Bản án số 36/2023/HS-ST ngày 07/07/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 36/2023/HS-ST ngày 07/07/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phong Điền (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 36/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

-
1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
THÀNH PHỐ CẦN T
–––––––––––––––
Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày: 07/7/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Lê Tuấn Kiệt
2. Ông Võ Văn Tường
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
P, thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: ông
Lưu Minh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần
Thơ xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm
thụ số: 29/2023/TLST-
HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
41/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN THÀNH K1, sinh ngày 01/01/1986, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: không xác định và bà Nguyễn Thị T (S);
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
2. TRẦN HƯƠNG L2, sinh ngày 03/6/1987, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: F ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần Văn P (S) và bà Lê Thị L (S);
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
-
2 -
3. HUỲNH HỮU P1, sinh năm 1975, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Huỳnh Văn H (C) và bà Lê Thị Ngọc L1 (C);
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Bị hại: Thị Minh T1, sinh năm 1988, nơi trú: H H, phường A,
quận N, thành phố Cần Thơ – Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo K: Trần Hoàng B - Trợ giúp viên pháp lý,
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/7/2021, Nguyễn Thành K1, Trần
Hương L2 uống rượu tại nhà của Huỳnh Hữu P1, uống rượu được một lúc thì
K1 nghỉ đi bộ đến gần cây xăng V thuộc ấp N, thị trấn P, thì thấy chị Thị
Minh T1 đã bị tai nạn giao thông nằm bất tỉnh dưới đường bên cạnh có xe mô tô
biển số 65B1-926.84. K1 đi đến kéo giúp chị T1 vào lề đường thì thấy 01 điện
thoại di động Samsung A50 01 cái bóp tiền, nên K1 nảy sinh ý định trộm
cắp cái bóp bên trong số tiền 40.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 02 đô USD, 01
điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 đem về nhà của P1. K1 đưa
tất cả tài sản trộm được cho L2 cất giữ nói với L2 vừa lấy tài sản trên của
người phụ nữ bị xe, K1 nói còn chiếc xe nên L2 và P1 kêu K1 quay lại
chỗ chị T1 lấy xe đem đi bán, K1 đồng ý và lấy xe mô tô dẫn về nhà P1. L2 điều
khiển xe trộm cắp được chở K1 P1 đi hướng về Ô để tìm chỗ bán xe
nhưng do đã khuya các tiệm mua bán xe đóng cửa nên không bán được, cả ba
quay về P thì bánh xe phía sau bnên L2 xuống dắt xe còn K1 P1 đẩy xe
phía sau, đi đến chốt kiểm dịch Covid -19 xã T, huyện T thì bị phát hiện.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe biển số 65B1-926.84 nhãn hiệu
Honda Vision; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh; 01 (một)
điện thoại di động hiệu Forme màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO
màu đồng; Tiền Việt nam: 147.000 đồng (Một trăm bốn mươi bảy ngàn đồng);
01 (một) tờ tiền mệnh giá 02 USD.
-
3 -
Theo Kết luận định giá số 48/KL-HĐĐGTS, ngày 08 tháng 10 năm 2021
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình shuyện P. Kết luận: 01 (một)
xe hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 65B1-926.84 giá trị là:
14.294.167 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50
giá trị là: 3.498.350 đồng 01 (một) ốp lưng bằng nhựa giả da màu đen nâu
giá trị là: 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 17.842.517 đồng
(Mười bảy triệu tám trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm mười bảy đồng).
Theo Kết luận định giá số 11/KL-HĐĐGTS, ngày 06 tháng 3 năm 2023
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P. Kết luận: 01 (một)
tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 đô giá trị tại thời điểm 23/7/2021 46.430
đồng (Bốn mươi sáu ngàn bốn trăm ba mươi ngàn đồng).
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số
323/2022/KLGĐ ngày 28/10/2022 của trung tâm P2, kết luận đối với Nguyễn
Thành K1:
- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội hiện tại: Đương sbệnh
lý tâm thần, chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70 - ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội hiện tại: Đương sự hạn chế khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Căn cứ công văn số 3230/PYTT ngày 28/10/2022 của Trung tâm P2 ý
kiến: “Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội hiện tại Nguyễn
Thành K1 có năng lực trách nhiệm hình sự”.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSPĐ ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ truy tbị cáo Nguyễn Thành K1, Huỳnh
Hữu P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo
Trần Hương L2 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình
sự tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội theo khoản 1 Điều
323 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành K1 thừa nhận sự việc như nội
dung cáo trạng. Lợi dụng lúc bị hại Thị Minh T1 btai nạn giao thông nên
bất tỉnh, bị cáo lấy 01 điện thoại di động 01 bóp tiền. Sau đó bị cáo đem về
-
4 -
đưa cho bị cáo Trần Hương L2 cất giữ. Theo kết quả định giá thì điện thoại
Samsung A50 giá tr3.498.350, ốp lưng điện thoại 50.000 đồng, trong
bóp tiền 40.000 đồng 01 tờ tiền 02 USD. Bị cáo L2 biết đây tài sản
do K1 lấy được của người khác nhưng vẫn giữ lấy đã cấu thành tội Chứa chấp
tài sản do người khác phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ
luật hình sự.
[2] Bị cáo L2 khai bị cáo P1 kêu K1 tiếp tục lấy chiếc xe của Thị
Minh T1 K1 đã thực hiện lấy xe khi bị hại vẫn còn bất tỉnh. Bị cáo Huỳnh
Hữu P1 khai không nhớ kêu K1 lấy xe hay không do bị say rượu nhưng bị
cáo có mặt lúc L2 kêu K1 đi lấy xe nên nghe, biết sự việc, đồng thời lời khai của
L2 chứng minh bị cáo P1 thống nhất tham gia việc lấy chiếc xe của bị hại. Sau
khi lấy được xe, cả ba bị cáo đi tìm nơi tiêu thụ thì bị bắt giữ. Theo kết quả định
giá thì chiếc xe biển số 65B1 926.84 nhãn hiệu Honda Vision trị giá
14.294.167 đồng. Hành vi của các bị cáo lợi dụng tình trạng không thể nhận biết
của bị hại để chiếm đoạt chiếc xe của bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp
tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố các
bị cáo là đúng người, đúng tội; đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo K1
từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; bị cáo P1 từ 06 tháng đến 09
tháng tù, cho hưởng án treo cùng về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo L2 từ 03 tháng
đến 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, từ 03 tháng đến 06 tháng tù về tội Chứa
chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.
[3] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo K1: bị cáo đang hưởng trợ cấp
hội cho người tâm thần do bị bệnh từ nhỏ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn -
không rõ cha, còn mẹ đã lớn tuổi, bị bệnh nên không dạy dỗ được bị cáo. Thống
nhất với quan điểm của Kiểm sát viên nhưng đề nghị mức án thấp nhất cho bị
cáo.
[4] Xét các bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng không làm việc tạo
thu nhập hợp pháp, khi thấy bị hại bị tai nạn trong đêm khuya, tài sản không ai
quản thì thừa hội chiếm đoạt tài sản tìm nơi bán để tiền tiêu xài. Hành
vi của các bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, làm ảnh
hưởng an ninh trật tự tại địa phương, cần xử nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng
giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo K1 là người khuyết
tật nặng, nhược điểm về tâm thần, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong ván này, bị cáo P1 tham gia với vai trò thấp hơn hai bị cáo K1, L2. Các
bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo đối
-
5 -
với hai bị cáo K1, P1, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt đối với bị cáo L2.
[5] Về trách nhiệm dân sự, tài sản bị lấy trộm đã được giao trả cho bị hại.
Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét. Đối với vật chứng thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội được
trả lại cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành K1, Huỳnh Hữu P1 phạm tội Trộm cắp
tài sản; bị cáo Trần Hương L2 phạm tội Trộm cắp tài sản tội Chứa chấp tài
sản do người khác phạm tội mà có.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều
65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng thêm điểm p
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K1.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành K1 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo K1 cho Ủy ban nhân dân T, huyện P, thành phố Cần Thơ
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt: bị cáo Huỳnh Hữu P1 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian
thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo P1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, thành phố Cần
Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều
51, Điều 38, Điều 17, Điều 54, Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Xử phạt: bị cáo Trần Hương L2 03 tháng về tội Trộm cắp tài sản, 03
tháng về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội có, tổng hợp hình
phạt bị cáo phải chấp hành 06 tháng . Thời hạn phạt tính từ ngày bị cáo
chấp hành án.
-
6 -
Trả cho bị cáo P1 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen; trả cho bị
cáo L2 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đồng và số tiền 107.000 đồng.
Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- VKSND Tp. Cần Thơ;
- P.hồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT;
- Sở tư pháp Tp. Cần Thơ;
- VKSND huyện P;
- Chi cục THADS H. P;
- CQĐT Công an H. P;
LIÊNG THỊ HỒNG HOA
- Đội CSTHAHS H.P;
- Lưu HS (2).
Tải về
Bản án số 36/2023/HS-ST Bản án số 36/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất