Bản án số 30/2021/DS-ST ngày 23/08/2021 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2021/DS-ST ngày 23/08/2021 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Krông Nô (TAND tỉnh Đắk Nông)
Số hiệu: 30/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/08/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N-Lê Thị M, Lê Hùng V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 30/2021/DS-ST
Ngày 23 8 2021
V/v tranh chấp hp đng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển
Bà H`Thủy Bon Jốc Ju.
- Thư phiên tòa: Nông ThHường - cán bộ Tòa án nhân dân huyện
Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông
Tống Mạnh Cường, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ny 23 tháng 8 năm 2021, ti Tòa án nhân dân huyn Krông Nô tiến hành t x
sơ thm công khai v án n s th lý số: 133/2020/TLST-DS, ngày 08/10/2020, v vic
Tranh chp hp đồng tín dụng theo Quyết định đưa v án ra t xử s:
19/2021/QĐXXST-DS, ny 14/7/2021; Quyết đnh hoãn phiên tòa s:
153/2021/QĐST-DS, ngày 14/7/2021, Thông báo thay đi thi gian m phn tòa số:
155/TB-T ngày 16/8/2021 của Tòa án nhân dân huyn Krông Nô, gia các đương s:
Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số 02 Láng H, phường T, quận B, thành ph Nội.
Nời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyn Văn C, chức v:
P giám đc Nn ng N chi nhánh Krông (Văn bn ủy quyền ngày 21/7/2020)
Có đơn xin t xử vng mt.
Địa chỉ: S02 Tôn Đức T, th trn M, huyện K, tnh Đk Nông.
Bđơn: Bà Lê Thị M Có đơn xin t xử vắng mặt.
Ông Lê Hùng V - Vắng mt.
Cùng địa chỉ: Bon N, xã Quảng S, huyện Đắk G`L, tỉnh Đắk Nông.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2020, quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của Nguyên đơn Ông Nguyễn Văn C
trình bày:
Ngày 09/10/2018, ông Hùng V, Thị M vay vốn tại Ngân hàng N -
Chi nhánh Đăk Nông số tiền 200.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số
5304LAV201803116 ngày 11/10/2018. Thời hạn 03 năm, lãi suất 11%/năm, hạn
trả gốc cuối cùng vào ngày 09/10/2021, mục đích vay để phục hồi chăm c vườn
cà phê, tiêu; Kỳ hạn trả nợ lãi 06 tháng 01 lần, kỳ hạn trả nợ gốc 03 kỳ: kỳ 01 ngày
09/10/2019 trả 10.000.000đ, kỳ 02 trả ngày 09/10/2020 trả 10.000.000đ, kỳ 03 trả
ngày 09/10/2021 trả 180.000.000đ.
Đến ngày trả lãi và gốc theo định kỳ, Ngân hàng N Chi nhánh huyện K đã
đôn đốc, làm việc yêu cầu ông V, M trả nợ nhiều lần nhưng ông V, M
không thực hiện cam kết như hợp đồng đã ký. Tạm nh đến ngày 31/7/2010, ông
V, M chưa thanh toán được gốc lãi cho ngân hàng, tổng số tiền
240.846.667 đồng, trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 40.846.667 đồng.
vậy, Ngân hàng N Chi nhánh huyện K yêu cầu Thị M, ông
Hùng V thanh toán số tiền là 240.846.667đ: trong đó tiền gốc 200.000.000đ, tiền
lãi tạm tính đến ngày 31/7/2020 40.846.667đ tiếp tục chịu lãi suất theo hợp
đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Hùng V, Thị M không thanh toán được nợ, Ngân
hàng N Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu Chi cục Thi nh án dân sự huyện
Krông phát mãi tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên
đất theo hợp đồng thế chấp số 245310983/2018/HĐTC, ngày 10/10/2018 để thu
hồi toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh.
Bị đơn bà Lê Thị M trình bày: Bà M thừa nhận năm 2018, vợ chồng bà có vay
của Ngân hàng N Chi nhánh Krông 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Về
thời hạn trả lãi suất thì không nhớ. Khi vay lập hợp đồng theo đúng quy
định của pháp luật, vợ chồng thế chấp 02 thửa đất tại huyện K nhưng
không nhớ số lô, số thửa diện tích, không nhớ ai đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do gia đình nhiều thửa đất thế chấp nhiều
ngân hàng. Nội dung hợp đồng thế chấp bà không nhớ rõ. Quá trình vay, vợ chồng
chưa trả cho ngân hàng được khoản tiền nào kể cả gốc lãi. đồng ý trả nợ
theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn
nên chưa có tiền thanh toán cho ngân hàng. Trường hợp không thanh toán được
thì bà đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ. Hiện
nay chồng bà là ông Hùng V đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu không biết và
cũng không liên lạc được. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hùng V vắng mặt tại địa phương,
Tòa án ban hành Quyết định số 46/2021/QĐ-TA, ngày 04/5/2021 thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng thông báo cho ông Lê Hùng V được biết.
3
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên quan
điểm khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu ông V, M trả cho ngân hàng số tiền
265.631.806đ, trong đó tiền gốc: 200.000.000đ, lãi tính đến ngày xét xử thẩm
là: 65.631.806đ (lãi trong hạn là: 64.105.556đ, lãi quá hạn là: 1.526.250đ).
Bị đơn ông Lê Hùng V và bà Lê Thị M vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã
chấp hành đúng quy định của pháp luật ttụng từ khi thụ đến trước khi mở
phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư đã thực hiện đúng,
đầy đủ các trình tthủ tục quy định; Nguyên đơn, bđơn Thị M, chấp hành
đúng quy định của pháp luật; Bị đơn ông Hùng V vi phạm quyền nghĩa vụ
của mình theo quy định tại Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của Nguyên đơn. Buộc ông Hùng V Thị M phải thanh toán cho Ngân
hàng N tổng số tiền 265.631.806đ, trong đó tiền gốc: 200.000.000đ, lãi tính đến
ngày xét xử thẩm là: 65.631.806đ (lãi trong hạn là: 64.105.556đ, lãi quá hạn là:
1.526.250đ). Kể từ ngày 24/8/2021 cho đến khi thi hành xong, bđơn còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã
thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5304LAV201803116 ngày 11/10/2018.
Trường hợp ông Lê Hùng V và bà Thị M không thực hiện được nghĩa vụ
trả nợ, Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi
tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất số 245310983/2018/HĐTC ngày ngày 10/10/2018 thửa đất s81, 91, 123, 127
tờ bản đồ số 02 diện tích 17.059m
2
, đất tọa lạc tại Đắk N, huyện K, tỉnh Đắk
Nông.
Buộc ông V, bà M phải chịu chi phí tố tụng và án phí Dân sự sơ thẩm.
Các tài liệu, chứng cứ: 02 giấy ủy quyền, bản sao hợp đồng tín dụng, giấy
nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân, biên bản xác định giá trị tài sản, đơn đăng
thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Quyết định bổ nhiệm cán bộ. Ngoài những tài liệu, chứng
cứ trên Nguyên đơn không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác không yêu cầu
Tòa án triệu tập người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván căn cứ vào kết quả
thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ngân hàng N khởi kiện ông Hùng V Thị M yêu cầu phải
thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng số 5304LAV201803116
ngày 11/10/2018. Vì vậy đây quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tại thời
điểm kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N chi nhánh Krông Nô, ông Lê
4
Hùng V Thị M đăng hộ khẩu thường trú tại thôn Phú T, Quảng
P, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyên Krông Nô theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều
35; khoản 3 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại Biên bản xác minh của Công an Quảng P thể hiện, trước đây
ông Hùng V Thị M đăng hộ khẩu thường trú sinh sống tại
thôn Phú T, Quảng P, huyện K, tỉnh Đắk Nông nhưng đến ngày 08/4/2019, ông
Hùng V, Thị M đã chuyển khẩu vBon N, Quảng S, huyện Đắk G`L,
tỉnh Đắk Nông. Kết quả ủy thác thu thập chứng cứ do Tòa án huyện Đắk G`Long
thực hiện cho thấy: Hiện nay, Thị M đang trú tại Bon N, xã Quảng S,
huyện Đắk G`L, tỉnh Đắk Nông n ông Lê Hùng V đã bỏ đi khỏi địa phương, ông
không thay đổi nơi trú, không thông báo tạm vắng tại địa phương, không thông
báo địa chỉ nơi cư trú mới cho Ngân hàng, vì vậy M chính quyền địa phương
cũng như Ngân hàng không xác định được nơi sinh sống làm việc hiện nay của
ông Lê Hùng V.
Ngày 04/5/2021, Tòa án đã ban hành Quyết định số 46/2020/QĐ-TA về việc
thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nội dung Ngân hàng N khởi kiện
đối với ông Hùng V và Thị M. Trong Quyết định thể hiện thời hạn giải
quyết vụ án, tuy nhiên ông Lê Hùng V vắng mặt tại phiên tòa.
Khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 2 Điều 6 NQ số: 04/2017/NQ-HĐTP, ngày
05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015 quy định:
Khoản 2 Điều 5: “Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc,
hoặc nơi trụ sở” của người bị kiện, nời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho
Tòa án theo đúng quy định của pháp luật hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại
thời điểm nộp đơn khởi kiện được quan, tổ chức thẩm quyền cấp, xác
nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó địa chcủa người bị kiện, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi đã ghi đúng địa chỉ của người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều
192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.”
Điều 6:
2. Trường hợp sau khi thụ vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo
về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư
trú, làm việc hoặc không trụ stại địa chỉ nguyên đơn cung cấp thì Tòa án
giải quyết như sau:
a) Trường hợp trong đơn khi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ đúng
địa chỉ nơi trú, làm việc hoặc nơi trụ sở của người bkiện, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn
bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có
trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi
nơi trú, làm việc hoặc nơi trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
trong giao dịch, hợp đồng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi
5
trú, làm việc hoặc nơi trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b
khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi cố tình giấu địa chỉ
Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ
án do không tng đạt được cho bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan
Từ các phân tích dẫn chiếu quy định của pháp luật trên thì xác định được
ông Hùng V là người nghĩa vụ đối với Ngân hàng, nhưng ông không thực
hiện nghĩa vụ theo đúng nội dung thỏa thuận của hai bên, ông thường xuyên vắng
mặt tại địa phương, không thông báo tạm vắng cho chính quyền địa phương, cũng
không thông báo địa chmới cho Ngân hàng, vậy trường hợp này được xem là
ông V cố tình giấu địa chỉ. Tòa án nhân dân huyện Krông thụ lý, giải quyết,
đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông V theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]. Về nội dung Hợp đồng tín dụng:
Căn cứ o Hợp đồng tín dụng (HĐTD) 5304LAV201803116 ngày
11/10/2018, số tiền vay 200.000.000đ, thời hạn 03 năm, lãi suất 11%/năm, hạn trả
gốc cuối cùng vào ngày 09/10/2021, mục đích vay để phục hồi chăm sóc vườn
phê, tiêu; Kỳ hạn trả nợ lãi 06 tháng 01 lần, kỳ hạn trả nợ gốc 03 kỳ: kỳ 01 ngày
09/10/2019 trả 10.000.000 đồng, kỳ 02 trả ngày 09/10/2020 trả 10.000.000 đồng,
kỳ 03 trả ngày 09/10/2021 trả 180.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp
đồng tín dụng thể hiện dưới hình thức văn bản, thể hiện sự tự nguyện, tự thỏa
thuận giữa bên cho vay Ngân hàng N bên vay ông Hùng V, Thị
M. Hợp đồng tín dụng đã thể hiện về mức cho vay, phương thức cho vay, thời
hạn cho vay, lãi suất cho vay, trả nợ gốc và lãi vốn vay, quyền và nghĩa vụ của bên
cho vay; bên vay… đúng theo quy đinh tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín
dụng; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 13; Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 23
của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016.
[2.2]. Về yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn:
[2.2.1]. Theo Hợp đồng tín dụng 5304LAV201803116 ngày 11/10/2018 thì
ông V, bà M vay số tiền là 200.000.000 đồng với thời hạn vay 36 tháng.
Mặc thời hạn trả ncuối cùng vào ngày 09/10/2021, tuy nhiên tại khoản
4 Điều 5 trong hợp đồng tín dụng 5304LAV201803116 ngày 11/10/2018 thể hiện
trường hợp ông Hùng V Thị M vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận trong
Hợp đồng thì nguyên đơn có quyền thu hồi nợ trước hạn.
Đến hạn trả nợ định kỳ lần 1 vào ngày 09/10/2019, ông V, M không trả
nợ gốc lãi. Do đó, việc Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, thu
toàn bộ số nợ đối với bđơn đúng theo nội dung trong Hợp đồng tín dụng. Xét
thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sở nên HĐXX chấp nhận. Cần
buộc ông Lê Hùng V bà Lê Thị M phải trả cho Ngân hàng N 200.000.000đ tiền
gốc.
6
[2.2.2]. Căn cứ điều 7 hợp đồng tín dụng 5304LAV201803116 ngày
11/10/2018, xét yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi trong hạn, tiền nợ lãi quá hạn, của
nguyên đơn đối với b đơn thể hiện cụ thể tại bảng kê tính lãi được lập ngày
23/8/2021 65.631.806đ sở, đúng thỏa thuận của các bên trong hợp đồng
tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[2.3]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Tại Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 245310983/2018/HĐTC,
ngày 10/10/2018, thể hiện ông Hùng V Thị M thế chấp tài sản
quyền sử dụng đất toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại Đắk N, huyện K, Tỉnh
Đắk Nông thuộc thửa đất số 81, 91, 123, 127 tờ bản đồ số 02 diện tích 17.059m
2
,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG111950 UBND huyện K cấp ngày
22/9/2005.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/6/2021 thể hiện: Kết quả
kiểm tra thực địa và so sánh với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tờ bản đồ giải
thửa thì các thửa đất số 81 91, 123, 127 tờ bản đồ số 02 được cấp đúng vị trí, phù
hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, tờ bản đồ, giải thửa.
Tài sản trên đất có: Cà phê, điều nhưng bỏ hoang, không chăm sóc, trong đó
có cà phê bị chết nhiều.
Xét thấy việc ông V, M thế chấp các quyền sử dụng đất nói trên để đảm
bảo cho khoản tiền vay thực hiện theo Hợp đồng tín dụng 5304LAV201803116
ngày 11/10/2018. Vì vậy, trường hợp ông V, bà M không thực hiện được nghĩa vụ
thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi cho nguyên đơn thì nguyên đơn quyền yêu
cầu quan Thi hành án thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp trên đthu
hồi nợ là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[3]. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng)
theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông V, M phải chịu toàn bộ chi
phí xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng
3.000.000đ, do đó cần buộc ông V, M phải thanh toán số tiền 3.000.000đ cho
nguyên đơn.
[4]. Chi phí đăng phát trên phương tiện thông tin đại chúng.
Ngân hàng N phải chịu chi phí đăng phát trên phương tiện thông tin đại
chúng với số tiền 5.085.000đ theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân
sự, được khấu trừ số tiền mà Ngân hàng N đã nộp 5.200.000đ, Tòa án hoàn trả cho
Ngân hàng 115.000đ.
[5] Án phí dân sự: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
ông Hùng V, bà Thị M phải chịu án phí DSST 13.282.000đ (Mười ba
triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng làm tròn số). Hoàn trả cho Ngân hàng N
6.021.000đ (Sáu triệu không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai số
0003096 ngày 07/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.
7
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 235; Điều 147; Điều 155; Điều
180 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc “Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”.
Buộc ông Hùng V Thị M phải trả cho Ngân hàng N số tiền
265.631.806đ (Hai trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm
linh sáu đồng), trong đó tiền gốc: 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), lãi trong
hạn tính đến ngày xét xử thẩm là: 64.105.556đ (Sáu mươi bốn triệu một trăm
linh năm nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng), lãi quá hạn là: 1.526.250đ (Một
triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn hai trăn năm mươi đồng).
Kể từ ngày 24/8/2021 cho đến khi thi hành xong, bị đơn còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền n phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận
trong Hợp đồng tín dụng số 5304LAV201803116 ngày 11/10/2018.
Trường hợp ông Hùng V Thị M không thực hiện được nghĩa vụ
trả nợ, Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi
tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
245310983/2018/HĐTC, ngày 10/10/2018 để thu hồi nợ.
2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn ông Hùng V và bà
Thị M phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000đ (Ba
triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định là 3.000.000đ
(Ba triệu đồng) nên buộc ông V, bà M phải trả cho nguyên đơn số tiền 3.000.000đ
(Ba triệu đồng).
3. Chi phí đăng phát trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng N
phải chịu chi phí đăng phát trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền
5.085.000đ (Năm triệu không trăm m mươi lăm nghìn đồng), được khấu trừ số
tiền mà Ngân hàng N đã nộp 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng), Tòa án
hoàn trả cho Ngân hàng 115.000đ (Một trăm mười lăm nghìn đồng).
4. Án phí dân sự: Buộc ông Hùng V Thị M phải nộp
13.282.000đ (Mười ba triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng) án phí Dân sự
thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng N 6.021.000đ (Sáu triệu không trăm hai mươi mốt
8
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0003096 ngày 07/10/2020 tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo toàn bộ bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhn:
- TAND tnh Đk Nông;
- VKSND huyn.Krông Nô;
- CC THADS huyn K;rông Nô
- Các đưong s;
- Lưu h sơ v án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ Tọa phiên toà
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Hải Âu
9
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Tải về
Bản án số 30/2021/DS-ST Bản án số 30/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất