Bản án số 37/2021/HS-PT ngày 04/02/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 37/2021/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 37/2021/HS-PT ngày 04/02/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 37/2021/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/02/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 37/2021/HS-PT
Ngày 04 - 02 - 2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TNH ĐẮK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Doãn Đình Quyến.
Các Thm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Chung
2. Ông Nguyễn Huờn
- Thư phiên a: Thị Hương Giang Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên tòa: Ông
Hoàng Văn Cầu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, ti tr s Tòa án nhân dân tnh Đắk Lk t
x phúc thm công khai v án hình s th lý s: 384/2020/TLPT-HS ngày 28
tháng 12 năm 2020 đối vi bo Hồ Đình B và đồng phạm, về tội “Đánh bạc”,
do có kháng cáo của các bị cáo đối vi Bn án hình s sơ thm s: 29/2020/HS-
ST ngày 17 tháng 11 năm 2020 ca Tán nhân dân huyện M’ Đrắk, tỉnh Đắk
Lắk.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Hồ Đình B, sinh ngày 24/02/1988, tại huyện YT, tỉnh Nghệ An; nơi
trú: Thôn 6, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ
học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt
Nam; con ông Hồ Đình B1, sinh năm 1958 Chu Thị M1, sinh năm 1963;
bị cáo vợ Phạm Thị V1, sinh năm 1994 01 con sinh năm 2013, hiện
trú tại thôn 6, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; tiền án, tiền sự: Không; bcáo
hiện đang tại ngoại - Có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Văn L, sinh ngày 01/01/1963, tại huyện AS, tỉnh Nghệ An; nơi
trú: Thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình
độ học vấn: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B2 (tên gọi khác: Q) Trần Thị M2 (Đều
2
đã chết); bị cáo có vợ là Bùi Thị V2, sinh năm 1967 có 04 con (lớn nhất sinh
năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1992), hiện trú tại thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh
Đắk Lắk; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại Bản án số 36/2015/HSST ngày 18/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện
M’ Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội
“Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 01 năm.
- Tại Quyết định số 23/QĐ-XPVPHC ngày 01/7/2016, bị Công an huyện
M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc
trái phép.
Bcáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020, hiện đang tại
ngoại - Có mặt tại phiên toà.
3. Nông Văn T, sinh ngày 12/02/1978, tại huyện VQ, tỉnh Lạng Sơn; nơi
trú: Thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình
độ học vấn: 01/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam; con ông Nông Văn B3 (đã chết) và bà Chu Thị V3, sinh năm 1957; bị
cáo có vợ Nông Thị V3, sinh năm 1980 và có 03 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ
nhất sinh m 2015), hiện trú tại thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; tiền
án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại Quyết định số 24/QĐ-XPVPHC ngày 01/7/2016, bị Công an huyện
M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc
trái phép.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2017/HSST ngày 23/01/2017, bị Tòa án
nhân dân huyện M’ Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án
treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 năm.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020, hiện đang tại
ngoại - Có mặt tại phiên toà.
4. Phạm Văn H, sinh ngày 20/8/1966, tại huyện TH, tỉnh Hải Dương; nơi
trú: Thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình
độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam; con ông Phạm Văn B4 (đã chết) Nguyễn Thị M4, sinh năm
1936; bị cáo vợ Nguyễn Thị V4, sinh năm 1968 02 con (lớn sinh
năm 1990, nhỏ sinh năm 1995), hiện trú tại thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk
Lắk; tiền án, tiền sự: Không;
3
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2016/HSST ngày 29/01/2016,
bị Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 6.000.000 đồng về tội
“Đánh bạc”; Ngày 15/4/2016, bị cáo chấp hành xong bản án.
Bcáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020, hiện đang tại
ngoại - Có mặt tại phiên toà.
5. Tân Văn K, sinh ngày 13/5/1961, tại huyện NS, tỉnh Hải Dương; nơi
trú: Thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ
học vấn: 7/12; n tộc: Kinh; giới tính: Nam; n giáo: Không; Quốc tịch: Việt
Nam; con ông Tân Văn B5 (đã chết) và bà Đỗ Thị M5, sinh năm 1933; bị cáo có
vợ Trần Thị V5, sinh năm 1967 03 con (lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ
nhất sinh năm 1992); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 25/QĐ-XPVPHC ngày 01/7/2016, bị ng
an huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi
đánh bạc trái phép.
Bcáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020, hiện đang tại
ngoại - Có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra, trong vụ án còn bị cáo Đình Đ, Phạm Văn Y nhưng không
có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/7/2020, Phạm Văn H, Tân Văn K, Nguyễn
Văn L, Nông Văn T và Hồ Đình B ngồi chơi tại nhà của Đình Đ. B nói “Lâu
quá anh em mình làm tí”, ý muốn rủ những người đây ng đánh bạc, tất cả
đều đồng ý. H lấy vỏ bao thuốc lá, dùng kéo cắt thành 04 con vị. H, K, T, L và B
mượn bát, đĩa sứ, chiếu nhựa của nhà Đ đem đến rẫy trồng keo của gia đình anh
Tân Văn Q thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk đánh bạc dưới hình thức
“xóc đĩa”. Tại đây, T sử dụng 1.000.000 đồng mượn được từ B, L sử dụng
3.700.000 đồng, H sử dụng 505.000 đồng, K sdụng 600.000 đồng và B sử
dụng khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc. B cầm cái để xóc đĩa cho T, L, H
K đặt cược bằng tiền, theo cách thức đặt cược “chẵn”, “lẻ”. Sau khi đánh bạc
khoảng 30 phút, Phạm Văn Y đến xem, được L trả nợ cho 200.000 đồng. Y sử
dụng số tiền này để tham gia đánh bạc. Chơi được khoảng 30 phút, Y thua hết
tiền nên không chơi nữa bỏ về trước. Đ đến xem sử dụng 100.000 đồng
tham gia đặt cược.
Các đối tượng đang đánh bạc đến 15 giờ 19 phút, cùng ngày thì bị lực
4
lượng Công an bắt quả tang, Đ và B bỏ chạy khỏi hiện trường. Cơ quan Công an
tạm giữ của L số tiền 4.700.000 đồng, T số tiền 4.600.000 đồng và 01 điện thoại,
H số tiền 2.800.000 đồng 01 điện thoại, K số tiền 100.000 đồng 01 điện
thoại, 01 chiếu nhựa màu xanh, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 con vị.
Quá trình điều tra xác định được H, K, L đã sử dụng tất cả số tiền của nh
để đánh bạc; Đ, B Y đều đã thua hết stiền ban đầu sử dụng để đánh bạc,
riêng T chỉ sử dụng số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc trong tổng số tiền
4.600.000 đồng T bị tạm giữ, số tiền 2.500.000 đồng T để trong tiền T
dùng vào công việc gia đình, không sử dụng để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền
mà các bị cáo H, K, L, T, B, Y và Đ đã dùng để đánh bạc với nhau 9.700.000
đồng.
Tại bản án hình sự thẩm số 29/2020/HS-ST ngày 17 tháng 11 m
2020 của Toà án nhân dân huyện M’ Đrắk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố các bị o Hồ Đình B, Nguyễn Văn L, Nông Văn T, Phạm Văn
H, Tân Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị o Hồ Đình B 08 tháng tù. Thời hạn tính tngày bắt đi thi
hành án.
Xử phạt bị cáo Tân Văn K 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt đi thi
hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25 đến ngày 31/7/2020.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt đi
thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25 đến ngày 31/7/2020.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi
hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25 đến ngày 31/7/2020.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
hình sự; Xử phạt bị cáo Nông Văn T 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bt đi
thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25 đến ngày 31/7/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo
Đình Đ, Phạm Văn Y, về xử vật chứng, án phí quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Ngày 20, 26 27/11/2020 ngày 01/12/2020, các bị cáo Tân Văn K,
Phạm Văn H, Nông Văn T, Nguyễn Văn L, Hồ Đình B kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hồ Đình B, Nguyễn Văn L, Nông Văn
5
T, Phạm Văn H, Tân Văn K giữ nguyên nội dung kháng cáo khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện như nội dung bản cáo trạng bản
án hình sự sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính
chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm của
Tòa án nhân dân huyện M’ Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử bị cáo các bị cáo Hồ Đình
B, Nguyễn Văn L, Nông n T, Phạm Văn H, Tân Văn K về tội Đánh bạc”
theo khoản 1 Điều 321 Bluật hình sự n cứ, đúng người, đúng tội. Xét
mức hình phạt 08 tháng đối với bị cáo Hồ Đình B; 06 tháng đối với các bị
cáo Tân Văn K, Phạm Văn H, Nông Văn T; 07 tháng đối với bị cáo Nguyễn
Văn L mà Tòa án cấp thẩm đã xử phạt các bị cáo phù hợp. Đối với các bị
cáo Phạm Văn H, Nông Văn T, Nguyễn Văn L đều nhân thân xấu, đều bị
quan có thẩm quyền xử lý về hành vi vi phạm pháp luật, mặc dù đã được xóa án
tích nhưng các bị cáo không lấy đó bài học cho bản thân mà n T tục phạm
tội nên đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, T và bị cáo
L. Đối với các bị cáo Hồ Đình B, Tân Văn K các bị cáo phạm tội lần đầu,
nhân thân tốt, nơi trú ổn định, ràng. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận
kháng cáo của các bị cáo B và bị cáo K, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số
29/2020/HS ST ngày 17 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện
M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt đối với hai bcáo H
Đình BTân Văn K.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các bcáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị o Hồ Đình B, Nguyễn Văn L, Nông Văn T, Phạm
Văn H, Tân Văn K tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị
cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng
cứ khác trong hồ vụ án. Như vậy, đã đủ sở pháp kết luận: Vào
khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/7/2020, tại rẫy trồng keo của gia đình anh Tân
Văn Q thôn 8, KR, huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk, Hồ Đình B, Phạm Văn H,
Tân Văn K, Nguyễn Văn L, Nông Văn T, Phạm Văn Y Đình Đ đã cùng
nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, đến 15 giờ 19 phút
cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu gitrên người các bị cáo
6
tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.700.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Hồ Đình B, Nguyễn Văn L,
Nông Văn T, Phạm Văn H, Tân Văn K về tội “Đánh bạc theo khoản 1 Điều
321 Bộ luật hình sự là căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội đúng
pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo của
các bị cáo Hồ Đình B, Nguyễn Văn L, Nông Văn T, Phạm Văn H, Tân Văn K:
[2.1]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hìn phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử
thấy rằng: Mặc sau khi xét xử sơ thẩm, các bị o Hồ Đình B, Nguyễn Văn
L, Phạm Văn H Tân Văn K cung cấp thêm tình tiết tiết giảm nhẹ mới gia
đình công với nước. Tuy nhiên, mức hình phạt Tòa án cấp thẩm đã xử
phạt 08 tháng đối với bị o Hồ Đình B; 07 tháng đối với bị cáo Nguyễn
Văn L; 06 tháng tù đối với các bị cáo Tân Văn K, Phạm Văn H, Nông Văn T
thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo.
[2.2]. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét
xử thấy rằng:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Văn H, Nông n T đều người
nhân thân xấu, đều đã từng bị Tòa án kết án về hành vi phạm tội. Mặc đã
được xóa án tích nhưng các bị cáo không lấy đó bài học để dưỡng, rèn
luyện bản thân còn T tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử không căn cứ
để chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.
Đối với các bị cáo Hồ Đình B Tân Văn K: c bị cáo khi phạm tội được
hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội
lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bi cáo B công với cách
mạng. Đây các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự không tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự. Bị cáo nhân thân tốt, nơi trú ràng. Do đó, không cần thiết
phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống hội mà áp dụng biện pháp miễn chấp
hành hình phạt điều kiện cho các bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo tự
cải tạo ngoài hội dưới sự giám sát giáo dục của gia đình chính quyền địa
phương. vậy, chấp nhận đnghịe của đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh
Đắk Lắk và kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Hồ Đình B và Tân
Văn K Sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Hồ
Đình B và bị cáo Tân Văn K.
[3] Về án phí:
- Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Nguyễn Văn L, Nông
7
Văn T, Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Do được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Hồ Đình B, Tân Văn K
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của các bcáo: Nguyễn Văn L, Nông Văn T
Phạm Văn H.
- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Đình Bn Văn K.
- Sửa một phần Bản án hình sthẩm số: 29/2020/HS-ST ngày 17 tháng
11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp
chấp hành hình phạt đối với các bị cáo Hồ Đình Bn Văn K.
2. Tội danh và mức hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2
khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối
với bị cáo Hồ Đình B):
X pht b cáo: H Đình B 08 tng tù, về tội: Đánh bạc, nhưng cho hưởng
án treo, thời gian th thách là 01 năm 4 tháng, tính t ngày tuyên án phúc thm.
Xử phạt bị cáo: Tân Văn K 06 tháng tù, về tội: “Đánh bạc”, nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Hồ Đình B Tân Văn K cho Ủy ban nhân dân KR,
huyện MĐ, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục gia đình bị o trách nhiệm
phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám t, giáo dục bị cáo trong
thời gian thử thách.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi i
trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự 2015;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn L 07 tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn
8
chấp hành hình phạt tính từ ngày đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị
bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự 2015;
Xử phạt bị cáo: Phạm Văn H 06 tháng , về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị
bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020.
- Áp dng khon 1 Điu 321; điểm s khoản 1, khon 2 Điều 51 Bluật hình s;
Xử phạt bị cáo: Nông Văn T 06 tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị
bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/7/2020.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nông Văn T, Phạm Văn H, mỗi bị
cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Hồ Đình B,
Tân Văn K, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối Cao;
- TAND Cấp cao
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện M’ Đrắk;
- VKSND huyện M’ Đrắk;
- Công an huyện M’ Đrắk;
- Chi cục THADS huyện MĐ;
- UBNDKR, huyện MĐ;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Doãn Đình Quyến
Tải về
Bản án số 37/2021/HS-PT Bản án số 37/2021/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất