Bản án số 31/2019/HSST ngày 04/09/2019 của TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2019/HSST

Tên Bản án: Bản án số 31/2019/HSST ngày 04/09/2019 của TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tịnh Biên (TAND tỉnh An Giang)
Số hiệu: 31/2019/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 31/2019/HSST
Ngày 04-9-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - H phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Võ Thị Ngọc Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Hoàng;
2. Bà Chau Thị Thu Thủy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, cán bộ Tòa
án nhân dân huyện Tịnh Biên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa:
Bà Trương Bảo Thanh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện
Tịnh Biên xét xử công khai thẩm vụ án hình sự thụ số 31/2019/HSST
ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Thị H, sinh m 1980 tại huyện T, tỉnh A; nơi trú: tổ 3,
khóm II, thị trấn C, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn
hóa: không biết ch; dân tộc: Kinh, con ông Nguyễn Văn T, chết
Nguyễn Thị N, chết; chồng Văn Đực N, sinh năm 1978; 02 con,
lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2003; Bị cáo con thứ , 3 anh, chị
em; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi
nơi trú Lệnh số 31/L-CQĐT ngày 20/5/2019 của quan cảnh t điều
tra Công an huyện Tịnh Biên từ ngày 20/5/2019 đến ngày 20/7/2019; Lệnh
số 02/LCCT-VKSTB-HS ngày 23/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tịnh Biên từ ngày 23/7/2019 đến ngày 11/8/2019; Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bị hại: Ông Chau T, sinh năm 1998, nơi trú: ấp T, T,
huyện T, tỉnh A, có mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho bị hại: Hồ Bích H,
Trợ giúp viên pháp của Trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh An
Giang, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần T (tên gọi khác Tr),
sinh năm 1972, nơi cư trú: tổ 3, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh A, có mặt.
2
- Người làm chứng:
1. Thị T, sinh năm 1986, nơi cư trú: ấp Ô, B, thị K, tỉnh L,
vắng mặt.
2. Thị H, sinh năm 1963, nơi trú: tổ 01B, khóm II, thị trấn C,
huyện T, tỉnh A, vắng mặt.
3. Ông Văn Đực N, sinh năm 1978, nơi trú: tổ 3, khóm II, thị
trấn C, huyện T, tỉnh A, có mặt.
4. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983, nơi trú: khóm T, thị trấn N
huyện T, tỉnh A, vắng mặt.
5. Neàng S, sinh năm 1975, nơi trú: tổ 3, ấp V, V, huyện T,
tỉnh A, có mặt.
6. Neàng R, sinh năm 1964, nơi trú: tổ 11, ấp M, xã V, huyện T,
tỉnh A, có mặt.
7. Neàng H, sinh năm 1999, nơi trú: tổ 3, ấp V, V, huyện T,
tỉnh A, có mặt.
8. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1971, nơi trú: tổ 3, khóm II, thị
trấn C, huyện T, tỉnh A, vắng mặt.
9. Ông Thanh Hữu S, sinh năm 1985, nơi trú: khóm V, phường
N, thành phố C, tỉnh A, vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Lục D Cộng tác viên dịch thuật của
Phòng Tư pháp huyện Tịnh Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút sáng ngày 25 tháng 4 năm 2019, ông Chau T
chạy xe môtô biển số 67E1- 141.88 chở bà Neàng H (vợ T) để bán hải sản tại
chợ C thuộc khóm 1, thị trấn C, huyện T, tỉnh A, Thon dựng xe môtô phía
trước chợ C, rồi đi vào bên trong bán. Khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày,
Nguyễn Thị H đi bộ đến chợ C thấy xe môtô biển số 67E1- 141.88, gắn
chìa khóa không người trông giữ, nảy sinh ý định lấy trộm xe. Nên H đến
lấy và nổ máy xe môtô biển số 67E1- 141.88 chạy sang Casino (Campuchia),
tại đây H gặp Tô Thị T nhờ T dẫn đem xe đi cầm (gần Casino). H mở yên
xe bên trong một cái ví, giấy chứng nhận đăng xe môtô biển số
67E1- 141.88 các loại giấy tờ, sổ sách khác...Nên H lấy xe giấy đăng
đem cầm được 4.000.000 đồng, sau đó cho Tuyền 200.000 đồng số
còn lại H chơi đánh bạc thua hết, đối với ttiền mệnh giá 2USD trong thì
H đem cho con ruột Văn H, còn cái H cất giấu trên trần nhà vệ sinh.
3
Đến ngày 03/5/2019 H T chuộc lại xe giao nộp xe môtô 67E1- 141.88
cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) áo thun dài tay nhiều hình bông, cành,
trên áo bông màu tím, vàng, đen, loại áo nữ (đã qua sử dụng); 01
(một) quần thun ống dài màu đen của nữ (đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép
quay kẹp, trên dây chữ Pink dép bên phải, quay dép màu vàng (đã qua
sử dụng).
Tại bản kết luận định g tài sản số: 339/KL.HĐĐGTTHS ngày 06
tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Ủy ban
nhân n huyện Tịnh Biên, kết luận xe môtô biển số 67E1 141.88, loại xe
Wave alpha, màu xám đen bạc, được định g 12.100.000 đồng; Cũng
tại bản kết luận định giá tài sản số: 389/KL.HĐĐGTTHS ngày 13 tháng 5
năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân
huyện T, kết luận một ttiền đô la Mỹ, mệnh giá 2 USD, được định giá
45.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTB-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019,
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đã truy t bị cáo Nguyễn Thị H về
tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt Bộ luật hình sự).
Tại quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị H đều khai nhận hành vi như
đã nêu.
Tại phiên tòa,
- B cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận do không tiền tiêu xài, nên
khoảng 06 giờ 20 phút ngày 25 tháng 4 năm 2019 thấy xe môtô biển số
67E1- 141.88, gắn chìa khóa không người trông giữ, nảy sinh ý định
lấy trộm xe như nội dung bản Cáo trạng. Bcáo không ý kiến tranh luận
với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xgiảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
- Người bị hại các nhân chứng được triệu tập tại phiên tòa các ông,
Chau T, Neàng S, Neàng R, Neàng H đều lời khai phù hợp trong quá
trình điều tra khẳng định tình tiết của vụ án đúng như lời bị cáo khai nhận.
- Kiểm sát viên, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên vẫn
giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội
dung bản Cáo trạng trình bày lời luận tội: Hành vi của bị cáo đã xâm
phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại Viện kiểm sát đã truy tố đối
với bị cáo căn cứ. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét đến nhân
thân của bị cáo: Đã tự nguyện khắc phục hậu quả; Thành khẩn khai báo;
Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Chưa có tiền án, tiền s;
không biết chữ, nhận thức pháp luật kém. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách
4
nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Thị H theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng mức hình phạt đối với bị o
Nguyễn Thị H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi
thường; Đối với người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần T yêu cầu
bị cáo bồi thường số tiền 40.500.000 đồng, nhưng không sxác định
được bị cáo đã lấy tài sản này, nên khi điều tra rõ sẽ xử lý bằng vụ án khác.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: Vật chứng đã thu giữ.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo không nghề nghiệp thu
nhập không ổn định, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với
bị cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tranh luận: Thống
nhất với luận tội của Kiểm sát viên v mức hình phạt đối với bị cáo. Tuy
nhiên, theo diễn biến tại phiên tòa thấy rằng bị cáo vẫn còn quanh co khai
báo vsố tiền của ông Trần T bị mất 40.500.000 đồng, không phù hợp với
các lời khai của người làm chứng. Bị cáo khai rằng cả ngày 25/4/2019 bị o
đánh bạc Casino thua hết tiền, còn lại 1.200.000 đồng tiêu xài nhân, bị
cáo khai nhận sau đó đi lên đánh bạc khoảng 4-5 lẫn nữa cũng đều thua
hết. Như vậy, bị cáo khai nhận ngày 03/5/2019 Bị cáo được con trai cho
500.000 đồng, ăn bạc 4.200.000 đồng để tiền chuộc xe không phù hợp
với số tiền để chuộc lại xe như bị cáo khai nhận. Như vậy, đề nghị Hội đồng
xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trần T 40.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong q
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và hợp pháp về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm
tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại
phiên tòa hôm nay, cũng phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai nhận tại Cơ
quan điều tra. Đồng thời còn phù hợp với vật chứng vụ án chiếc xe môtô
biển số 67E1 141.88, số máy HC12E5259174, số khung 1213DY259093
5
đã được giao trả lại cho bị hại (theo biên bản ngày 20/7/2019 tại Đội cảnh sát
hình sự Công an huyện T, tỉnh A).
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi: Bị cáo đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho hội, cố ý
thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại một cách lén lút, mục
đích bán lấy tiền tiêu xài nhân; đã trực tiếp m phạm đến quyền sở hữu
về tài sản của bị hại, giá trị tài sản bcáo chiếm đoạt trị giá 12.100.000
đồng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H có đầy đủ
dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ
luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên n cứ đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hình
phạt đối với bị cáo:
Bcáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Tự nguyện khắc phục hậu
quả, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; Phạm tội lần
đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo; Chưa có tiền
án, tiền sự; Kng biết chữ, nhận thức pháp luật kém nên được áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội các tình
tiết giảm nhẹ, cũng như nhân thân bị o. Hội đồng xét xử thấy cần mức
án nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một thời gian,
nhằm tạo điều kiện cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình,
cũng để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, mức hình phạt mà
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đề nghị áp dụng đối với bị cáo
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị
cáo.
Đối với lời tranh luận của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
bị hại, yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trần T 40.500.000 đồng
là không có căn cứ.
[4] Biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) áo thun dài tay có nhiều hình bông, cành, lá trên áo và
bông có màu tím, vàng, đen, loại áo nữ (đã qua sử dụng); 01 (một) quần thun
ống dài màu đen của n(đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép quay kẹp, trên
dây dép phải có chữ Pink, quay dép màu vàng (đã qua sử dụng), là vật không
còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định điểm c khoản 2 Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
6
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/8/2019 giữa quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Tịnh Biên).
[5] Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu
bồi thường; Đối với người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần T yêu
cầu bị cáo bồi thường số tiền 40.500.000 đồng, nhưng không sở xác
định được bị o đã lấy tài sản này, nên khi điều tra sẽ xử bằng vụ án
khác.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38, Điều 50 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố:
- Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt:
- Bcáo Nguyễn Thị H chín (09) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt thi hành án.
3. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo thun dài tay nhiều hình bông, cành,
trên áo bông màu tím, vàng, đen, loại áo nữ (đã qua sử dụng); 01
(một) quần thun ống dài màu đen của nữ (đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép
quay kẹp, dây dép phải có chữ Pink, quay dép màu vàng (đã qua sử dụng).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố
tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng
án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: n cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo bị hại, người quyền lợi nghĩa vliên quan được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
LuậtThi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
7
tự nguyện thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND h. Tịnh Biên;
- CQCSĐT CA h. Tịnh Biên.;
- Chi cục THADS h.Tịnh Biên;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu: HS; THAHS.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Ngọc M
Tải về
Bản án số 31/2019/HSST Bản án số 31/2019/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất