Bản án số 362/2017/HSST ngày 21/09/2017 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 362/2017/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 362/2017/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 362/2017/HSST ngày 21/09/2017 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tội mua bán trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 362/2017/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 362/2017/HSST
Ngày: 21/9/2017
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Huỳnh
2. Ông Nguyễn Thành Châu
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Cán bộ
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Phan Việt Thắng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 450/2017/HSST
ngày 10 tháng 8 năm 2017, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc G, giới tính: nam; sinh năm: 1971 tại Sài Gòn; thường
trú: 1678/26 đường P, Phường S, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ
văn hóa: 10/12; nghề nghiệp không có; con ông Nguyễn Hữu L (chết) và bà
Võ Thị V; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh
năm 2003; tiền án: Ngày 06/9/2012 bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03
năm 06 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Ngày 29/4/2015 chấp hành xong
hình phạt tù; tiền sự: không có; bị tạm giam từ ngày 13/02/2017 (có mặt).
2. Nguyễn Đăng K, giới tính: nam; sinh năm: 1965 tại Sài Gòn; thường
trú: 1678/7 đường P, Phường S, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ
văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: không có; con ông Nguyễn Văn B và bà Lưu Thị
Th; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:
Ngày 16/6/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí
Minh xử phạt 08 tháng 24 ngày tù về tội “Đánh bạc”; bị tạm giam từ ngày
13/02/2017 (có mặt).
Những người tham gia tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị Ngọc Y. Sinh năm: 1971
Thường trú: 1678/26 đường P, Phường S, Quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2
Là vợ của Nguyễn Ngọc G (có mặt).
Người bào chữa:
Luật sư Võ Đức Trung, Văn phòng luật sư Trung Anh thuộc Đoàn luật
sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng K và Nguyễn
Ngọc G (có mặt).
NHẬN THẤY
Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về
hành vi phạm tội như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 13/02/2017 tại trước nhà số A2/1 ấp 2A, xã
H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy
Công an huyện B phát hiện Nguyễn Ngọc G có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành
kiểm tra. G lấy từ trong túi quần bên phải phía trước 03 gói nylon hàn kín bên
trong có chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là heroin, khối lượng
40,5008 gram. Khám xét nơi ở của G thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01
cân tiểu ly, 01 quẹt gas và 10 gói nylon.
Quá trình điều tra xác định, G quen biết Nguyễn Đăng K là người ở
chung xóm có nguồn heroin để bán. Khoảng 15 giờ ngày 13/02/2017 có một
phụ nữ đặt mua của G 1,5 cây heroin với giá 45.000.000 đồng, G đồng ý và
đến nhà K hỏi mua 1,5 cây heroin, K báo giá 42.000.000 đồng và hẹn G một
lúc sau quay lại lấy. Sau đó K đến hẻm ngã ba cây dừa thuộc Phường 14, Quận
T gặp người đàn ông tên U (không rõ lai lịch) mua 1,5 cây heroin với giá
40.500.000 đồng gồm 03 gói nylon để trong bọc màu đen. Sau khi nhận ma túy
K đem về nhà đặt tại sàn nhà trước cửa chính và chỉ G đến lấy. Sau khi lấy, G
kiểm tra và nói với K sau khi bán sẽ đem tiền trả K. Trên đường đi bộ về nhà,
G bỏ 3 gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải và vứt bỏ bịch nylon đen.
Sau khi về nhà, G lấy xe gắn máy tới điểm hẹn tại ngã tư quốc lộ 50 – Nguyễn
Văn Linh để bán lại cho N (không rõ lai lịch) nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả
tang.
Tại bản Cáo trạng số 317/CTr-VKS-P1, ngày 01 tháng 8 năm 2017 của
Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Đăng K
và Nguyễn Ngọc G về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản
3 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc G và Nguyễn Đăng K khai nhận bắt đầu
quen biết từ tháng 1/2017 do ở chung một xóm. G biết K có ma túy bán nên
ngày 13/02/2017 G liên hệ K mua 1,5 cây heroin với giá 42.000.000 đồng để
bán lại cho đối tượng tên N (không rõ lai lịch). Sau khi G đặt mua ma túy, K
3
liên hệ đối tượng tên U (không rõ lai lịch) mua 1,5 cây heroin với giá
40.500.000 đồng về đưa cho G. Trên đường tới điểm hẹn tại ngã tư Quốc lộ
50 – Nguyễn Văn Linh để bán lại cho N thì G bị bắt quả tang và thu giữ toàn
bộ số ma túy, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa nêu ý kiến kết
luận:
- Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc G và
Nguyễn Đăng K như nội dung bản cáo trạng.
- Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị xử phạt:
+ Nguyễn Ngọc G từ 16 đến 18 năm tù và nộp phạt số tiền 20.000.000
đồng để sung quỹ Nhà nước.
+ Nguyễn Đăng K từ 15 đến 17 năm tù và nộp phạt số tiền 20.000.000
đồng để sung quỹ Nhà nước.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo nêu ý kiến:
- Thống nhất về tội danh và khung hình phạt truy tố đối với các bị cáo.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm
nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia
đình có khó khăn nhất định khi bị cáo là lao động chính, trình độ học vấn thấp
nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Các bị cáo đều mua bán ma
túy lần đầu, chưa được hưởng lợi. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt
mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại
phiên tòa.
- Đối với chiếc xe gắn máy thu giữ khi bắt quả tang bị cáo G, do vợ bị
cáo đứng tên và không biết việc làm của bị cáo. Đây là chiếc xe duy nhất gia
đình làm phương tiện đưa con đi học. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên
trả chiếc xe này cho bà Y là vợ bị cáo.
Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản
bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và vụ án còn được chứng minh
qua các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận
giám định, biên bản ghi lời khai người làm chứng, biên bản xác minh và các
biên bản hoạt động điều tra khác…
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ
cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Ngọc G và Nguyễn Đăng K phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật Hình sự như Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là có căn cứ, đúng pháp
luật.
Hành vi của các bị cáo gây nguy hại cho xã hội, gieo rắc nọc độc, làm
tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy, tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy
4
hiểm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo Nguyễn Ngọc G tham gia mua
bán ma túy khi bị bắt quả tang, thu giữ qua giám định là heroin với khối lượng
là 40,5008 gram. Trước đây bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích, lại tiếp
tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm do đó cần áp dụng điểm b khoản 3
Điều 194 và điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo với
mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Đăng K bán heroin cho Nguyễn Ngọc G với tổng khối
lượng là 40,5008 gram. Do đó cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật
Hình sự để xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo tại cơ
quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ
ra ăn năn hối cải, bản thân thuộc thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn
thấp. Các bị cáo lần đầu phạm loại tội về ma túy, toàn bộ số ma túy đã bị thu
hồi nên Hội đồng xét xử giảm cho các bị cáo một mức hình phạt như lời bào
chữa của luật sư là có cơ sở.
Ngoài hình phạt chính, buộc các bị cáo nộp phạt một khoản tiền nhất
định để sung quỹ Nhà nước.
Vật chứng vụ án:
- Số ma túy, quẹt gas và bịch nylon là vật chứng của vụ án, không có giá
trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Điện thoại di động, cân điện tử là phương tiện bị cáo sử dụng để thực
hiện, liên lạc, trao đổi ma túy bán túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Xe gắn máy biển số 59L1-184.36 bị cáo G sử dụng đi giao ma túy cho
đối tượng tên Nguyệt. Qua xác minh do bà Hoàng Thị Ngọc Y (vợ G) đứng
tên sở hữu từ năm 2011, xác định bà Y không biết G sử dụng để phạm tội do
đó trả lại cho bà Y.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đăng K và Nguyễn Ngọc G phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48;
điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Nguyễn Ngọc G 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày 13/02/2017.
Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2
Điều 46 Bộ luật Hình sự.
5
+ Xử phạt: Nguyễn Đăng K 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 13/02/2017.
Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 41
Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói niêm phong ghi vụ số 450/2017 bên ngoài có chữ ký của giám
định viên Huỳnh Thanh Thảo và cán bộ điều tra.
+ 01 bộ sử dụng ma túy.
+ 01 quẹt gas.
+ 10 gói nylon.
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động Nokia màu đen.
+ 01 điện thoại Iphone, Model: A1387.
+ 01 cân điện tử.
* Trả lại cho bà Hoàng Thị Ngọc Y: 01 xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu:
không rõ, loại xe: 02 bánh, số loại: không xác định, biển số: 59L1-184.36, số
khung: RLGKA11AD-BD022206, số máy: VMVUAA-D022206.
(Biên bản giao nhận tang tài vật số 295/17 ngày 19/7/2017 của Cục thi
hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tại kho 253/5 Lũy Bán Bích, phường
Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh).
Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong,
hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất
10%/năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TC; (1)
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp Cao tại Tp.HCM; (1)
- VKSND TP-HCM; (3)
- Cục THA DS; (1)
- THA HS; (1)
- Trại giam, bị cáo; (4)
- Người tham gia tố tụng (2)
- Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (1)
-
Sở Tư pháp; (1)
Nguyễn Văn Hà
- UBND nơi bị cáo cư trú; 2)
- Lưu, hình sự, hồ sơ (21). (4)
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của TAND tỉnh Hà Nam về về tội mua bán trái phép chất ma túy
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm