Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 32/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sống với nhau như vợ chồng không có đăng ký kết hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- NINH BÌNH
Bản án số:32/2026/ HNGĐ - ST
Ngày 31/07/2026
V/v: Không công nhận là vợ chồng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tống Kim Phượng
Ông Bùi Văn Mão
Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 1-Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Ninh Bình tham gia phiên toà:
Bà Lê Đức Hiền- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 07 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Ninh Bình
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2026/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng
06 năm 2026 về “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 36/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm: 1978; số CCCD: ************
cấp ngày 10/4/2021, nơi cấp Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: số nhà G, ngách H, ngõ F, đường C, phố H( nay tổ dân phố N) phường
H, tỉnh Ninh Bình; (Có đơn xin xét xử vắng mặt),
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1971; số CCCD: ************
cấp ngày 10/4/2021, nơi cấp Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: số nhà G, ngách H, ngõ F, đường C, phố H, phường H, tỉnh Ninh Bình;
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai anh Trần Văn M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T được tự do
tìm hiểu và tự nguyện chung sống, gia đình hai bên đã tổ chức lễ cưới theo phong
tục địa phương từ năm 1993. Sau khi tổ chức lễ cưới, anh và chị T cùng nhau sinh
hoạt, lao động, xây dựng kinh tế gia đình và chung sống hòa thuận với nhau. Tuy
nhiên, do nhận thức pháp luật còn hạn chế nên anh và chị T không thực hiện đăng
ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Năm 2022, do
2
mâu thuẫn về nuôi dạy con cái và kinh tế gia đình nên anh và chị T nảy sinh nhiều
bất đồng không thể hòa giải được. Nay anh xác định không thể chung sống cùng
chị T được nữa nên anh đề nghị Tòa án không công nhận anh và chị T là vợ chồng.
Về con chung: Anh M và chị T có hai con chung là cháu Trần Thị T1, sinh ngày
26/12/1995 và cháu Trần Văn T2, sinh ngày 10/5/1996. Hiện nay các cháu đã
trưởng thành, tự lập được cuộc sống nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn chị Nguyễn Thị T: Về tình trạng hôn nhân chị T và anh
M có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương năm 1993. Sau
khi tổ chức lễ cưới, chị và anh M cùng nhau sinh hoạt, lao động và xây dựng kinh
tế gia đình. Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh gia đình và nhận thức pháp luật
còn hạn chế nên chị và anh M không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Năm 2022, do mâu thuẫn về kinh tế nên
giữa chị và anh M nảy sinh nhiều bất đồng không thể hòa giải. Nay chị xác định
không thể chung sống cùng anh M nữa nên anh M đề nghị Tòa án không công
nhận chị và anh M là vợ chồng, chị nhất trí.
Về con chung như anh M trình bày là đúng. Hiện nay, các cháu đã trưởng thành,
tự lập được cuộc sống nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, tại đơn xin xét xử vắng
mặt anh M và chị T đều đồng ý về việc đề nghị Tòa án không công nhận là vợ
chồng giữa anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T. Về con chung, tài sản chung,
công nợ chung: đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Ninh Bình tham gia tố tụng tại
phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy
định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét
xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 - Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228 BLTTDS năm 2015; điểm a Khoản 5 Điều
27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, đề nghị
HĐXX xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn M
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần
Văn M và chị Nguyễn Thị T.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Trần Văn M phải chịu án phí
ly hôn 300.000 đồng, được trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi
3
hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0002168 ngày 23/6/2026.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về không công nhận là vợ chồng
giữa nguyên đơn Trần Văn M và bị đơn chị Nguyễn Thị T đều có nơi cư trú tại
phố H (nay tổ dân phố N) phường H, tỉnh Ninh Bình. Do đó căn cứ vào các Điều
28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân khu vực 1- Ninh Bình.
Ngày 15/7/2026, nguyên đơn anh Trần Văn M và bị đơn chị Nguyễn Thị T
có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật
Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M và chị T.
[2] Về nội dung:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T tự do
tìm hiểu và tự nguyện chung sống, gia đình hai bên đã tổ chức cưới hỏi từ năm
1993 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và
anh M, chị T sinh sống tại phố H ( nay phố N) phường H, tỉnh Ninh Bình. Anh
M và chị T sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên
xảy ra cãi vã, không quan tâm đến nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất
đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Mâu thuẫn giữa anh chị ngày
càng trầm trọng. Chị T và anh M đều xác định anh chị tuy có tổ chức đám cưới
nhưng không đăng ký kết hôn, hiện nay tình cảm của anh chị không còn nên anh
M đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với chị T. Quá trình giải
quyết vụ án chị T đồng ý với yêu cầu của anh M về việc không công nhận vợ
chồng với anh M.
Ngày 14/7/2026, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường
H, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Qua tra cứu trên hệ thống phần mềm quản lý hộ tịch
và sổ gốc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường H thì không thể hiện có
việc anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn với nhau theo quy
định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh M chung sống với nhau
như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đã vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình.
Do đó căn cứ khoản 1 Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 thì quan hệ của anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T không được pháp luật
công nhận.
[2.2] Về con chung: Anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T có hai con
chung là cháu Trần Thị T1 sinh năm 1995 và cháu Trần Văn T2 sinh năm 1996.
4
Các cháu đã trên 18 tuổi đủ trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị
T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: anh Trần Văn M phải nộp án
phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng chẵn) được trừ vào số
tiền tạm ứng án phí mà anh M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà
án số 0002168 ngày 23/06/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
Chị Nguyễn Thị T không phải nộp án phí hôn nhân gia đình.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 14; Điều 15; Điều 53, Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28,
Điều 35; Điều 39,Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn M
và chị Nguyễn Thị T
2. Về con chung: anh Trần Văn M, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án
giải quyết
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Trần Văn M, chị Nguyễn Thị T
không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: anh Trần Văn M phải nộp án phí ly
hôn sơ thẩm là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng chẵn) được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí mà anh M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số
0002168 ngày 23/06/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình
Chị Nguyễn Thị T không phải nộp án phí hôn nhân gia đình.
Án xử công khai anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên
tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi
5
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND KV1-NB;
- THA Tỉnh Ninh Bình;
- UBND phường;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lâm Thị Thanh Nhàn
6
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Thị Thanh N
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST Bản án số 32/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất