Bản án số 316/2019/DS-PT ngày 24/09/2019 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp dân sự ranh giới quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 316/2019/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 316/2019/DS-PT ngày 24/09/2019 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp dân sự ranh giới quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 316/2019/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 316/2019/DS-PT
Ngày: 24/9/2019
V/v: Tranh chấp dân sự về ranh giới
quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Phương
Ông Đinh Chí Tâm
- Thư phiên tòa: Thanh M Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp: Ông Nguyễn Bình
Thành - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 16/5, 12/6, 26/7, 24/9/2019 tại Trụ sở tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thsố: 106/2019/TLPT-
DS ngày 24 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử
dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 64/2018/DS ST ngày 14 tháng 12 năm
2018 của Toà án nhân dân huyện Lai Vung bị kháng cáo.
Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 125/2019/QĐ-PT ngày 22
tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1/. Nguyễn Thị B - sinh năm 1939;
Địa chỉ: a ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung - Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bo: anh Nguyễn Văn Chân.
2/. Nguyễn Văn C - sinh năm 1974;
Địa chỉ: aa ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung - Đồng Tháp.
3/. Nguyễn Văn M - sinh năm 1954;
Địa chỉ: aa ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung - Đồng Tháp.
4/. Nguyễn Kim L - sinh năm 1980;
Địa chỉ: a ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung - Đồng Tháp.
5/. Nguyễn Văn C - sinh năm 1968;
Địa chỉ: A ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung - Đồng Tháp.
6/. Nguyễn Thị Kim B - sinh năm 1967,
7/. Nguyễn Kim L - sinh năm 1978;
2
Cùng địa chỉ: a ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
8/. Nguyễn Văn Đ - sinh năm 1972;
Địa chỉ: a ấp b, xã Tân Thành, huyện Lai Vung- Đồng Tháp.
9/. Nguyễn Thị Kim T - sinh năm 1972;
Địa chỉ: a ấp a, xã Tân Thành, huyện Lai Vung - Đồng Tháp.
10/. Nguyễn Văn H- sinh năm 1962;
Địa chỉ: C ấp a, xã Định Yên, huyện Lấp Vò - Đồng Tháp.
Chị L, anh C, chị B, chị L, anh Đ, chị T, anh H cùng ủy quyền cho
Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn M.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Phạm
Hoàng Đức Công ty Lut hợp danh Anh Em luật thuộc Đoàn luật tỉnh
Đồng Tháp.
- Bị đơn: Trương Thị Thanh M - sinh năm 1959;
Địa chỉ: A ấp B, xã Long H, H. Lai Vung - Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của Trương Thị Thanh M là: Nguyễn
Ngọc - Sinh năm 1956; Địa chỉ: A ấp B, Long H, huyện Lai Vung, tỉnh
Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 23/3/2017).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/. Trương Thị Huỳnh M - sinh năm 1956;
Người đại diện theo ủy quyền của Trương Thị Huỳnh M Trương Th
Tuyết M sinh năm 1947;
2/. Hồ Trung H - sinh năm 1949,
3/. Huỳnh Thị Trúc H - sinh ngày 21/9/2000;
Người đại diện theo ủy quyền của Hồ Trung Hải, Huỳnh Thị Trúc Hà là:
Trương Thị Thanh M - sinh năm 1959;
Cùng địa ch: A p B, xã Long H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người kháng cáo Trương Thị Thanh M, Trương Thị Huỳnh
M, ông Hồ Trung H bị đơn và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của vụ
án.
4. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung kháng nghị theo Quyết định
kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27/12/2018.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung; Biên bản vkiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải tại phiên tòa nguyên đơn
trình bày: Ông Nguyễn Văn H (chết ngày 21/02/2012) chồng của Nguyễn
Thị B cha của Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B,
Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn
Đ, Nguyễn Thị Kim T để lại thửa 1646, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299), tương
ứng thửa 31, tờ bản đồ số 48 (bản đồ địa chính chính quy) do hông Nguyễn
Văn H đứng tên quyền sử dụng đất, giáp ranh với thửa 33, tờ bản đồ số 48 (bản
3
đồ địa chính chính quy) do bà Trương Thị Thanh M đứng tên người sử dụng đất,
cùng mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, địa chỉ hai thửa đất tại: xã Long H,
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình sử dụng, Trương Thị
Thanh M lấn ranh chiếm đất của các thừa kế của Nguyễn Văn H.
Do đó, Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn
Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ,
Nguyễn Thị Kim T yêu cầu hộ Trương Thị Thanh M di dời trụ đá, hàng rào
lưới B40, cam xoàn đtrả lại cho các thừa kế của Nguyễn Văn H phần đất lấn
chiếm 233,8 m
2
đất (Trong phạm vi các mốc M7, M4, M5, M15, M14, M13,
M12, M6 về mốc M7 theo đồ mảnh trích đo địa chính số: 88 - 2018 đo vẽ
ngày 24/10/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp) thuộc một phần thửa 1646, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299), tương
ứng là thửa 31, tờ bản đồ số 48 (bản đồ địa chính chính quy), mục đích sử dụng:
Đất tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại: Long H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp do Nguyễn Văn H đứng tên người sử dụng đất.
Trong văn bản ghi ý kiến ngày 15/3/2017; Biên bản về kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, ng khai chứng cứ, hòa giải tại phiên tòa người đại diện theo
ủy quyền của bđơn Trương Thị Thanh M và người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Hồ Trung Hải, Trương Thị Huỳnh M, Huỳnh Thị Trúc Hà trình bày: Hộ bà
Trương Thị Thanh M không có lấn ranh chiếm đất của Nguyễn Văn H (đã chết).
Do đó hộ Trương Thị Thanh M không đồng ý với yêu cầu của các thừa kế
của Nguyễn Văn H Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B,
Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn
Đ, Nguyễn Thị Kim T.
Tại quyết định bản án thẩm số 64/2018/DS-ST, ngày 14/12/2018 của
Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã tuyên xử:
1. Buộc hộ bà Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M,
Huỳnh Thị Trúc H di dời trụ đá, lưới B40 và cam xoàn trong 233,8 m
2
(hai trăm
ba mươi ba phết tám mét vuông) đất để trả lại cho Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn
C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn
Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim T 233,8 m
2
(hai trăm
ba mươi ba phết tám mét vuông) đất (Trong phạm vi các mốc M7, M4, M5,
M15, M14, M13, M12, M6 về mốc M7 theo đồ mảnh trích đo địa chính số:
88 - 2018 đo vẽ ngày 24/10/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp) thuộc một phần thửa 1646, tờ bản đồ số 1
(bản đồ 299), tương ứng thửa 31, tờ bản đồ số 48 (bản đồ địa chính chính
quy), mục đích sử dụng: Đất tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại: Long H,
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Văn H đứng tên người sử dụng
đất.
2. Ranh giới giữa thửa 1646, tờ bản đồ số 1 (bản đ299), tương ứng
thửa 31, tờ bản đồ số 48 (bản đồ địa chính chính quy) do ông Nguyễn Văn H
đứng tên người sử dụng đất với thửa 33, tờ bản đồ số 48 (bản đồ địa chính chính
quy) do Trương Thị Thanh M đứng tên người sử dụng đất, cùng mục đích sử
dụng đất: Đất tại nông thôn, địa chỉ hai thửa đất tại: Long H, huyện Lai
Vung, tỉnh Đồng Tháp là đường nối liền từ mốc M7 đến M4.
4
3. Ranh giới đã được xác định như trên, thì người được quyền sử dụng
đất được quyền sdụng không gian lòng đất theo chiều thẳng đứng tranh
giới thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật không được làm ảnh hưởng
đến việc sử dụng đất của người khác, nếu cây trồng hoặc vật kiến trúc của người
này nằm trên phần đất của người kia thì phải tháo dở, di dời.
4. Khi bản án hiệu lực pháp luật các đương sự được quyền đến các
quan thẩm quyền khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy
định, có đồ mảnh trích đo địa chính số: 88 - 2018 đo vẽ ngày 24/10/2018 của
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp kèm
theo bản án này.
5. Án phí, tạm ứng án phí và chi phí, tạm ứng chi phí:
5.1. Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M, Thị Trúc
H phải liên đới chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm
(Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M, Huỳnh Thị Trúc H
chưa nộp).
5.2. Hoàn trả lại cho Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim L,
Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn
Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim T 2.452.500 đồng (hai triệu, bốn trăm
năm mươi hai nghìn, năm trăm đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo hai biên lai số:
09709, ngày 17/02/2017 số: 0001202, ngày 12/4/2018 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
5.3. Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M, Huỳnh
Thị Trúc H phải liên đới chịu 500.000 đồng chi phí định giá tài sản và chi phí tố
tụng (Bà M đã nộp và chi xong).
5.4. Buộc Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M,
Huỳnh Thị Trúc H liên đới hoàn trả cho Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn C, Nguyễn
Kim L, Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M,
Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim T 6.898.000 đồng (sáu triệu,
tám trăm chín mươi tám nghìn đồng) chi pđịnh giá tài sản và chi phí tố tụng.
Ngoài ra bản án thm n tun quyền và thời hạn kháng o của các
đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 24/12/2018, Trương Thị Thanh M, ông
Hồ Trung H và Trương Thị Huỳnh M, kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm
xét xử c toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu được miễn
án phí thẩm theo qui định tại điểm Đ, khoản 1, Điều 12 NQ
326/2016/UBTUQH14, ngày 30/12/2016; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét, đánh giá mức độ lở đất do dòng chảy của sông, rạch cũng như việc mất đất
do nới rộng đường đal nông thôn.
Ngày 27/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung kháng nghị số
01/QĐKNPT-VKS-DS theo hướng sửa bản án thẩm s64/2018/DS-ST ngày
14/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Tại phiên a phúc, Trương Thị Thanh M, ông Hồ Trung Hải,
Trương Thị Huỳnh M vẫn gingun nội dung đơn kháng o. Đại diện viện
5
kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến vn nguyên nội dung kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng
cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các
đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của Trương Thị Thanh M, ông Hồ Trung H
Trương Thị Huỳnh M, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguồn gốc đất của hai bên đương s đều do ông bà cha mẹ của hai
n để lại, trong đó đất phía nguyên đơn thì do ông H (đã chết) cha của anh
Chân kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1994
và hin nay đất vẫn còn do ông H đứng tên quyền sử dụng, thuộc thửa 1646, nay
theo hệ thống lưới tọa độ thì gồm 02 thửa là 31 32, chưa được cấp đổi lại do
còn đang tranh chấp với bị đơn. Đất bên phía bị đơn của cha mẹ bị đơn của
Hằng để lại cho bị đơn; trước đây Hng khai đứng tên lần đầu năm
1994, gồm thửa 1661 1647, năm 2017 đổi thành thửa 33, sau khi Hằng
chết thì M khai thừa kế và được cấp quyền sử dụng đất như hiện nay. Khi
hai bên khai cấp quyền sử dụng đất thì đều không đo đạc và giáp
ranh vi nhau. Phía nguyên đơn cho rằng, trong quá trình sử dụng đất, thì phía b
đơn có lấn chiếm, xây hàng rào lưới B40 trồng một số cây ăn trái nên phát
sinh tranh chấp, đồng thời yêu cầu xác định ranh đất là t mốc M4 đến mốc M7
theo đồ đo đạc ngày 24/10/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện Lai Vung; Tòa án cấp thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu của các
nguyên đơn.
Xét thấy, phần đất của hai bên đương s thì ttrước đến nay giữa hai
bên chưa tng thỏa thuận, thống nhất với nhau v ranh giới hay tên
giáp ranh với nhau trong các thủ tục kê khai, cấp, cp đổi, điều chỉnh giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của các bên; trong khi đối với lời trình bày của M
cũng như chứng cứ mà M cung cấp là Tờ hợp đồng phân chia ranh đất lập
ngày 23/8/1975, nhưng nội dung văn bản này cũng chỉ xác định chiu ngang
phía trước và phía sau đất của phía bị đơn (lúc đó là Hằng) ch không ghi
nhn chiều ngang phía trước và phía sau đất của phía nguyên đơn (lúc đó là ông
H) hoc v ranh giới giữa đất gia hai bên như thế nào, nên văn bản này
không có giá trị chứng minh, Công văn số 1833/STNMT- VPĐKĐĐ ngày
17/9/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường, ý kiến: Khi đo đạc ranh đất của
ông H lập biên bản ranh đất được thể hiện trong biên bản xác định ranh
giới, mốc giới thửa đất số 31 chữ của ông H (Bút lục số 74).
Nhận thấy, biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất số 31 lập ngày 18/10
(biên bản thể hiện năm 2007) đã vẽ sẵn hình thể thửa đất, chữ ký của ông H.
Tuy nhiên, ngày 02/11/2007 mới tiến hành đo đạc đo theo hình vđã vẽ sẵn
trong biên bản ngày 18/10 không phù hợp thực tế, nên ông H không thống
6
nhất với biên bản nói trên (Bút lục số 74) đã khiếu nại, tranh chấp kéo dài.
Như vậy đã cho thấy hồ sơ kỹ thuật và biên bản xác định ranh giới, mốc giới hai
thửa đất tranh chấp thửa 33 thửa 31 [một phần thửa 1646, tờ bản đồ số 1
(bản đồ 299)], cùng tờ bản đồ số 48 thì tại thời điểm đo đạc thì li không các
chủ sử dụng đất tiếp giáp tên hoặc điểm chỉ xác nhận với nhau nhưng
quan chuyên môn vẫn tiến hành đo đạc thhiện ranh giới giữa đất của hộ
Liêng Thị H (phía bị đơn) với đất của hộ ông Nguyễn Văn H (phía nguyên đơn)
các đoạn gấp khúc lập thủ tục cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ bà Liêng Thị Hbà Trương Thị Thanh M, còn hộ ông Nguyễn
Văn H sau đó đã không đồng ý nên đã không làm thủ tục cấp lại, cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay, n các biên bản xác định ranh giới
trích lục bn đồ kèm theo thủ tục đó - thể hiện ranh đất giữa hai bên là các
đường gp khúc là không có giá trị pháp lý.
V hiện trạng, xét thấy phần diện tích tranh chấp có một số cây ăn trái do
M trng nhưng cũng đều là cây mi trồng trong thời gian phía ông H đã
khiếu nại, tranh chấp; còn đối với hàng rào lưới B40 của bà M thì cũng không
phải là hàng rào kiên c, chỉ là mt đoạn trên tổng chiều dài ranh tranh chấp,
đồng thời phía nguyên đơn cũng không thừa nhận đây hàng rào ranh gia hai
bên; phía bà M cũng không chứng minh được hàng rào này được bà xây dựng t
khi nào, đã ổn định lâu dài hay chưa; trong khi trên diện tích tranh chấp thì hiện
trạng có con mương nước con mương gần giáp đường ranh giới theo xác
định của phía nguyên đơn chạyi ra đến phần đất phía sau của Nguyễn Kim
Dung, phía nguyên đơn cho rằng do gia đình nguyên đơn đào để dẫn nước
tưới tiêu ( trong quá trình tranh chấp thì bà M lấp đầu ngoài giáp l đan) và lý do
con mương còn cách ranh mt khoản do gia đình nguyên đơn cha ranh;
ngoài ra, căn cứ vào vị trí mốc M7 thì chiều ngang phần đất của phía nguyên
đơn vn còn thiếu hơn nhiều so với chiều ngang theo hồ kỹ thuật (16,96m so
với 21,7m) mà phía bị đơn thống nhất và dùng làm căn cứ cho yêu cầu của
nh; n phía M thì trình bày không biết con ơng nói trên do ai đào,
qua đó cũng chứng tỏ con mương này, tức diện tích đất tranh chấp thuộc trên
phần đất của phía gia đình nguyên đơn.
Ngoài ra, theo xác định ranh của phía nguyên đơn, t mốc M4 đến
mốc M7 mt đoạn thẳng, là phù hợp vi trích lục bản đồ ngày 03/4/2017 của
Chi nhánh n phòng đăng đất đai huyện Lai Vung - thể hiện ranh giới
quyền sử dụng đất gia hai bên là đoạn thẳng trong đó tại mốc M4 cũng phù
hợp với vị trí ranh giới chung giữa 03 phần đất của nguyên đơn, bị đơn và người
th ba Nguyễn Kim D, đồng thời D cũng xác định vị trí mốc M4 y
ranh giới giữa các n từ trước đến nay (Biên bản ghi lời khai D ngày
30/8/2019).
Hơn nữa, về diện tích đất, nếu không tính diện tích đất tranh chấp mà chỉ
tính riêng thửa đất có tranh chấp ranh thì đất bên nguyên đơn thiếu 717,8m
2
; nếu
kể cả thửa 32 thì vẫn còn thiếu 418,6m
2
, còn đất phía M thì thiếu chỉ
286,9m
2
.
7
Do đó, yêu cầu xác định ranh của phía nguyên đơn là t mốc M4 đến
mốc M7 là phù hợp cơ sở. vậy việc Tòa án cấp thẩm đã xét xử chấp
nhận yêu cầu của các nguyên đơn có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên đối với phần cây trồng và hàng rào của bà M trên diện tích đất
tranh chấp thì xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn đồng ý trả giá
trị đối với các cây trồng cho phía bị đơn, còn đối với hàng rào lưới B40 thì yêu
cầu phải di dời, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến này là phù hợp pháp luật và
đảm bảo quyền lợi của bị đơn, còn đối với bị đơn ý kiến trong trường hợp Tòa
án không chấp nhận yêu cầu của bị đơn tphía bị đơn cũng đồng ý nhận giá trị
di dời hàng rào. vậy Hội đồng xét xử chấp nhận sửa một phần bản án
sơ thẩm về phần này là do sự tự nguyện của các đương sự.
[2] Xét trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn cho rằng tờ phân chia ranh đất không phù hợp, đối với hàng rào
thì trước đây không có, đồ trích đo kỹ thuật đường thẳng, không phải
đường gấp khúc. Do đó hồ kỹ thuật không sở pháp để xem xét.
Ngoài ra diện tích đất nguyên đơn sdụng vẫn còn thiếu. Tại biên bản ghi
lời khai của D cũng trình bày giữa đất với M là đường thẳng đồng
thời xác định điểm M4 là vị trí giáp ranh giữa ba người. Tại phiên Tòa các
nguyên đơn cũng đồng ý trả giá trị cây trồng cho phía bị đơn xét thấy ng
phù hợp. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn.
Xét lời đề nghị trên của luật phù hợp với nhận định nêu trên, nên chấp
nhận.
[3] Xét thấy, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Tháp phát biểu việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử các đương sđều thực hiện đúng quy định của pháp
luật và không có kháng nghị gì v thủ tục tố tụng.
V nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp vn
gi nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đxuất
hướng giải quyết sửa bản án thẩm, c toàn b yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, xác định ranh đất theo hiện trạng sử dụng đất của bị đơn. Hội đồng
xét xử xét thấy nội dung kháng nghị cũng như đề nghị trên của Viện kiểm sát là
không có cơ sở, nên không chấp nhận.
[4] vậy, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án thẩm của Tòa án
nhân dân huyện Lai Vung.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do sa bản án sơ thẩm n Trương Thị Huỳnh
M, bà Tơng ThThanh M, ông Hồ Trung H không phi chịu án phí phúc thẩm.
[6] Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
8
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175
Bộ luật dân sự; Nghquyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của Trương Thị Thanh M, ông Hồ
Trung H, Trương Thị Huỳnh M.
- Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai
Vung.
- Sửa một phần bản án thẩm số 64/2018/DS-ST ngày 14/12/2018 của
a án nhân dân huyện Lai Vung.
- Chp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn C,
Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn
Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim T.
- Ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn
C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn
Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim T - thuộc thửa 1646,
tờ bản đồ số 1 của bản đồ 299, tương ứng là thửa 31, tờ bản đồ số 48 của bản đồ
chính quy [đất còn do ông Nguyễn Văn H (đã chết) đứng tên người sử dụng đất]
với đất của Trương Thị Thanh M, thuộc thửa 33, tờ bản đồ số 48 (bản đồ
chính quy); đất tại Long H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đoạn thẳng
nối từ mốc M7 đến mốc M4. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính
từ lòng đất đến không gian tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời
theo quy định của pháp luật (kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
24/10/2018; đồ đo đạc ngày 24/10/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng
đất đai huyện Lai Vung).
- Các đương sự được quyền đến quan Nhà nước thẩm quyền để
điều chỉnh lại quyền sử dụng đất đăng QSDĐ đất theo quy định của pháp
luật.
- Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B,
Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn
Đ, Nguyễn Thị Kim T liên đới trả giá trị cây trồng trên đất (gm 29 cây Cam
Xoàn) cho Trương Th Thanh M ông H Trung H 4.060.000 đồng và
được sở hữu các cây trồng nói trên.
Kể từ ny đơn yêu cầu thinh án của nời được thi hành ánối với
c khon tiền phi trcho người được thi nh án) cho đến khi thi nh án xong,
n phải thi hành án còn phải chịu khon tiền i của số tiền n phải thi hành án
theo mc lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bluật n sự năm 2015,
tr trường hợp pháp luật quy định khác.
- V án phí sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá:
+ Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M, Huỳnh Thị
Trúc H phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
9
+ Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim L, Nguyễn Thị Kim B,
Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn
Đ, Nguyễn Thị Kim T phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí thẩm về việc
tr giá trị cây trồng cho bị đơn nhưng được khấu trừ vào 2.452.500 đồng tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo hai biên lai số 09709, ngày 17/02/2017 số
0001202, ngày 12/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh
Đồng Tháp, nên được nhận lại 2.152.500 đồng.
+ Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M, Huỳnh Thị
Trúc H phải liên đới chịu 500.000 đồng chi phí thẩm định, định giá (Trương Thị
Thanh M đã nộp và đã chi xong).
+ Buộc Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị Huỳnh M,
Huỳnh Thị Trúc H liên đới hoàn trả cho Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn C, Nguyễn
Kim L, Nguyễn Thị Kim B, Nguyễn Kim L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M,
Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim T 6.898.000 đồng chi phí
thẩm định, định giá.
- V án pphúc thẩm: Trương Thị Thanh M, Hồ Trung H, Trương Thị
Huỳnh M mỗi người được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp theo các biên lai số 0002630, 0002629, 0002631 cùng ngày 26/12/2018
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Phòng GĐ & KT TAND Tỉnh;
- VKSND Tỉnh;
- TAND huyện Lai Vung;
-Chi cục THADS huyện Lai Vung;
- Đương sự
- Lưu: VT, HSVA,TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
Tải về
Bản án số 316/2019/DS-PT Bản án số 316/2019/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất