm 1985 tại tỉnh Phú Thọ; thƣờng trú: Thôn A, V,
huyện Đoan H1, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông:
Phạm Văn D, sinh năm 1952 bà Đỗ Thị L, sinh năm 1953; bị cáo chƣa có vợ
con; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 29/09/2016, bị Toà án tHnh phố Biên Hoà tuyên phạt 02
năm tội Cƣỡng đoạt tài sản 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, theo Bản án số 585/2016/HSST. Đã chấp Hnh xong hình phạt vào
ngày 28/4/2020; bcáo bbắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2022, mặt tại
phiên tòa.
- B hi: Ch Nguyn Th H, sinh năm 1990; địa ch: S 59/27/18D, khu
ph T, phƣờng Đ, tnh ph An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu gii quyết
vng mt.
- Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan đến v án:
1. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1984; đa ch: A, đƣờng D, Khu ph B,
KDC V, phƣờng A, tnh ph Thun An, tỉnh Bình Dƣơng, đơn yêu cu gii
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 374/2022/HS-ST
Ngày 14-12-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
———————————————————
2
quyết vng mt.
2. Ch Nguyn Th Ngc B, sinh năm 1985; địa ch: S A, t B, khu ph
B, phƣờng Th, tnh ph Thun An, tỉnh Bình Dƣơng, có mt.
3. Đỗ Th L, sinh năm 1953; thƣờng trú: Thôn A, V, huyện Đoan
H1, tnh Phú Th; địa ch liên h: S A, t B, khu ph B, phƣng Th, tnh ph
Thun An, tỉnh Bình Dƣơng. Vng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Phạm Văn H1 chị Nguyễn Thị H quen biết qua mạng hội Zalo từ
tháng 07 năm 2021 và có quan hệ tình cảm với nhau
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 09/5/2022, H1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu
Airblade biển số: 72F1-724.97 đi đến nhà trọ của chị H tại khu phố T, Phƣờng
Đ, tnh phố An, tỉnh Bình Dƣơng đón chị H đi đến quán “LêKiMa” tại địa
chỉ số 464 Khu phố Nội Hoá 1, phƣờng Bình An, tnh phố An, tỉnh Bình
Dƣơng uống phê. Trong quá trình nói chuyện, H1 mƣợn chị H chiếc điện
thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh để nghe nhạc, chị H đồng ý và đƣa
điện thoại cho H1 mƣợn.
Sau khi uống phê xong, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H1 chở chị H
đến quán bánh canh Cô Thanh tại đƣờng Trần Quốc Toản, phƣờng Dĩ An, tnh
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để ăn trƣa, lúc này H1 vẫn còn giữ chiếc điện thoại
di động Iphone 13 Promax của chị H. Khi quán Thanh, H1 lên tiếng rủ chị
H đi nnghỉ để tâm sự, chị H đồng ý. H1 điều khiển xe môtô chở chị H đến
n nghỉ Tân Tân” thuộc khu phố Nội H1, phƣờng Bình An, tnh phố
An, tỉnh Bình Dƣơng, khi đến nhà nghỉ, H1 dừng xe để chị H xuống xe, khi chị
H vừa xuống xe (chuẩn bị đi vào trong sảnh nhà nghỉ thuê phòng) thì H1 tăng ga
nhanh chóng điều khiển xe môtô bỏ chạy. Chị H thấy vậy liền truy chạy bộ
đuổi theo nhƣng không kịp.
Trên đƣờng bchạy, H1 tắt máy điện thoại Iphone Promax của H tháo
sim vứt bỏ dọc đƣờng. Đến ngày 04/6/2022, H1 mang chiếc điện thoại Iphone
13 Promax đến tiệm điện thoại “Triệu Phú” tại địa chỉ A, đƣờng D, Khu ph B,
KDC V, phƣờng A, tnh ph Thun An, tỉnh Bình Dƣơng của anh Nguyễn Văn
H2 để sửa màn hình. Đến khoảng 14 giờ ngày 06/6/2022 H1 đang điều khiển xe
nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy JFJ4E0441088, số
khung RLHJF6333NZ110393 của chNguyễn Thị Ngọc B đi trên đƣờng khu
5, phƣờng Phú Hoà, tnh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng thì bị chị H phát
hiện báo Công an phƣờng Phú Hoà đến đƣa H1 về trụ sở làm việc. Cùng
ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tnh phố An ra Lệnh bắt ngƣời bị
giữ trong trƣờng hợp khẩn cấp đối với H1.
* Kết luận định giá tài sản số 61/BBĐG-HĐĐGTS ngày 16/6/2022 của
Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: Điện
3
thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh ã qua sử dụng) trị g
23.000.000 đồng;
* Tang vật tạm giữ gồm:
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh;
- Một xe mô nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy
JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ11039.
Tại o trạng số 387/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 11 năm 2022, Viện
kiểm sát nhân dân tnh phố An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Văn
H1 về tội Cƣớp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tnh phố An giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị
Hội đồng xét xáp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h
Điều 52 Bộ luật Hình snăm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị
cáo Phạm Văn H1 từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (năm) 03 (ba) tháng
tù.
*V xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh,
quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử vật chứng trả cho chị Nguyễn
Thị H, chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm
dân sự không đặt ra.
- Đối với xe mô tô hiệu Airblade biển số 72F1-72407 do Phạm Văn H1
mua lại của tiệm xe máy trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Rịa - Vũng
Tàu. H1 sử dụng xe vào việc phạm tội. Tuy nhiên, sau khi thực hiện xong việc
chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị H, H1 đã làm mất xe nên
quan điều tra không thu hồi đƣợc.
- Đối với xe nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy
JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ11039 thuộc sở hữu của chị Nguyễn
Thị Ngọc B, xe này không liên quan đến việc phạm tội nên quan điều tra đã
trả lại tài sản cho chị B.
- Đối với stiền 9.500.000 đồng chi phí sửa chữa điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone 13 Promax của anh Nguyễn Văn H2 đã đƣợc Đỗ Thị L (mẹ của
Phạm Văn H1) bồi thƣờng, anh H2 không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận; bị hại ngƣời quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án vắng mặt nên không tranh luận, không đối đáp.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tố tụng:
4
[1.1] Về nh vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an tnh
phố An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tnh phố An, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại,
ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ngƣời làm chứng không
ý kiến hay khiếu nại về nh vi, quyết định của quan tiến nh tố tụng,
ngƣời tiến nh tố tụng. Do đó, các nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
nh tố tụng, ngƣời tiến nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa bị hại, ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án anh H2 đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án Đỗ Thị L vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng
Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án.
[2] Căn cứ xác định nh vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị
cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, lời khai của ngƣời
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của ngƣời chứng kiến tại
quan điều tra cũng phù hợp với các tài liệu khác trong hván nhƣ
Biên bản bắt ngƣời bgiữ trong trƣờng hợp khẩn cấp, Biên bản xác định địa
điểm, Kết luận định giá tài sản số 61/BBĐG-HĐĐGTS ngày 16/6/2022 của Hội
đồng định giá tài sản thành phố An. Nhƣ vậy, nh vi bị cáo Phạm Văn H1
chiếm giữ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh trị giá
23.000.000 đồng của chị H rồi nhanh chóng tăng ga xe mô tẩu thoát đã phạm
tội cƣớp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Năm 2016, bị cáo đã bị xử phạt về tội Cƣỡng đoạt tài sản tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trƣờng hợp tái
phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số
387/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tnh
phố An, tỉnh Bình Dƣơng luận tội của Kiểm sát viên đnghị đối với bị
cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của nh vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện
nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân
đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật ttrị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xphạt
bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện,
xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị
cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo một tiền án chƣa
đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định
tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quan điều tra bị cáo
tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng số
tiền 9.500.000 đồng cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bị hại
chị H, ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hay yêu cầu
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đâycác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
5
quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. vậy, Hội đồng xét
xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh,
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị H là đúng quy định pháp
luật.
- Đối với xe mô tô hiệu Airblade biển số 72F1-72407 do Phạm Văn H1
mua lại của tiệm xe máy trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Rịa - Vũng
Tàu. H1 sử dụng xe vào việc phạm tội. Tuy nhiên, sau khi thực hiện xong việc
chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị H, H1 đã làm mất xe nên
quan điều tra không thu hồi đƣợc.
- Đối với xe nhãn hiệu Airblade biển số: 93F1-635.79, số máy
JFJ4E0441088, số khung RLHJF6333NZ11039 thuộc sở hữu của chị Nguyễn
Thị Ngọc B, xe này không liên quan đến việc phạm tội nên quan điều tra đã
trả lại tài sản cho chị B là đúng quy định pháp luật.
- Đối với số tiền 9.500.000 đồng chi phí sữa chữa điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone 13 Promax của anh Nguyễn Văn H2 đã đƣợc Đỗ Thị L (mẹ của
Phạm Văn H1) bồi thƣờng, anh H2 không có yêu cầu gì khác.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại
Nguyễn Thị H số tiền sửa chữa điện thoại 9.500.000 đồng bị cáo đã tác động
gia đình bồi thƣờng cho anh H2. Chị H anh H2 không yêu cầu khác, số
tiền 9.500.000 đồng bà Đỗ Thị L đã bồi thƣờng thay cho bị cáo, bà L không yêu
cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh phố Dĩ An về mức
hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Án phí hình sự thẩm: Bcáo H1 phải nộp theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H1 phạm tội Cƣớp giật tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h
khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng , thời hạn
tính từ ngày 07/6/2022.
2. Về án phí hình sự thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng
Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vQuốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
6
Bị cáo Phạm Văn H1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mặt tại phiên
tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại,
ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Dĩ An;
- Công an thành phố Dĩ An;
- Chi cục THA dân sự tnh phố Dĩ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh BD;
- TAND tỉnh BD;
- UBND nơi bị cáo cƣ trú;
- Phòng PV 27 CA tỉnh BD;
- Phòng PC 81 CA tỉnh BD;
- Ngƣời tham gia tố tụng;
- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng;
-VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng;
- Lƣu: VT, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Trần Thị Kim Hoa
THNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tải về
Bản án số 374/2022/HS-ST Bản án số 374/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất