Bản án số 34/2022/HS-ST ngày 25/04/2022 của TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 34/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 34/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 34/2022/HS-ST ngày 25/04/2022 của TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Đông Hà (TAND tỉnh Quảng Trị) |
| Số hiệu: | 34/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/04/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ
–––––––––––––––
Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày 25-4-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trường;
Ông Nguyễn Công Hiến;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành
phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm
thụ lý số
32/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 31/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Tăng H (Tên gọi khác: T), sinh ngày 23 tháng 9 năm 1990, tại tỉnh
Quảng Trị.
Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Khu phố TT, Phường A, thành phố Đông Hà, tỉnh
Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tăng D, sinh năm 1967 và
bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1970; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ
nhất; Vợ: Mai Thị Thu T, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: có 01 con, sinh năm
2013.
Tiền án: 01 tiền án.
Ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử
phạt Nguyễn Tăng H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình
phạt tù ngày 28/02/2021.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 15/12/2006, Chủ tịch UBND Phường A, thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng
Trị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường trong thời hạn 06 tháng.
- Ngày 25/3/2009, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng.
- Ngày 13/01/2010, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
xử phạt Nguyễn Tăng H 01 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản”.
- Ngày 21/01/2010, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
xử phạt Nguyễn Tăng H 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 17/12/2014, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử
phạt Nguyễn Tăng H 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đông Hà từ ngày
30/12/20211 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Công ty TNHH PA; trụ sở đóng tại: Số ** Nguyễn Viết Xuân, phường
Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C – Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H (theo văn bản ủy quyền số
02/UQ-PA ngày 28/12/2021). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Văn N, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Khu phố TC, phường ĐL, thành
phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm:
1970; Địa chỉ: Khu phố TT, Phường A, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có
mặt.
Người làm chứng:
- Ông Dương Văn Đ, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Khu phố TV, phường ĐL,
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Ông Phan P, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu phố B, Phường A, thành phố
Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tăng H đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được
xóa án tích mà đã thực hiện các hành vi phạm tội, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/12/2021, Phan P (sinh
năm 1991; trú tại: Khu phố B, Phường A, thành phố Đông Hà) gọi điện rủ H đi
trộm cắp tài sản. H đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Honda Ware, màu trắng
đen bạc, biển kiểm soát 74C1-476.39 (xe của bà Trần Thị Kim L, trú tại Khu phố
TT, Phường A, thành phố Đông Hà, là mẹ của H) chở P đi vào khu đô thị Nam
Đông Hà tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đi đến khu vực ngã ba Nguyễn Thị
Định - Đặng Thí, H thấy có công trình xây dựng nhà ở do anh Lê Văn N (trú tại
khu phố TC, phường ĐL, thành phố Đông Hà) làm chủ thầu, không có người
trông coi nên đã dừng xe lại đứng ngoài cảnh giới còn P đi lên tầng hai ngôi nhà
để lấy trộm tài sản. P đã lấy trộm được 06 thanh sắt, mỗi thanh dài 150cm, các
đầu được đập dẹp, khoan lỗ tròn, sử dụng để lắp ghép giàn giáo rồi ném xuống
bãi cát nơi H đang đứng. H chuẩn bị đưa số thanh sắt lên xe thì bị anh N và ông
Dương Văn Đ (trú tại khu phố TV, phường ĐL, thành phố Đông Hà) phát hiện
nên H đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2021 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà kết luận: Trị
giá của 06 thanh sắt thu giữ tại thời điểm bị chiếm đoạt là 391.500 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/12/2021, H điều khiển xe
mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 74C1-036.86
(xe của bà Trần Thị Kim L, mẹ của H) đi dọc các tuyến đường tìm sơ hở trong
quản lý tài sản để lấy trộm. Khi đi đến nhà hàng Tong Hua (số 160 Nguyễn Trãi,
khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà), H nhìn qua công trình nhà ở thương
mại thuộc dự án Công viên Fidel phía sau nhà hàng thì thấy có nhiều thanh sắt
dạng hộp dùng để đóng cốt pha đang để ở khu vực tập kết vật liệu xây dựng của
công trình, không có người trông giữ nên nảy sinh ý định lấy trộm. H dựng xe ở
bãi đất trống sát nhà hàng rồi lén lút đi vào phía sau khuôn viên của công trình
lấy trộm 04 thanh sắt dạng hộp, có kích thước 190x05x05cm, 240x05x05cm,
255x05x05cm và 300x05x05cm rồi mang ra xe mô tô. Khi H chuẩn bị đưa các
thanh sắt vừa lấy trộm được lên xe đưa đi tiêu thụ thì bị anh H phát hiện nên bỏ
chạy, để lại xe mô tô và tài sản lấy trộm được tại hiện trường.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2022 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà kết luận: Trị
giá của 04 thanh sắt dạng hộp thu giữ được tại thời điểm bị chiếm đoạt là 453.100
đồng.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Ware, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát
74C1-476.39, số máy: JA39E2288520, số khung: RLHJA3925MY170367.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát
74C1-036.86, số máy: F27E0992984, số khung: 2704BY216166.
- 06 (sáu) thanh sắt, mỗi thanh dài 150cm, các đầu được đập dẹp, khoan lỗ
tròn, sử dụng để lắp ghép giàn giáo;
- 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có kích thước 190x05x05cm;
- 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có kích thước 240x05x05cm;
- 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có kích thước 255x05x05cm;
- 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có kích thước 300x05x05cm;
Bản cáo trạng số 38/CT-VKS-ĐH ngày 24/3/2022 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Tăng H về tội
“Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh
Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b
khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình
sự, xử phạt Nguyễn Tăng H từ 12 đến 15 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tăng H và những
người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều
tra, của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu
chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án:
Có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Tăng H đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài
sản”, chưa được xóa án tích nhưng trong hai ngày 10/12/2021 và 28/12/2021 thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Tổng giá trị tài sản mà H chiếm
đoạt là 844.600 đồng. Như vậy, hành vi của Nguyễn Tăng H đã phạm vào tội
“Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
truy tố bị cáo Nguyễn Tăng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1
Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của Nguyễn Tăng
H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật
bảo vệ, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất ổn định an ninh,
trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được
hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp
dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới có tác
dụng giáo dục, răn đe trong việc phòng, chống tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tăng H đã
hai lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở
lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như
tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; tài sản bị
chiếm đoạt đã kịp thời thu giữ trả lại cho bị hại nên thiệt hại gây ra chưa lớn do
đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm
h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội
đồng xét xử xét thấy: Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản
1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng tại khoản
1 Điều 52, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử nhưng
không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì
vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một
thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình
và xã hội.
[7] Đối với Phan P là người cùng với H thực hiện hành vi “Trộm cắp tài
sản” vào ngày 10/12/2021 nhưng giá trị tài sản mà P chiếm đoạt dưới 2.000.000
đồng, P chưa bị kết án hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt
tài sản nên không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cơ quan điều tra Công an
thành phố Đông Hà đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan P
là có căn cứ.
[8] Đối với bà Trần Thị Kim L là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô hiệu
Honda Ware, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 74C1-476.39, số máy:
JA39E2288520, số khung: RLHJA3925MY170367 và xe mô tô hiệu Honda
Airblade, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 74C1-036.86, số máy: F27E0992984,
số khung: 2704BY216166 nhưng việc Nguyễn Tăng H sử dụng hai chiếc xe trên
vào mục đích phạm tội bà L không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý trách
nhiệm hình sự là có cơ sở.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH PA, ông Lê Văn N và bà Trần
Thị Kim L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[10] Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Tăng H thời hạn 45 ngày kể từ ngày
tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
[11] Về vật chứng: Ngày 24/02/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử
lý vật chứng số 20/QĐ cho các chủ sở hữu hợp pháp, cụ thể:
- Trả lại 06 (sáu) thanh sắt, mỗi thanh dài 150cm, các đầu được đập dẹp,
khoan lỗ tròn, sử dụng để lắp ghép giàn giáo cho chủ sở hữu hợp pháp ông Lê
Văn N.
- Trả lại 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có kích thước 190x05x05cm; 01 (một)
thanh sắt dạng hộp, có kích thước 240x05x05cm; 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có
kích thước 255x05x05cm; 01 (một) thanh sắt dạng hộp, có kích thước
300x05x05cm cho đại diện hợp pháp của Công ty TNHH PA.
- Trả lại xe mô tô hiệu Honda Ware, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát
74C1-476.39, số máy: JA39E2288520, số khung: RLHJA3925MY170367 và xe
mô tô hiệu Honda Airblade, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 74C1-036.86, số
máy: F27E0992984, số khung: 2704BY216166 cho chủ sở hữu hợp pháp bà Trần
Thị Kim L.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tăng H (Tên gọi khác: T) phạm tội “Trộm
cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tăng H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày tạm giam, ngày 30 tháng 12 năm 2021.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tăng H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng)
án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt
hợp lệ./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Trị; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND thành phố Đông Hà;
- Công an thành phố Đông Hà;
- Chi cục THADS TP Đông Hà;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người có QLNVLQ;
- Lưu: HS; Trần Quang Sơn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm