Bản án số 334/2022/DS-PT ngày 21/12/2022 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 334/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 334/2022/DS-PT ngày 21/12/2022 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 334/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/12/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở QSDĐ và xác định quyền sở hữu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 334/2022/DS-PT
Ngày: 21-12-2022
V/v yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở QSDĐ
và xác định quyền sở hữu
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân;
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa:Hà Thị Cẩm Vân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đi din Vin kim st nhân dân tnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Trang Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số số 363/2022/TLPT-DS ngày 31 tháng 10
năm 2022 vviệc “yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sdụng đất xác
định quyền sở hữu”; do Bn án Dân s sơ thm s 87/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9
năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo; theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 329/2022/QĐ-PT ngày 02 tháng 11 năm
2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ 01, ấp Thuận
Tân, xã Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm
1961; địa chỉ: phường L, thị xã Th, tỉnh Tây Ninh Vắng mặt (có đơn xin xét xử
vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1960; Nguyễn Thị Đ, sinh
năm 1957; anh Nguyễn Thanh O, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tr, Huyện D, tỉnh
Tây Ninh; (Ông Nh bà Điệp có mặt, anh O vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của anh O: Ông Nguyễn Văn Nh (ken), sinh
năm 1960; Địa chỉ: Số 19, tổ 23, ấp Thuận An, Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh
Có mặt.
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Phạm Văn I-
Luật sư của Công ty luật TNHH MTV Bảo Minh - thuộc đoàn luật sư tỉnh Tây
Ninh. (Có mặt)
Có kháng cáo: ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ; anh Nguyễn Thanh
O.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ti đơn khởi kin ngày 11 thng 5 năm 2022; đơn khởi kin ngày 15
thng 8 năm 2022 qu trình giải quyết vụ n nguyên đơn Nguyễn Thị H
và người đi din hợp php trình bày:
Nguyễn Thị H là chủ dụng đất hợp pháp phần đất diện tích 312 m
2
, thửa
447, tờ bản đồ số 24; tọa lạc tại ấp Thuận Bình, Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh;
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS01856 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Tây Ninh chấp ngày 06-11-2015.
Trên phần đất này cây nsau: 01 cây lồng mức, 01 cây dừa, 02 cây
xoài, 01 cây sung, 02 cây ổi, 02 cây bình bác mía mùa 3 diện tích 20 m
2
; cây
trồng thuộc sở hữu của H; riêng mía do ông Nh, bà Điệp tự ý ngang nhiên vào
đất của bà trồng khi bà không mặt trực tiếp tại đất. Khi đến diện ch đất của
mình dọn dẹp, đổ đất để xây nhà thì gia đình ông Nh ngăn cản cho rằng diện
tích đất này thuộc quyền quản của anh O, còn cây trên đất của ông bà; gây
khó khăn không cho bà H sử dụng đất. Nay bà H yêu cầu:
- Buộc ông Nh, Điệp, anh O chấm dứt hành vi cản trở H thực hiện
quyền sử dụng đất đối với diện tích 312 m
2
, thửa 447, tờ bản đồ số 24; tọa lạc tại
ấp Thuận Bình, xã Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Yêu cầu công nhận cho H được sở hữu các cây trồng trên đất, riêng
mía mùa 3 đề nghị buộc gia đình ông Nh thu hoạch trả lại hiện trạng đất cho bà
H.
Ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Ngun gc phần đt H trình bày ca cha m cho t năm 1975 và
đưc anh ch em ý ký tên vào văn bản đất công chi ngày 05-01-2021.
Ngày 08-12-2008 ông bà làm th tc cho con rut Nguyn Thanh O và con
dâu Phm Th Thu Hương diện tích đất ngang 15 m x dài 40 m (600m
2
) tha s
2979, t bản đồ s 4, đất ta lc ti p Thun Bình, Tr, Huyn D, tnh Tây
Ninh. Anh O đã được cp giy chng nhn quyn s dụng đt vào ngày 03-01-
2009.
Anh O thế chp giy chng nhn quyn s dụng đất này cho anh Hunh
Minh Tâm s tiền 60.000.000 đồng; thi hn 03 tháng; lãi suất 05%. Nhưng anh
Tâm làm giấy sang nhượng quyn s dụng đt nói 03 tháng cho chuc lại đất,
tha thun không cho ông ch Hương biết. Nên ngày 01-12-2010 anh O
chuyển nhượng cho anh Hunh Minh Tâm ngang 15 m x dài 40 m; cho ch
Nguyn Th Thúy Loan ngang 8 m x dài 40 m ; 02 hợp đồng cùng mt s
chng thc 993 ca Tr, Huyn D, tnh Tây Ninh; đến ngày 03 -12- 2010 ra
3
giấy đất đứng n Huỳnh Minh Tâm, sau đó tranh chấp đến ngày hôm nay.
Nguyễn Thị H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào thời điểm nào, trong
khi đất đang tranh chấp thì tháng 5 đến tháng 07 năm 2011 H được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 320 m
2
không hợp pháp; H nhn
chuyển nhượng đt của ông Đặng Văn Lạc thì bà H yêu cu ông Lạc giao đất, gia
đình ông bà không liên quan đến bà H, không đồng ý giao đất cho bà H s dng.
Trên diện tích đất 320 m
2
, thửa 447, tbản đồ số 24; tọa lạc tại ấp Thuận
Bình xã Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh có các cây như sau:
+ 01 cây lồng mức đường kính 1,3 m; cây lồng mức từ trước thời điểm
khi ông bà cho anh Nguyễn Thanh O đất.
+ 01 cây dừa có trái; ông bà trồng năm 1995.
+ 02 cây Xoài; ông bà trồng năm 1995.
+ 20 m
2
mía mùa vụ 3; do ông bà trồng sát ranh đất và mía tự mọc lên.
+ Riêng đối với 01 Cây Sung 05 năm tuổi; 02 cây ổi 02 năm tuổi; 02 cây
bình bác 03 năm tuổi; tự mọc trên đất.
Ông bà đã trình bày diện tích đất trên là của anh O nên toàn bộ cây trên đất
của ông bà. Do đó, ông anh O không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Ti biên bản xc minh ngày 30-8-2022 (bút lục số 189) anh Nguyễn
Thanh Thoi trình bày:
Ngày 01-12-2010 anh và vợ là chị Võ Thị Thúy Loan nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Thanh O (là con của ông Nguyển Văn Nhỏ,
Nguyễn Thị Đ, ngụ tại ấp Thuận An, xã Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh); phần đất
diện tích 320 m
2
, thửa 3136, tờ bản đồ 4; tọa lạc tại ấp Thuận Bình, Tr, Huyện
D, tỉnh Tây Ninh. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban
nhân dân Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh chứng thực, sau đó vợ chồng anh được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích nêu trên ngày 03-12-2010. Đến
khoảng tháng 4-5 năm 2011 vợ chồng anh chuyển nhượng quyền sử dụng đất này
bằng giấy tay cho cho anh Đặng Văn Lạc, ngụ tại ấp Thuận An, xã Tr, Huyện D,
tỉnh Tây Ninh; sau đó anh Lạc chuyển nhượng đất này cho Nguyễn Thị H n
vợ chồng anh làm thủ tục sang tên trực tiếp cho H H đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên. Sau đó, chị Phạm Thị Thu Hương là
vợ của anh O khởi kiện vợ chồng anh. Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phúc
thẩm quyết định: Bác yêu cầu của chị Hương; công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 01-12-2010 giữa anh O và vợ chồng anh hiệu
lực; vợ chồng anh và anh Lạc không tranh chấp việc chuyển nhượng đất cho bà H
nên H được toàn quyền sử dụng phần đất diện tích 320 m
2
, thửa 3136, tờ bản
đồ 4; tọa lạc tại ấp Thuận Bình, Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Khi anh nhận
chuyển nhượng đất thì trên đất 01 cây lồng mức, cây dừa, cây xoài nhưng số
lượng bao nhiêu thì anh không nhớ. Anh O đã chuyển nhượng đất cho anh thì cây
4
trên đất của anh, anh đã chuyển nhượng đất cho H thì cây trên đất là của
H, anh không có ý kiến gì.
Ti Bn án dân s sơ thm số 87/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 169, 221, 223, 235, 237 Bộ luật Dân sự;
Điều 12, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H đối với
bị đơn ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O về việc yêu
cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và xác định quyền sở hữu.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O
phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị H đối với
phần đất diện tích 312 m
2
, thửa 447, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại p Thuận Bình,
Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành
CB 307709, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS01856, do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 06-11-2015 cho bà Nguyễn Thị H.
1.2. Nguyễn Thị H được quyền sở hữu các cây trồng trên phần đất diện
tích 312 m
2
, thửa 447, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại ấp Thuận Bình, xã Tr, Huyện D,
tỉnh Tây Ninh, gồm: 01 (một) cây lồng mức đường kính 1,3 m; 01 cây dừa có trái;
02 cây xoài 27 năm tuổi; 01 cây Sung 05 năm tuổi; 02 cây ổi 02 năm tuổi; 02 cây
bình bác 03 năm tuổi.
1.3. Ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O có trách
nhiệm thu hoạch mía mùa 3 diện tích 20 m
2
trả lại hiện trạng đất cho Nguyễn
Thị H khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên v án phí, quyền kháng o quyền
yêu cầu thi hành án.
Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo đề ngày 03 tháng 10 năm 2022
của anh Nguyễn Thanh O, ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị Đ đề nghị Tòa án
nhân dân tỉnh Tây Ninh: Hủy bản án thẩm giao hồ cho Tòa án nhân dân
huyện D giải quyết lại từ đầu.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
Với yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm
căn cứ, bởi lý do sau: Tòa án cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng, cụ
thể ông Lạc, anh Thoại, chị Thúy Loan. Đây những người liên quan đến
phần đất tranh chấp; cấp thẩm chưa đối chất giữa nguyên đơn và bị b để làm
hành vi cản trở việc sử dụng đất; cấp thẩm không nhận định về yêu cầu
phản tố của bị đơn; giấy đất bà H được cấp vào tháng 6 năm 2021, nhưng tháng 5
năm 2021 đã phát sinh việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa anh O, chị ơng với anh Thoại, chị Thúy Loan là vi phạm quy định của
5
pháp luật đất đai. vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn và hủy bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
+ Về ttụng: Thẩm phán thụ vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử
quyết định đưa vụ án ra t xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội
dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia
tố tụng đều thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy
phiên tòa;
+ Về nội dung: Đối với ông Lạc, anh Thoại, chị Thúy Loan không liên
quan đến hành vi cản trở việc sử dụng đất của bị đơn đối với nguyên đơn, nên
Tòa án cấp thẩm không đưa vào tham gia tố tụng là đúng quy định; Đối với
cây trái trên đất ông Nh, Điệp tranh chấp. Thực tế đã chuyển giao cho anh
O từ khi ông Nh, bà Điệp tặng cho quyền sử dụng đất, nên quyền sở hữu về cây
trái đối với ông Nh, bà Điệp được xem là chấm dứt và khi Tòa án giải quyết tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh O, chị Hương với anh
Thoại, chị Thúy Loan không nói đến cây trái; đối với yêu cầu phản tố của bị
đơn làm vào tháng 8 năm 2022, trong khi Tòa án đã tiến hành công khai chứng cứ
vào tháng 6 năm 2022. Mặt khác ông Nh, Điệp không quyền đối với
phần đất anh O đã chuyển nhượng, anh O bổ sung yêu cầu phản tố nhưng vẫn
không đúng quy định của pháp luật, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến
là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bđơn;
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được xem t tại
phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Sau khi Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ thẩm ngày 21-9-2022 đến ngày
03-10-2022 ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O có đơn
kháng cáo; anh Nguyễn Thanh O nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, ông
Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Xét
thấy việc kháng cáo của ông Nh, Điệp, anh O đảm bảo theo quy định của
pháp luật.
[2] Ông Nh, Điệp, anh O kháng o cho rằng: Ngày 12-9-2022 làm
đơn phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của H, nhưng Tòa án không xem xét.
Đưa thiếu người tham gia tố tụng anh Nguyễn Thanh Thoại, chị Nguyễn Thị
Thúy Loan; Tài liệu chứng cứ ông Nh, Điệp nộp gồm: Văn bản trình bày ý
kiến ngày 03-6-2022, đơn tố cáo ngày 16-6-2022, đơn phản tố ngày 12-9-2022,
đơn đề nghị tạm đình chỉ ngày 12-9-2022. Những tài liệu này không được thể
hiện trong các biên bản kiểm ra việc giao nộp tếp cận công khai chứng cứ.
6
Về nội dung yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ cho Tòa án huyện D
xét xử lại
[3] Xét kháng cáo thấy rằng:
[3.1] Ngày 12-9-2022 anh O làm đơn phản tố đối với yêu cầu khởi kiện
của H, nhưng Tòa án Huyện D không xem xét; qua việc xem xét đơn phản tố
của anh Nguyễn Thanh O (BL 213) thấy rằng nội dung đơn của anh không phải là
yêu cầu phản tố, chỉ văn bản anh trình bày ý kiến anh O đề nghị mặt H
ông Thoại, nếu không có mặt thì anh O không đồng ý giải quyết.
Đưa thiếu người tham gia tố tụng anh Nguyễn Thanh Thoại, chNguyễn
Thị Thúy Loan. Căn cứ điều khoản 17 Điều 70; khoản 4 Điều 68 Bluật tố tụng
dân sự; đương sự có quyền đề nghị đưa người liên quan, tuy nhiên việc Tòa án
xem xét cần thiết đưa vào vụ án với cách người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan hay không; không phải đương sự đề nghị thì Tòa án sẽ chấp nhận.
Đối với các tài liệu chứng cứ: Văn bản trình bày ý kiến ngày 03-6-2022,
đơn tố cáo ngày 16-6-2022, đơn phản tố ngày 12-9-2022, đơn đề nghị tạm đình
chỉ ngày 12-9-2022. Những tài liệu này không được thể hiện trong các biên bản
kiểm ra việc giao nộp tếp cận công khai chứng cứ. Tại bút lục số 138-139 Biên
bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ ngày 28-6-
2022 thì các đương sự giao nộp sau khi phiên họp diễn ra, do đó sẽ không được
thể hiện trong biên bản. Đối với văn bản trình bày ý kiến ngày 03-6-2022, đơn tố
cáo ngày 16-6-2022 trong hồ không có, anh O không cung cấp được tài liệu
chứng cứ chứng minh; hồ sơ thể hiện Văn bản trình bày ý kiến ngày 30-8-2022,
đơn tố cáo ngày 06-9-2022 nộp theo đường bưu chính (BL 190-210)
[3.2] Nội dung:
Bản án dân sphúc thẩm số 44/2014/DS-PT ngày 26-02-2014 của Tòa án
nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thu Hương và anh
Nguyễn Thanh O đối với anh Nguyễn Thanh Thoại chị Thị Thúy Loan về
việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01-12-2010 giữa anh
Nguyễn Thanh O đối với anh Nguyễn Thanh Thoại, chị Thị Thúy Loan
hiệu lực pháp luật.
- Ghi nhận anh Thoại, chị Loan anh Đặng Văn Lạc không tranh chấp
việc chuyển nhượng đất cho ông Võ Văn Nhẫn, Nguyễn Thị H nên ông Nhẫn,
bà H được quyền sử dụng phần đất 320 m
2
, thửa 3136; tọa lạc tại xã Tr, Huyện D,
tỉnh Tây Ninh.
Sau đó anh Nguyễn Thanh O khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Thanh Thoại,
chị Thị Thúy Loan trả số tiền chuyển nhượng đất còn nợ trong hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01-12-2010. Bản án số 101/2019/DS-PT
ngày 26-4-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định: Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh O về việc yêu cầu anh Nguyễn Thanh
7
Thoại và chị Võ Thị Thúy Loan trả số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn
nợ 316.000.000 đồng.
Theo như bản án công nhận quyền sử dụng đất cho H; Đồng thời ngày
06-11-2015 H được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mới phần đất diện tích 312 m
2
thửa 447, tờ bản đồ
số 24 tại ấp Thuận Bình, xã Tr, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là căn
cứ đúng pháp luật.
Ông Nh Điệp, anh O kháng cáo nhưng không xuất trình thêm chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của ông Nh bà Điệp, anh O.
Xét lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
thấy rằng: Việc chứng minh hành vi cản trở của bị đơn thì tại phiên tòa bị đơn đã
thừa nhận phần đất của bà H đứng tên là của anh O nên không cho H sử dụng;
việc đưa người tham gia tố tụng và tranh chấp q uyền tài sản trên đất, xét thấy
việc đánh giá phân tích của kiểm sát viên căn cứ, phù hợp với quy định
của pháp luật, nên không sở chấp nhận lời trình bày của người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Giữ nguyên bản án
thẩm tỉnh Tây Ninh, số 87/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nguyễn Thanh
O phải chịu án pdân sự phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị Đ
người cao tuổi nên được đưc xem xét min án phí theo quy định tại Điều 29;
điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn
Thị Đ; anh Nguyễn Thanh O ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2022/DS-
ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 169, 221, 223, 235, 237 Bộ luật Dân sự;
Điều 12, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà NguyễnThị Hết đối với
bị đơn ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O về việc yêu
cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và xác định quyền sở hữu.
8
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O
phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị H đối với
phần đất diện tích 312 m
2
, thửa 447, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại p Thuận Bình,
Tr, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành
CB 307709, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS01856, do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 06-11-2015 cho bà Nguyễn Thị H.
1.2. Nguyễn Thị H được quyền sở hữu các cây trồng trên phần đất diện
tích 312 m
2
, thửa 447, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại ấp Thuận Bình, xã Tr, Huyện D,
tỉnh Tây Ninh, gồm: 01 (một) cây lồng mức đường kính 1,3 m; 01 cây dừa có trái;
02 cây xoài 27 năm tuổi; 01 cây Sung 05 năm tuổi; 02 cây ổi 02 năm tuổi; 02 cây
bình bác 03 năm tuổi.
1.3. Ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh O có trách
nhiệm thu hoạch mía mùa 3 diện tích 20 m
2
trả lại hiện trạng đất cho Nguyễn
Thị H khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Các chi phí tố tụng khác: Ghi nhận nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng; (đã nộp xong).
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ.
Anh Nguyễn Thanh O phải chịu 200.000 đồng. (Hai trăm ngàn đồng)
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí phúc thẩm.
Anh Nguyễn Thanh O phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nhưng
được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do anh đã nộp theo Biên lai thu
số: 0012623 ngày 04-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Tây
Ninh.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án
Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án Dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND.TTN;
- TAND. H.DMC;
- Chi cục THADS. H.DMC
- Phòng KTNV. TATTN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu tập án DSPT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
9
Phạm Văn Diệp
10
Tải về
Bản án số 334/2022/DS-PT Bản án số 334/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất