Bản án số 33/2026/LĐ-ST ngày 08/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2026/LĐ-ST ngày 08/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 33/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 33/2026/LĐ-ST Bản án số 33/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2026/LĐ-ST Bản án số 33/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
[
Bản án số: 33/2026/LĐ-ST
Ngày 08 - 9 - 2026
V/v “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân và ông Nguyễn Văn Đích
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tiến
hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 82/2026/TLST-LĐ ngày
06.7.2026 về việc:“Tranh chấp bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 1043/2026/QĐXXST-LĐ ngày 10.8.2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
162/2026/QĐST-LĐ ngày 28.8.2026, giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh C - Sinh năm 1979. Số CCCD:
************ cấp ngày 13.4.2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật
tự xã hội - Bộ C1. Địa chỉ: Tổ I, phường S, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo
ủy quyền là bà Huỳnh Thị Phương G (sinh năm 1981). Địa chỉ: Tổ D, phường H, thành
phố Đà Nẵng và bà Lê Thị Ngọc O (sinh năm 1980). Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành
phố Đà Nẵng (Giấy ủy quyền số công chứng: 3740/2026/CCGD ngày 22.7.2026 của
Văn phòng C2), có mặt.
Bị đơn: Công ty Cổ phần C3. Địa chỉ trụ sở: Cụm C - H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật là ông Lưu Văn T. Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ Chi
nhánh I - Công ty Cổ phần C3 tại Đà Nẵng. Số A T, phường N, thành phố Đà Nẵng,
vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội Cơ sở Hòa Cường -
Bảo hiểm xã hội thành phố Đ. Địa chỉ: Số B - B N, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Hoàng Y (sinh năm 1983); CCCD số:
2
************ do Bộ C1 cấp ngày 17.4.2024. Chức vụ: Phó giám đốc (Giấy ủy quyền
số 699/GUQ-BHXH ngày 29.7.2026), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11.01.2026 và lời khai trong quá trình tố tụng,
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh C trình bày:
Ông Nguyễn Thanh C làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C3 tại Đà
Nẵng từ năm 2021, có mã số bảo hiểm là 4811005813. Quá trình làm việc ông Nguyễn
Thanh C được trả lương và chấp hành đúng nội quy, quy định của Công ty. Ông Nguyễn
Thanh C làm việc đến tháng 07.2023 thì nghỉ việc nhưng do Công ty Cổ phần C3 còn
nợ tiền bảo hiểm nên ông Nguyễn Thanh C không chốt được sổ bảo hiểm để giải quyết
quyền lợi của người lao động khi nghỉ việc. Vì vậy, ông Nguyễn Thanh C yêu cầu Tòa
án giải quyết buộc Công ty Cổ phần C3 phải nộp tiền bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn
Thanh C tính từ năm 2021 đến tháng 07.2023 là 30.400.000 đồng.
Bị đơn Công ty Cổ phần C3 đã được thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo
về các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến phản hồi về
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh C và không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.
Tại Văn bản số: 695/BHXH-BPQLT ngày 29.7.2026; Văn bản số: 853/BHXH-
BPQLT ngày 07.9.2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội Cơ
sở H trình bày:
Ông Nguyễn Thanh C có thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm
y tế (BHYT), tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C3 từ tháng 04.2021
đến tháng 04.2021 (01 tháng) và từ tháng 11.2021 đến tháng 7.2023 (21 tháng) do Bảo
hiểm xã hội Cơ sở H trực tiếp thu.
Tính đến ngày 08.9.2026 thì số tiền chưa đóng bảo hiểm xã hội và tiền lãi chậm
đóng phát sinh của ông Nguyễn Thanh C là 42.182.142 đồng, bao gồm: nợ tiền bảo
hiểm là 30.400.000 đồng (bảo hiểm xã hội là 23.750.000 đồng, bảo hiểm y tế là
4.275.000 đồng, bảo hiểm thất nghiệp là 1.900.000 đồng, bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp là 475.000 đồng), tiền lãi chậm đóng là 11.782.142 đồng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn Công ty Cổ phần C3 đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng vắng
mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Cơ sở Hòa Cường - Bảo
hiểm xã hội thành phố Đ giữ nguyên ý kiến và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
3
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm
mở phiên tòa và tại phiên tòa: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 73
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 168 Bộ luật lao động; Điều 9, 13, 39, 41
Luật Bảo hiểm xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Thanh C. Buộc Công ty Cổ phần C3 phải đóng tiền bảo hiểm xã hội vào quỹ
của đơn vị thu là Bảo hiểm xã hội Cơ sở Hòa Cường - Bảo hiểm xã hội thành phố Đ
cho ông Nguyễn Thanh C tính đến ngày 08.9.2026 là 30.400.000 đồng (BHXH
23.750.000 đồng, BHYT 4.275.000 đồng, BHTN 1.900.000 đồng, BHTNLĐ.BNN
475.000 đồng) và tiền lãi chậm đóng là 11.782.142 đồng, tổng cộng là 42.182.142 đồng
và tiếp tục chịu tiền lãi do chậm đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội từ
ngày 09.9.2026 với mức lãi suất theo quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tương ứng
với thời gian chậm đóng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn
Thanh C khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần C3 phải nộp tiền bảo hiểm xã hội cho
người lao động. Đây là tranh chấp về bảo hiểm xã hội thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn Công ty Cổ phần C3 có Chi nhánh II - Công ty Cổ phần C3 tại Đà Nẵng tại A
T, phường N, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/UBTVQH15 ngày 25.6.2025 của
Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng
hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án thì ông Nguyễn Thanh C lựa chọn và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà
Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn Công ty Cổ phần C3 đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vắng mặt
4
không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Cơ sở H - Bảo
hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục
chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ lao động:
Mặc dù Công ty Cổ phần C3 vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Thanh C. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do ông
Nguyễn Thanh C và Bảo hiểm xã hội Cơ sở Hòa Cường - Bảo hiểm xã hội thành phố
Đ cung cấp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ông Nguyễn Thanh C làm việc
tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C3 tại Đà Nẵng từ tháng 04.2021, được trả lương và
trích tiền lương để đóng các khoản bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội 4811005813.
Đến tháng 7.2023, ông Nguyễn Thanh C nghỉ việc nhưng Công ty Cổ phần C3 không
nộp tiền bảo hiểm cho ông Nguyễn Thanh C trong thời gian từ tháng 04.2021 đến tháng
04.2021 (01 tháng) và từ tháng 11.2021 đến tháng 7.2023 (21 tháng). Tính đến ngày
08.9.2026, Công ty Cổ phần C3 còn nợ khoản tiền tổng cộng là 42.182.142 đồng. Trong
đó, nợ tiền bảo hiểm là 30.400.000 đồng (bảo hiểm xã hội là 23.275.000 đồng, bảo
hiểm y tế là 4.275.000 đồng, bảo hiểm thất nghiệp là 1.900.000 đồng, bảo hiểm tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp là 475.000 đồng), tiền lãi chậm đóng là 11.782.142 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Thanh C:
Tại Điều 168 Bộ luật lao động quy định:“Người sử dụng lao động, người lao
động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp”. Theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm
xã hội thì ông Nguyễn Thanh C đã tham gia quan hệ lao động và thuộc đối tượng tham
gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về trách nhiệm của người sử
dụng lao động như sau:“Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động theo quy
định tại Điều 34 của Luật này và hàng tháng trích khoản tiền phải đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc theo quy định tại Điều 33 của Luật này từ tiền lương của người lao động
để đóng cùng một lần vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Đồng thời một trong các hành vi bị
nghiêm cấm theo quy định tại Điều 9 Luật Bảo hiểm xã hội là “Chậm đóng, trốn đóng
bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp”. Về chế tài xử lý hành vi chậm đóng
tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tại khoản 1 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội
5
quy định:“Bắt buộc đóng đủ số tiền chậm đóng, nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên
số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng và số ngày chậm đóng vào
quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.
Trong quá trình sử dụng lao động, Công ty Cổ phần C3 không đóng tiền bảo hiểm
cho ông Nguyễn Thanh C là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã
hội. Căn cứ vào các quy định nêu trên của pháp luật thì ông Nguyễn Thanh C khởi kiện
yêu cầu Công ty Cổ phần C3 phải nộp tiền bảo hiểm xã hội còn nợ cho ông Nguyễn
Thanh C tại Bảo hiểm xã hội Cơ sở Hòa Cường - Bảo hiểm xã hội thành phố Đ số tiền
tính đến ngày 08.9.2026 là 42.182.142 đồng (tiền bảo hiểm 30.400.000 đồng, tiền lãi
chậm đóng 11.782.142 đồng) và phải tiếp tục chịu tiền lãi do chậm đóng bảo hiểm xã
hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội từ ngày 09.9.2026 cho đến khi thực hiện xong là có
căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 12 Luật Bảo hiểm xã hội cần được chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của ông Nguyễn Thanh C được chấp nhận nên
Công ty Cổ phần C3 phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định. Ông Nguyễn
Thanh C là người lao động khởi kiện vụ án liên quan đến bảo hiểm xã hội và đã được
xét miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 của Nghị
quyết nói trên nên không đề cập đến.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng về việc giải
quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng
xét xử và cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 32; Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40, Điều
147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/UBTVQH15 ngày 25.6.2025 của Quốc
hội sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án;
- Căn cứ Điều 168 Bộ luật lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 2, 9, 12, 13, 38 và 40 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024;
6
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn,
giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp bảo hiểm xã hội” của ông Nguyễn
Thanh C đối với Công ty Cổ phần C3.
Buộc Công ty Cổ phần C3 phải đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho ông Nguyễn Thanh
C (từ tháng 04.2021 đến tháng 04.2021 (01 tháng) và từ tháng 11.2021 đến tháng
07.2023 (21 tháng); mã số bảo hiểm xã hội 4811005813) tại Bảo hiểm xã hội Cơ sở
Hòa Cường - Bảo hiểm xã hội thành phố Đ với số tiền là 42.182.142 đồng. Trong đó,
tiền bảo hiểm xã hội là 23.750.000 đồng, tiền bảo hiểm y tế là 4.275.000 đồng, tiền bảo
hiểm thất nghiệp là 1.900.000 đồng, tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
là 475.000 đồng, tiền lãi chậm đóng là 11.782.142 đồng.
Kể từ ngày 09.9.2026, Công ty Cổ phần C3 còn phải tiếp tục trả lãi suất chậm
đóng bảo hiểm xã hội theo mức lãi suất quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội
tương ứng với thời gian chậm đóng.
3. Về án phí: Án phí lao động sơ thẩm Công ty Cổ phần C3 phải chịu là 2.109.107
đồng.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 36 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành
án dân sự.
7
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND khu vực 2 - Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phạm Văn Diện
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 33/2026/LĐ-ST Bản án số 33/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2026/LĐ-ST Bản án số 33/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất