Bản án số 36/2023/KDTM-ST ngày 19/04/2023 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ bảo vệ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 36/2023/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 36/2023/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 36/2023/KDTM-ST ngày 19/04/2023 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ bảo vệ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về cung ứng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Quận 1 (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 36/2023/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/04/2023 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ N - Công ty Cổ phần T2 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————
Bản án số: 36/2023/KDTM-ST
Ngày: 19-4-2023
V/v tranh chấp về hợp đồng dịch vụ
bảo vệ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Phúc.
Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa
án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Liên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại
thụ lý số: 229/2020/TLST-KDTM ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh
chấp về hợp đồng dịch vụ bảo vệ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
707/2023/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn
phiên toà số: 1606/2023/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ N
Địa chỉ trụ sở: Phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh..
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thuỳ T, sinh năm 1993
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); địa chỉ: Phường Thạnh Xuân, Quận 12,
Thành phố Hồ Chí Minh., là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày
19 tháng 4 năm 2023).
Bị đơn: Công ty Cổ phần T2 (Vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1957
(Vắng mặt); địa chỉ: Ấp Suối Cát 2, xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng
Nai, là người đại diện theo pháp luật.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 5 năm 2020 và trong quá trình giải
quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27 tháng 3 năm 2017, nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Dịch vụ bảo vệ N và bị đơn Công ty Cổ phần T2 có ký kết Hợp đồng cung cấp
và sử dụng dịch vụ bảo vệ số: 186/HĐBV/2017, cụ thể: Khu vực yêu cầu bảo
vệ: Toà nhà X, địa chỉ: Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
Thời hạn hợp đồng tối thiểu là 01 năm kể từ ngày 27 tháng 3 năm 2017. Từ ngày
27 tháng 3 năm 2017 đến nay, hai bên đã thực hiện đúng và đầy đủ theo yêu cầu
hợp đồng.
Vào ngày 24 tháng 01 năm 2020, nguyên đơn đã xuất hoá đơn số 0000723
cho bị đơn nhưng bị đơn không thanh toán. Đến ngày 09 tháng 3 năm 2020,
nguyên đơn liên hệ trực tiếp bị đơn và nhận được 14.000.000 đồng, bị đơn hứa
sẽ thanh toán số tiền còn lại là 9.237.500 đồng.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020, nguyên đơn đã xuất hoá đơn số 0000742 cho
bị đơn nhưng bị đơn không thanh toán phí dịch vụ tháng 02 là 23.237.500 đồng.
Đến ngày 11 tháng 3 năm 2020, bị đơn có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, cắt
hợp đồng không đúng quy định và không thông báo cho bị đơn, các khoản phí
đã nợ cũng không thanh toán, vì vậy, nguyên đơn chưa xuất hoá đơn tháng 3 cho
bị đơn, phí dịch vụ 10 ngày là 6.815.000 đồng chưa bao gồm thuế VAT.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phí dịch vụ bảo
vệ còn thiếu là 39.290.000 đồng.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán tính đến
ngày xét xử sơ thẩm đối với số tiền 39.290.000 đồng.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người
khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19 tháng 4 năm 2023:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện yêu cầu bị đơn thanh toán phí dịch vụ bảo vệ còn thiếu là 39.290.000 đồng.
Nguyên đơn xác định ngoài các yêu cầu khởi kiện nêu trên, nguyên đơn không
còn yêu cầu nào khác.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán tính đến
ngày xét xử sơ thẩm đối với số tiền 39.290.000 đồng.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không
có yêu cầu phản tố.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của
3
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết nội dung vụ
án, sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ
bảo vệ N khởi kiện tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bảo vệ với bị đơn Công ty
Cổ phần T2 có trụ sở tại Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Căn cứ Giấy ủy quyền ngày 19 tháng 4 năm 2020 của nguyên đơn uỷ
quyền cho bà Lê Thuỳ T thay mặt nguyên đơn tham gia tố tụng để thực hiện
quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[4] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử
thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của
đương sự, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp
đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo vệ số: 186/HĐBV/2017 ngày 27 tháng 3
năm 2017, theo đó, nguyên đơn cung cấp dịch vụ bảo vệ cho toà nhà X, địa chỉ:
Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Thời hạn hợp đồng: Tối
thiểu là 01 năm kể từ ngày 27 tháng 3 năm 2017; Phí dịch vụ hàng tháng là
21.125.000 đồng/tháng, chưa bao gồm VAT. Các bên chỉ thoả thuận thời hạn tối
thiểu của hợp đồng là 01 năm, không thoả thuận thời hạn kết thúc hợp đồng, nên
Hội đồng xét xử có cơ sở xác định đây là loại hợp đồng dịch vụ không xác định
kỳ hạn. Hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với Điều 513, Điều 514 của
Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 74 của Luật Thương mại năm 2005, do đó, hợp
đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo vệ số: 186/HĐBV/2017 ngày 27 tháng 3
năm 2017 có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
theo các Điều 515, 516, 517, 518 và 519 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 78,
Điều 85 của Luật Thương mại năm 2005. Ngày 25 tháng 11 năm 2019, nguyên
4
đơn và bị đơn ký Phụ lục Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số: 01/HĐBV/2019 tăng
thêm vị trí bảo vệ, bắt đầu triển khai từ ngày 25 tháng 11 năm 2019.
[5] Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn có thực hiện nghĩa vụ thanh
toán tiền cho nguyên đơn, tuy nhiên, bị đơn thanh toán không đầy đủ trong các
tháng 01, 02 và 03 năm 2020, cụ thể:
[6] Tháng 01 năm 2020, nguyên đơn đã xuất hóa đơn GTGT số 0000723
ngày 24 tháng 01 năm 2020 cho bị đơn, nguyên đơn xác định đã được bị đơn
thanh toán trực tiếp số tiền 14.000.000 đồng, bị đơn còn nợ 9.237.500 đồng.
Mặc dù nguyên đơn và bị đơn không giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ nào
chứng minh nguyên đơn đã nhận được 14.000.000 đồng, nhưng nguyên đơn
thừa nhận sự việc nêu trên là có thật, lời trình bày của nguyên đơn là có lợi cho
bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Tháng 02 năm 2020, nguyên đơn đã xuất hóa đơn GTGT số 0000742
ngày 24 tháng 02 năm 2020 cho bị đơn với số tiền 23.237.500 đồng (đã bao gồm
VAT). Tháng 03 năm 2020, nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ cung cấp dịch vụ
bảo vệ cho bị đơn trong 10 ngày, theo đó, đến ngày 11 tháng 3 năm 2020, hai
bên ký biên bản bàn giao lại toàn bộ tài sản tại toà nhà Số 85 Nguyễn Hữu Cầu,
phường Tân Định, Quận 1 cho bị đơn theo Biên bản bàn giao ngày 11 tháng 3
năm 2020 do nguyên đơn giao nộp. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị
đơn còn nợ nguyên đơn phí dịch vụ tháng 02 năm 2020 là 23.237.500 đồng và
phí dịch vụ 10 ngày của tháng 03 năm 2020 là: (21.125.000 đồng : 30 ngày) x
10 ngày = 7.041.666 đồng. Đối với tháng 03 năm 2020, nguyên đơn chỉ yêu cầu
bị đơn thanh toán 6.815.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi
nhận.
[8] Tổng cộng số tiền bị đơn còn nợ: 9.237.500 đồng + 23.237.500 đồng +
6.815.000 đồng = 39.290.000 đồng.
[9] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở để xem xét chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán phí dịch vụ
bảo vệ còn nợ các tháng 01, 02 và 03 năm 2020 là 39.290.000 đồng.
[10] Căn cứ Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005, nguyên đơn có
quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán. Tuy nhiên, nguyên đơn tự nguyện
không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả tính đến ngày Toà án xét xử
sơ thẩm là ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với số tiền 39.290.000 đồng là quyền
quyết định và tự định đoạt của đương sự, phù hợp với quy định tại Điều 5 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[11] Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ
lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa,
5
nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không xuất trình tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho quan điểm của mình, cũng như không có ý kiến phản đối yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc
không đưa ra đủ chứng cứ được quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được
có trong hồ sơ.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 là có cơ sở.
[13] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án
phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[14] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại
Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều
228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 513,
514, 515, 516, 517, 518 và 519 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 74, 78,
85 của Luật thương mại năm 2005; Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi
phạm; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ N
Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ N tổng số tiền dịch vụ bảo vệ còn nợ các
tháng 01, 02 và 03 năm 2020 là 39.290.000 đồng (Ba mươi chín triệu, hai trăm
chín mươi ngàn) đồng, theo Hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo vệ số:
186/HĐBV/2017 ngày 27 tháng 3 năm 2017; Phụ lục Hợp đồng dịch vụ bảo vệ
số: 01/HĐBV/2019 ngày 25 tháng 11 năm 2019.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể
6
từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ
N về việc không yêu cầu Công ty Cổ phần T2 thanh toán tiền lãi chậm thanh
toán tính đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm là ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với
số tiền 39.290.000 đồng.
3. Về án phí: Công ty Cổ phần T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ N không phải chịu án phí
kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch
vụ bảo vệ N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 (Ba triệu) đồng theo biên
lai thu số: AA/2019/0029130 ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án
dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa
hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo
tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9
Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, TP.HCM;
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1,
TP.HCM;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Kim Huệ
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng