Bản án số 32/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 32/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tội danh: 201.Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Buôn Ma Thuột (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 32/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/01/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 32/2022/HSST
Ngày : 27 – 01 – 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Ông Hồ Xuân Giao.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia
phiên tòa: Ông Hà Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27/01/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk xét xử thẩm vụ án hình sự thụ số: 16/2022/HSST, ngày
14/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HS ngày
14/01/2022 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Tấn D, Tên gọi khác: Bi Béo; giới tính: Nam; Sinh
năm: 1999, tại tỉnh Bắc Giang. Nơi trú: Thôn L, H, huyện N, tỉnh Bắc
Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học
vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn D1 (sinh
năm: 1978); Con bà: Nguyễn Thị C (sinh năm: 1978). Hiện đều trú tại: Thôn L,
H, huyện N, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo chưa vợ, con. Tiền án: Không; Tiền
sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Tấn D bị quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 31/5/2021, đến ngày 09/6/2021
được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú. Ngày 22/10/2021, bị
cáo bị bắt theo Quyết định truy nã và bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành
phố Buôn Ma Thuột cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Thu Q – sinh năm: 1967 (Vắng mặt).
Trú tại: Số xcv/vc đường M, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Chị Bùi Thị N – sinh năm: 1967 (Vắng mặt).
1
Trú tại: Tổ c, khối z, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Chị Nguyễn Thị C1 – sinh năm: 1965 (Vắng mặt).
Trú tại: Số vzc đường Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
4. Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1956 (Vắng mặt).
Trú tại: Đường Ax, thôn c, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
5. Chị Nguyễn Võ Thị Mỹ T, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Trú tại: Số czx đường L, phường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
6. Chị Lê Thị Mỹ D2, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Trú tại: Số xc đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
7. Chị Huỳnh Thị Thanh T1, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Trú tại: Số zv/x đường Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
8. Chị Đặng Thị Thu T2, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Trú tại: Số cv đường Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
9. Chị Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Trú tại: Liên gia zv, Buôn K, phường N, thành phố B, tỉnh Đắk
10. Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn cx, xã T, huyện S, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 02/2021, Nguyễn Tấn D cùng đối tượng tên Nguyễn Viết Đ hoạt
động cho vay tiền với lãi suất cao, để thu lợi bất chính. Để thu hút người vay
tiền, D và Đ in các tờ rơi quảng cáo với nội dung cho vay tiền cùng số điện thoại
để người vay liên hệ. Sau đó, D đi rải các tờ rơi trên các tuyến đường thuộc địa
bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khi người vay tiền liên hệ thì D và Đ đến gặp và
tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, công việc, thu nhập của người vay, nếu đủ điều
kiện thì làm thủ tục cho người vay tiền bằng hình thức vay tiền góp, người vay
không cần thế chấp, cầm cố tài sản, không làm hợp đồng hay viết giấy vay tiền.
Hằng ngày, D điều khiển xe tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave A, màu xanh
– đen – bạc, biển số 47Px-vcxzx đi cho vay tiền và Thu T2iền góp.
Hình thức D Đ cho vay tiền góp hình thức người vay trả tiền gốc
lãi theo ngày, dụ: Người dân vay số tiền 5.000.000 đồng thời hạn trả góp
tiền gốc và lãi trong vòng 25 ngày hoặc 30 ngày thì tùy theo người vay mà D thu
phí từ 5% đến 10% số tiền gốc cho vay với mức lãi suất từ 243%/năm đến
365%/ năm.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định: Lãi suất vay
do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất
2
theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trường hợp
lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này
thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Lãi suất năm = (số tiền lãi : số tiền gốc) x 100%) x 365
Số ngày vay
Lãi suất vượt quá = Lãi suất năm
20%
Quá trình điều tra xác định, từ tháng 02/2021 đến tháng 05/2021, Nguyễn
Tấn D cùng Nguyễn Viết Đ đã cho 09 người dân trên địa bàn thành phố Buôn
Ma Thuột vay tiền và thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
1. Chị Nguyễn Thị Thu Q, sinh năm 1967, trú tại: Số xcv/vc đường M,
phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay 03 lần tiền góp, cụ thể như sau:
- Lần 1: Khoảng đầu tháng 3/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 400.000 đồng số tiền lãi 100.000
đồng, thu phí cho vay số tiền 1.000.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
12.500.000 đồng gồm: Số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 2.500.000
đồng. Mức lãi suất tương ứng 365%/năm. Như vật, lãi suất cho vay gấp 18.25
lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi cao
nhất theo quy định của nhà nước 136.986 đồng, bị cáo đã thu lợi bất chính số
tiền là: 2.500.000 đồng (lãi) + 1.000.000 đồng (phí) – 136.986 đồng = 3.363.014
đồng.
- Lần 2: Khoảng giữa tháng 3/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 400.000 đồng số tiền lãi 100.000
đồng, thu phí cho vay số tiền 1.000.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
12.500.000 đồng gồm: Số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 2.500.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước 136.986 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: 2.500.000 đồng (lãi)
+ 1.000.000 đồng (phí) – 136.986 đồng = 3.363.014 đồng.
- Lần 3: Khoảng tháng 4/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn vay
25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc là 400.000 đồng và số tiền lãi là 100.000 đồng,
thu phí cho vay số tiền là 1.000.000 đồng, đã trả được 08 ngày với tổng số tiền
4.000.000 đồng, gồm số tiền gốc 3.200.000 đồng số tiền lãi 800.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước 43.836 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: 800.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 43.836 đồng = 1.756.164 đồng.
Như vậy, với việc cho chị Q vay tiền như trên Nguyễn Tấn D đã thu lợi bất
chính là 8.482.192 đồng. Chị Q còn nợ lại số tiền gốc là 6.800.000 đồng.
2. Chị Bùi Thị N, sinh năm 1967, trú tại Tổ c, khối z, phường L, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk, vay 01 lần tiền góp: Vào tháng 5/2021, vay số tiền 10.000.000
3
đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng tiền gốc 100.000
đồng tiền lãi, số tiền phí cho vay 1.000.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền là
12.500.000 đồng, gồm số tiền gốc10.000.000 đồng số tiền lãi2.500.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước 136.986 đồng, thu lợi bất chính số tiền (2.500.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 136.986 đồng)= 3.363.014 đồng.
3. Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1965, Trú tại: Số vzc đường Q, phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay 02 lần tiền góp, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng giữa tháng 3/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 30 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc là 333.333 đồng số tiền lãi 66.667
đồng, thu phí cho vay số tiền 500.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
12.000.000 đồng, gồm số tiền gốc 10.000.000 đồng tiền gốc số tiền lãi
2.000.000 đồng, lãi suất tương ứng 243,333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17
lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất
theo quy định của nhà nước 164.383 đồng, thu lợi bất chính số tiền là:
(2.000.000 đồng (lãi) + 500.000 đồng (phí) – 164.383 đồng)= 2.335.617 đồng.
- Lần 2: Khoảng đầu tháng 4/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 30 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc là 333.333 đồng số tiền lãi 66.667
đồng, thu phí cho vay số tiền 500.000 đồng, đã trả được 15 ngày với tổng số tiền
là 6.000.000 đồng, gồm số tiền gốc 5.000.000 đồng và số tiền lãi 1.000.000
đồng, lãi suất tương ứng 243,333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17 lần so với
mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy
định của nhà nước 82.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.000.000 đồng
(lãi) + 500.000 đồng (phí) – 82.192 đồng)= 1.417.808 đồng.
Vậy, với việc cho chị C1 vay tiền như trên D đã thu lợi bất chính số tiền
3.753.425 đồng. Chị C1 còn nợ lại số tiền gốc là 5.000.000 đồng.
4. Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1956, trú tại: đường Ax, thôn c, E,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay 01 lần tiền góp:
Vào tháng 3/2021, Chị G vay của D số tiền là 5.000.000 đồng, thời hạn vay
25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc là 200.000 đồng và tiền lãi là 50.000 đồng, thu
phí cho vay số tiền 500.000 đồng, đã trả 17 ngày với tổng số tiền 4.250.000
đồng, gồm số tiền gốc 3.400.000 đồng số tiền lãi 850.000 đồng, lãi suất
tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức lãi suất cao
nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà nước
46.575 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (850.000 đồng (lãi) + 500.000 đồng
(phí) – 46.575 đồng)= 1.303.425 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 1.600.000 đồng.
5. Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1982, trú tại: đường Ax, thôn c,
E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay 01 lần tiền góp:
Vào cuối tháng 3/2021, Chị Thành vay của D với số tiền 4.000.000 đồng,
thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 160.000 đồng tiền lãi
40.000 đồng, thu phí cho vay số tiền 400.000 đồng, đã trả được 22 ngày với tổng
4
số tiền 4.400.000 đồng, gồm số tiền gốc 3.520.000 đồng số tiền lãi
880.000 đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so
với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền lãi cao nhất
theo quy định của nhà nước48.219 đồng, thu lợi bất chính số tiền là (880.000
đồng (lãi) + 400.000 đồng (phí) 48.219 đồng)= 1.231.781 đồng, còn nợ lại số
tiền gốc là 480.000 đồng.
6. Chị Lê Thị Mỹ D2, sinh năm 1966, trú tại: số xc đường G, phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay của D 03 lần tiền góp, cụ thể:
- Lần 1: Vào giữa tháng 4/2021, vay số tiền 5.000.000 đồng, thời hạn vay
25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc là 200.000 đồng và tiền lãi là 50.000 đồng, thu
phí cho vay số tiền 500.000 đồng, đã trả đủ 25 ngày với tổng số tiền
6.250.000 đồng, gồm số tiền gốc 5.000.000 đồng số tiền lãi 1.250.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước là 68.493 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.250.000 đồng (lãi) +
500.000 đồng (phí) – 68.493 đồng)= 1.681.507 đồng.
- Lần 2: Vào cuối tháng 4/2021, vay số tiền 5.000.000 đồng, thời hạn vay
25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc là 200.000 đồng và tiền lãi là 50.000 đồng, thu
phí cho vay số tiền là 500.000 đồng, đã trả đủ 25 ngày với số tiền 6.250.000
đồng, gồm số tiền gốc 5.000.000 đồng số tiền lãi 1.250.000 đồng, lãi
suất ơng ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức lãi suất
cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà
nước 68.493 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.250.000 đồng (lãi) +
500.000 đồng (phí) – 68.493 đồng)= 1.681.507 đồng.
- Lần 3: Vào khoảng đầu tháng 5/2021, vay số tiền 5.000.000 đồng, thời
hạn vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 200.000 đồng tiền lãi 50.000
đồng, số tiền phí cho vay 500.000 đồng, đã trả 11 ngày với tổng số tiền
2.750.000 đồng, gồm số tiền gốc 2.200.000 đồng số tiền lãi 550.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước 30.137 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (550.000 đồng (lãi) +
500.000 đồng (phí) – 30.137 đồng)= 1.019.863 đồng.
Vậy, với việc cho chị D2 vay tiền như trên thì D thu lợi bất chính tổng số
tiền 4.382.477 đồng. Chị D2 còn nợ lại số tiền gốc là 2.800.000 đồng.
7. Chị Huỳnh Thị Thanh T1, sinh năm 1978, trú tại: Số zv/x đường Đ,
phường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay của D 05 lần tiền góp, cụ thể như
sau:
- Lần 1: Khoảng đầu tháng 3/2021, vay số tiền 4.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 160.000 đồng tiền lãi 40.000
đồng, thu phí cho vay số tiền 400.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
5.000.000 đồng gồm số tiền gốc 4.000.000 đồng số tiền lãi 1.000.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
5
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước là 54.795 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.000.000 đồng (lãi) +
400.000 đồng (phí) – 54.795 đồng)= 1.345.205 đồng.
- Lần 2: Khoảng giữa tháng 3/2021, vay số tiền 6.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 240.000 đồng tiền lãi 60.000
đồng, thu phí cho vay số tiền 600.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
7.500.000 đồng, gồm số tiền gốc 6.000.000 đồng số tiền lãi 1.500.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước là 82.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.500.000 đồng (lãi) +
600.000 đồng (phí) – 82.192 đồng)= 2.017.808 đồng.
- Lần 3: Khoảng giữa tháng 4/2021, vay số tiền 6.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 240.000 đồng tiền lãi 60.000
đồng, thu phí cho vay số tiền 600.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
7.500.000 đồng, gồm số tiền gốc 6.000.000 đồng số tiền lãi 1.500.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước là 82.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.500.000 đồng (lãi) +
600.000 đồng (phí) – 82.192 đồng)= 2.017.808 đồng.
- Lần 4: Khoảng cuối tháng 4/2021, vay số tiền 6.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 240.000 đồng tiền lãi 60.000
đồng, thu phí cho vay số tiền 600.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền
7.500.000 đồng, gồm số tiền gốc 6.000.000 đồng số tiền lãi 1.500.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước là 82.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.500.000 đồng (lãi) +
600.000 đồng (phí) – 82.192 đồng)= 2.017.808 đồng.
- Lần 5: Ngày 28/5/2021, vay số tiền 6.000.000 đồng, thời hạn vay 25
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 240.000 đồng tiền lãi 60.000 đồng, thu
phí cho vay số tiền 600.000 đồng, đã đóng được 01 ngày với số tiền 300.000
đồng, gồm số tiền gốc 240.000 đồng số tiền lãi 60.000 đồng, lãi suất
tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức lãi suất cao
nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà nước
3.288 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (60.000 đồng (lãi) + 600.000 đồng
(phí) – 3.288 đồng)= 656.712 đồng.
Như vậy, với việc cho chị T1 vay tiền như trên D thu lợi bất chính số tiền
8.055.341 đồng. Chị T1 còn nợ lại số tiền gốc là 5.760.000 đồng.
8. Chị Đặng Thị Thu T2, sinh năm 1993, trú tại: Số cv đường Đ, phường
N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nhân viên spa tại Yun Spa, số 40 đường Ngô
Quyền, phường L, thành phố B), vay 03 lần tiền góp, cụ thể như sau:
- Lần 1: Khoảng đầu tháng 4/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 400.000 đồng số tiền lãi 100.000
6
đồng, thu phí cho vay 1.000.000 đồng, đã tr đủ với tổng số tiền là 12.500.000
đồng, gồm số tiền gốc 10.000.000 đồng số tiền lãi 2.500.000 đồng, lãi
suất ơng ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức lãi suất
cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà
nước 136.986 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (2.500.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 136.986 đồng)= 3.363.014 đồng.
- Lần 2: Khoảng giữa tháng 4/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 400.000 đồng số tiền lãi 100.000
đồng, thu phí cho vay 1.000.000 đồng, đã tr đủ với tổng số tiền là 12.500.000
đồng, gồm số tiền gốc 10.000.000 đồng số tiền lãi 2.500.000 đồng, lãi
suất ơng ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức lãi suất
cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà
nước 136.986 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (2.500.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 136.986 đồng)= 3.363.014 đồng.
- Lần 3: Khoảng đầu tháng 5/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn
vay 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 400.000 đồng số tiền lãi 100.000
đồng, thu phí cho vay 1.000.000 đồng, đã đóng được 04 ngày với tổng số tiền
2.000.000 đồng, gồm số tiền gốc 1.600.000 đồng số tiền lãi 400.000
đồng, lãi suất tương ứng 365%/năm. Lãi suất cho vay gấp 18.25 lần so với mức
lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định
của nhà nước 21.918 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (400.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 21.918 đồng)= 1.378.082 đồng.
Như vậy, với việc cho chị T2 vay tiền như trên thì D đã thu lợi bất chính số
tiền là 8.104.110 đồng. Chị T2 còn nợ lại số tiền gốc là 8.400.000 đồng.
9. Chị Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1970, trú tại liên gia zv, Buôn K,
phường N, thành phố B, tỉnh Đắk, vay 03 khoản tiền góp với 06 lần vay, cụ thể
như sau:
* Dây 01: 02 lần vay
- Lần 1: Ngày 21/3/2021, vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 30
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 666.667 đồng số tiền lãi 133.333 đồng,
thu phí cho vay số tiền 1.000.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền 24.000.000
đồng, gồm số tiền gốc 20.000.000 đồng số tiền lãi 4.000.000 đồng, lãi
suất tương ứng 243.333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17 lần so với mức lãi
suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của
nhà nước 328.767 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (4.000.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 328.767 đồng)= 4.671.233 đồng.
- Lần 2: Ngày 11/4/2021, vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 30
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 666.667 đồng số tiền lãi 133.333 đồng,
thu phí cho vay số tiền 1.000.000 đồng, đã đóng được 20 ngày với tổng số tiền
16.000.000 đồng, gồm số tiền gốc 13.333.333 đồng số tiền lãi
2.666.667 đồng, lãi suất tương ứng 243.333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17
lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất
7
theo quy định của nhà nước 219.178 đồng, thu lợi bất chính số tiền là:
(2.666.667 đồng (lãi) + 1.000.000 đồng (phí) – 219.178 đồng)= 3.447.489 đồng,
còn nợ lại số tiền gốc là 6.666.667 đồng.
* Dây 02: 02 lần vay
- Lần 1: Ngày 23/3/2021, vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 30
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 666.667 đồng số tiền lãi 133.333 đồng,
thu phí cho vay số tiền 1.000.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền 24.000.000
đồng, gồm số tiền gốc 20.000.000 đồng số tiền lãi 4.000.000 đồng, lãi
suất tương ứng 243.333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17 lần so với mức lãi
suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của
nhà nước 328.767 đồng, thu lợi bất chính số tiền (4.000.000 đồng (lãi) +
1.000.000 đồng (phí) – 328.767 đồng)= 4.671.233 đồng.
- Lần 2: Ngày 14/4/2021, vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 30
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 666.667 đồng số tiền lãi 133.333 đồng,
thu phí cho vay số tiền 1.000.000 đồng, đã đóng được 17 ngày với tổng số tiền
13.600.000 đồng, gồm số tiền gốc 11.333.333 đồng số tiền lãi
2.666.667 đồng, lãi suất tương ứng 243.333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17
lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất
theo quy định của nhà nước 186.301 đồng, thu lợi bất chính số tiền là:
(2.666.667 đồng (lãi) + 1.000.000 đồng (phí) – 186.301 đồng)= 3.080.365 đồng,
còn nợ lại số tiền gốc là 8.666.667 đồng.
* Dây 03: 02 lần vay
- Lần 1: Ngày 01/4/2021, vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 30
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 666.667 đồng số tiền lãi 133.333 đồng,
thu phí cho vay số tiền 2.000.000 đồng, đã trả đủ với tổng số tiền 24.000.000
đồng, gồm số tiền gốc 20.000.000 đồng số tiền lãi 4.000.000 đồng, lãi
suất tương ứng 243.333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17 lần so với mức lãi
suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy định của
nhà nước 328.767 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (4.000.000 đồng (lãi) +
2.000.000 đồng (phí) – 328.767 đồng)= 5.671.233 đồng.
- Lần 2: Ngày 22/4/2021, vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 30
ngày, mỗi ngày trả số tiền gốc 666.667 đồng số tiền lãi 133.333 đồng,
thu phí cho vay số tiền 2.000.000 đồng, đã đóng được 09 ngày với tổng số tiền
là 7.200.000 đồng, gồm số tiền gốc 6.000.000 đồng và số tiền lãi 2.000.000
đồng, lãi suất tương ứng 243.333%/năm. Lãi suất cho vay gấp 12,17 lần so với
mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tiền lãi cao nhất theo quy
định của nhà nước 98.630 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: (1.200.000 đồng
(lãi) + 2.000.000 đồng (phí) 98.630 đồng)= 3.101.370 đồng, còn nợ lại số tiền
gốc là 14.000.000 đồng.
Như vậy, với việc chị C vay tiền như trên thì D đã thu lợi bất chính số tiền
là 24.642.923 đồng. Chị C còn nợ lại số tiền gốc là 29.333.334 đồng.
8
Tại bản cáo trạng số: 38/KSĐT HS, ngày 12/01/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Tấn D về tội “Cho
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình
đúng như lời khai của bị cáo tại quan điều tra Bản cáo trạng đại diện
Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tấn D
và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật
hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Tấn D mức án từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo
không giam giữ. Khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm
giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột.
Đề nghị miễn khấu tr thu nhập đối với bị cáo áp dụng khoản 3 Điều
201 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000
đồng sung quỹ Nhà nước.
- Các biện pháp pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình
sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe tô, biển số 47Px-vcxzx
cùng 01 giấy chứng nhận đăng xe tô, xe máy số 015620, mang tên
Nguyễn Ngọc A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs
Max, số Imei: 357277092992018 tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo
Nguyễn Tấn D đã sử dụng vào việc phạm tội.
Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn D 01 Giấy chứng minh nhân dân
mang tên Nguyễn Tấn D.
Đề nghị tịch Thu T2iêu hủy 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang tên
NGUYEN TAN DUNG và 01 thẻ sim số: 0394836793.
Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Tấn D trả lại số tiền 63.318.688 đồng đã
thu lợi bất chính cho những người vay tiền người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan trong vụ án trên, cụ thể như sau: Chị Nguyễn Thị Thu Q số tiền 8.482.192
đồng, chị Bùi Thị N số tiền 3.363.014 đồng, chị Nguyễn Thị C1 số tiền
3.753.425 đồng, chị Nguyễn Thị G số tiền 1.303.425 đồng, chị Nguyễn Thị
Mỹ T số tiền 1.231.781 đồng, chị Thị Mỹ D2 số tiền 4.382.477 đồng, chị
Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền 8.055.341 đồng, chị Đặng Thị Thu T2 số tiền
8.104.110 đồng, chị Huỳnh Thị Kim C số tiền 24.642.923 đồng.
Đề nghị truy Thu T2ừ Nguyễn Tấn D số tiền 201.826.667 đồng tiền gốc
người vay đã trả số tiền 3.054.245 đồng tiền lãi theo quy định (lãi suất
20%) để sung ngân sách Nhà nước;
9
Đề nghị buộc những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp tổng
số tiền 60.173.334 đồng nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo để nộp sung ngân
sách Nhà nước, cụ thể như sau: Chị Nguyễn Thị Thu Q số tiền 6.800.000 đồng,
chị Nguyễn Thị C1 số tiền 5.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị G số tiền 1.600.000
đồng, chị Nguyễn Võ Thị Mỹ T số tiền 480.000 đồng, chị Lê Thị Mỹ D2 số tiền
2.800.000 đồng, chị Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền 5.760.000 đồng, chị Đặng Thị
Thu T2 số tiền 8.400.000 đồng, chị Huỳnh Thị Kim C số tiền 29.333.334 đồng
để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo không bào chữa tranh luận thêm chỉ xin Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không ý kiến khiếu nại về
hành vi tố tụng của quan người thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy,
hành vi, quyết định tố tụng của quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng
là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người
tham gia tố tụng khác đã sở xác định: Từ tháng 02/2021 đến tháng 5/2021
trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Nguyễn Tấn D đã cho 09
người vay tiền với mức lãi suất từ 243%/năm đến 365%/năm, gấp từ 12 đến
18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính
số tiền 63.318.688 đồng phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại
khoản 1 Điều 201
Bộ luật Hình sự.
Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch sân sự cho vay với lãi suất gấp 05 lần
trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất
chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án
tích còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng
hoặc phạt cải tại không giam giữ đến 03 năm”
[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo
đã xâm phạm đến trật tự quản kinh tế của nhà nước về tín dụng, gây thiệt hại
về tài sản cho người vay. Bị cáo người đầy đủ khả năng nhận thức điều
khiển hành vi, bị cáo biết hoạt động cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm.
Xong do ý thức coi thường pháp luật và vì tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành
vi phạm tội. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính
chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra thì mới tác dụng giáo dục bị cáo trở
10
thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe phòng
ngừa chung trong đấu tranh chống tội phạm.
Trong vụ án này còn đối tượng tên Nguyễn Viết Đ (Sinh năm 1986,
Trú tại: Số xx đường C, tổ dân phố L, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng).
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tấn D khai nhận Đ là người thuê bị cáo D vào
địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột giúp cho Đ hoạt động vay tiền lãi suất cao.
quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng Nguyễn Viết Đ đã đi khỏi địa
phương, chưa làm việc được. quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố
Buôn Ma Thuột tách Nguyễn Viết Đ ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm
và xử lý sau.
[4] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo
Nguyễn Tấn D không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết
giảm nhẹ: Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm
tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột về việc miễn việc khấu trừ một phần thu nhập đối với
bị cáo do bị cáo người lao động tự do, không nghề nghiệp thu nhập ổn
định để làm sở cho việc khấu trừ. Đồng thời, đề nghị áp dụng khoản 3 Điều
201 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nước là
phù hợp nên cần chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ
luật tố tụng hình sự 2015.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, màu xanh đen bạc,
biển số: 47Px-vcxzx, số máy: JA39E0812459, số khung: 390XHY832335, dung
tích xi lanh 109cm3; 01 giấy chứng nhận đăng xe tô, xe máy số 015620
mang tên Nguyễn Ngọc A; quá trình điều tra xác định: Xe do anh
Nguyễn Ngọc A đứng tên đăng chủ sở hữu. Vào năm 2021, bị cáo Nguyễn
Tấn D mua lại chiếc xe của anh Ngọc A nhưng chưa làm thủ tục sang tên
chủ sở hữu. Sau đó, D sử dụng xe mô làm phương tiện phạm tội. Do vậy, cần
tịch thu chiếc xe tô, biển số 47Px-vcxzx cùng 01 giấy chứng nhận đăng
xe tô, xe máy số 015620 mang tên Nguyễn Ngọc A sung quỹ Nhà nước
phù hợp.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs Max,
số Imei: 357277092992018 tài sản của bị cáo, bị cáo Nguyễn Tấn D đã sử
dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu Sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Tấn D là giấy tờ
tùy thân của bị cáo D nên cần trả lại cho bị cáo nhận sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang tên NGUYEN TAN
DUNG và 01 thẻ sim số: 0394836793 là các tài sản của bị cáo Nguyễn Tấn D sử
dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch Thu T2iêu hủy.
11
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 63.318.688 đồng bị cáo Nguyễn Tấn D đã thu lợi bất chính
từ việc cho vay, cụ thể của: Chị Nguyễn Thị Thu Q số tiền 8.482.192 đồng, chị
Bùi Thị N số tiền 3.363.014 đồng, chị Nguyễn Thị C1 số tiền 3.753.425 đồng,
chị Nguyễn Thị G số tiền 1.303.425 đồng, chị Nguyễn Thị Mỹ T số tiền
1.231.781 đồng, chị Thị Mỹ D2 số tiền 4.382.477 đồng, chị Huỳnh Thị
Thanh T1 số tiền 8.055.341 đồng, chị Đặng Thị Thu T2 số tiền 8.104.110 đồng,
chị Huỳnh Thị Kim C số tiền 24.642.923 đồng thì cần buộc bị cáo trả lại cho
những người đã vay nêu trên với số tiền tương ứng là phù hợp.
Đối với số tiền 201.826.667 đồng số tiền gốc người vay đã trả số
tiền 3.054.245 đồng tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%) Nguyễn Tấn D
đã thu của người vay cần truy thu để sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 60.173.334 đồng nợ gốc người vay đã vay chưa trả cho bị
cáo: Đây phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần
truy thu của những người vay để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
Chị Nguyễn Thị Thu Q số tiền 6.800.000 đồng, chị Nguyễn Thị C1 số tiền
5.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị G số tiền 1.600.000 đồng, chị Nguyễn Thị
Mỹ T số tiền 480.000 đồng, chị Thị Mỹ D2 số tiền 2.800.000 đồng, chị
Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền 5.760.000 đồng, chị Đặng Thị Thu T2 số tiền
8.400.000 đồng, chị Huỳnh Thị Kim C số tiền 29.333.334 đồng để sung quỹ
Nhà nước.
[8] Về những nội dung khác:
Đối với ông Nguyễn Văn Quý, (sinh năm 1962), người cho bị cáo
Nguyễn Tấn D thuê phòng trọ tại số 52/3 Hồ Tùng Mậu, phường T, thành phố
B. Quá trình trọ, bị cáo D hoạt động cho vay tiền lãi suất cao thì ông Quý
không biết nên quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột
không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Quý là phù hợp.
Đối với một số người (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại liên lạc vay
tiền của bị cáo Nguyễn Tấn D nhưng chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên
chưa đủ căn cứ kết luận việc cho vay tiền số tiền thu lợi bất chính của D. Do
vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh làm rõ xử
sau là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn D phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong
giao dịch dân sự”.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của
Bộ luật Hình sự.
12
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn D 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam 03 tháng 17 ngày (Tương
ứng 10 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ). Thời gian cải tạo không giam giữ
còn lại phải chấp hành 07 tháng 09 ngày, tính từ ngày Uỷ ban nhân dân G,
huyện L, tỉnh Bắc Giang nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Tấn D cho Uỷ ban nhân dân G, huyện L, tỉnh Bắc
Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo
không giam giữ. Gia đình bị cáo trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa
phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt
cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Tấn D phải thực hiện những nghĩa vụ
quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định của
pháp luật về thi hành án hình sự.
[3]Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Phạt bổ sung b cáo Nguyễn Tấn D s tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi
triệu đồng) nộp vào quỹ Nhà nước.
[4] Các biện pháp pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật
hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe tô nhãn hiệu Honda, số loại
Wave A, màu xanh đen bạc, biển số 47Px-vcxzx, số khung
RLHJA390XHY832335, số máy JA39E0812459, dung tích xi lanh 109cm
3
cùng
01 giấy chứng nhận đăng xe tô, xe máy số 015620 mang tên Nguyễn
Ngọc A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs Max, số
Imei: 357277092992018 của bị cáo Nguyễn Tấn D.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn D 01 Giấy chứng minh nhân dân số
122258958 mang tên Nguyễn Tấn D.
Tịch Thu T2iêu hủy 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank, số thẻ
4221510934065767, mang tên NGUYEN TAN DUNG 01 thẻ sim số:
0394836793 (được gắn kèm điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs
Max).
(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày
17/01/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột với
Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn D trả lại cho: Chị Nguyễn Thị Thu Q số tiền
8.482.192 đồng, chị Bùi Thị N số tiền 3.363.014 đồng, chị Nguyễn Thị C1 số
tiền 3.753.425 đồng, chị Nguyễn Thị G số tiền 1.303.425 đồng, chị Nguyễn
Thị Mỹ T số tiền 1.231.781 đồng, chị Lê Thị Mỹ D2 số tiền 4.382.477 đồng, chị
Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền 8.055.341 đồng, chị Đặng Thị Thu T2 số tiền
8.104.110 đồng, chị Huỳnh Thị Kim C số tiền 24.642.923 đồng.
13
Truy thu của bị cáo Nguyễn Tấn D số tiền 201.826.667 đồng để sung quỹ
Nhà nước.
Truy thu của: Chị Nguyễn Thị Thu Q số tiền 6.800.000 đồng, chị Nguyễn
Thị C1 số tiền 5.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị G số tiền 1.600.000 đồng, chị
Nguyễn Võ Thị Mỹ T số tiền 480.000 đồng, chị Lê Thị Mỹ D2 số tiền 2.800.000
đồng, chị Huỳnh Thị Thanh T1 số tiền 5.760.000 đồng, chị Đặng Thị Thu T2 số
tiền 8.400.000 đồng, chị Huỳnh Thị Kim C số tiền 29.333.334 đồng để sung quỹ
Nhà nước.
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tấn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
niêm yết bản án hợp lệ.
Nơi nhận : TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, TAND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
-VKS, Công an TP.BMT;
-CCTHA DSTP.BMT, THA phạt tù;
-Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
-UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
-Bị cáo; Các đương sự;
-Chánh án ;
- Lưu: HS, VP. Nguyễn Thị Hải An
14
Tải về
Bản án số 32/2022/HS-ST Bản án số 32/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất