Bản án số 292/2019/HS-ST ngày 24/12/2019 của TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 292/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 292/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 292/2019/HS-ST ngày 24/12/2019 của TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Hai Bà Trưng (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 292/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/12/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 292/2019/HS-ST
Ngày 24-12-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Tân
Bà Hoàng Thị Thiệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Bích Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
318/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 295/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn D; sinh năm 1966; hộ khẩu thường trú: 44/27 ngõ
P, phường C, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: 29 ngách 27 ngõ
P, phường C, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình
độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Phan Thị M;
có vợ là Lê Thị X; có 02 con: lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1987; tiền án:
02 tiền án: Ngày 26/7/1994, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy và 24 tháng tù về tội
Mua bán chất ma túy, tổng hợp hình phạt của hai tội là 36 tháng tù (chưa xóa
án tích); Ngày 18/7/2001: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 36 tháng tù
về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích); tiền sự: không.
* Nhân thân:
- Năm 2006, UBND thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành
chính cai nghiện bắt buộc 24 tháng (đã đủ thời hạn coi là chưa bị xử lý hành
chính).
2
- Ngày 29/10/2012, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 36 tháng tù
về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày
10/3/2015, đã nộp án phí): đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 15/10/2019; tạm giam ngày 24/10/2019.
Danh chỉ bản số 374 lập ngày 17/10/2019 tại Công an quận Hai Bà Trưng.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà
Nội; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 40 phút ngày 15/10/2019, Nguyễn
Văn D đi bộ từ nhà ra khu vực ngõ 459 Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông tên
Đ 01 túi nilong bên trong chứa ma túy với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn
đồng). Sau đó D cầm ma túy trong lòng bàn tay phải đi bộ về nhà để sử dụng.
Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi D đi đến khu vực ngã tư phố Bạch Mai -
Thanh Nhàn - Lê Thanh Nghị, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hai
Bà Trưng kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, D tự giác giao nộp cho Tổ công
tác một gói nilong màu trắng kích thước khoảng 4x6cm bên trong có chứa các
cục bột màu trắng. Tại chỗ D khai nhận là ma túy loại hêrôin vừa mua để sử
dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập
biên bản thu giữ niêm phong túi ni lông trên và yêu cầu D về trụ sở cơ quan
công an làm rõ. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của D 01 điện thoại di
động Nokia màu đen đã qua sử dụng có số IMEI 357797061923868.
Ngày 15/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà
Trưng ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của D. Tại bản
kết luận giám định số 6564/KLGĐ-PC09 ngày 22/10/2019, Phòng kỹ thuật hình
sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 túi
ni lông là ma túy loại hêrôine, tổng khối lượng 1,613 gam”.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho D: D khai không biết rõ nhân
thân lai lịch. Ngày 15/10/2019, Cơ quan công an đã dẫn giải D để xác định nơi
mua ma túy và người đã bán ma túy cho D. Kết quả D xác định được vị trí mua
ma túy là tại khu vực đầu ngách 82 ngõ 459 Bạch Mai, phường Bạch Mai, quận
Hai Bà Trưng nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho D.
Vì vậy, cơ quan công an không có căn cứ xác minh xử lý.
Về chiếc điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI
357797061923868 thu giữ của D: D khai là của D, dùng để liên lạc các nhân và
không liên quan đến hành vi phạm tội.
3
Tại bản Cáo trạng số 280/CT-VKSHBT-HS ngày 20/11/2019, Viện kiểm
sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Nguyễn Văn D về Tội tàng trữ trái
phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D giữ nguyên lời khai như tại cơ quan
điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng
và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích
nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của
bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn D và đề nghị Hội đồng
xét xử: Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật
Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D với mức án từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng
tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo
không có việc làm, thu nhập; về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số
ma tuý đã thu giữ của bị cáo; trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động.
Bị cáo nói lời sau cùng đã nhận thức ra lỗi lầm, xin Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt và không áp dụng hình phạt tiền do bị cáo không có nghề
nghiệp và thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân sức khỏe yếu để bị
cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận
Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời
khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ
sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 15/102019, tại khu vực ngã tư phố Bạch Mai
- Thanh Nhàn - Lê Thanh Nghị, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà
Nội, Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 1,613 gam ma tuý loại hêrôin.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền
kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây
bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Ma túy đang là mối hiểm họa cho
4
mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết
tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan
đến ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước
được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực
hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo
trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết
luận Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại
điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà
Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nhân thân: bị cáo Nguyễn Văn D có hai tiền án về tội mua bán và
tàng trữ ma túy vào năm 1994 và 2001. Theo kết quả xác minh về việc chấp
hành hình phạt phụ thể hiện bị cáo chưa nộp án phí và hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với hai tiền án này nên xác định là chưa được xóa án tích. Phạm
tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng
nặng quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo
còn có 01 tiền sự vào năm 2006 nhưng đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý
hành chính và 01 tiền án vào năm 2012 nhưng đã được xóa án tích. Điều này
thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, có ý thức coi thường pháp luật, đã bị
kết án nhưng không chịu sửa chữa lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản
thân để rèn luyện trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần
thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời
gian mới đảm bảo việc cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh
phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét bị cáo D tại cơ quan
điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình
phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị
cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các
tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề
nghiệp, hoàn cảnh khó khăn, bản thân sức khỏe yếu nên Hội đồng xét xử quyết
định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
\ [5] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo: do bị cáo khai
không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không
xác định được. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý là có
cơ sở.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ 1,613 gam ma tuý loại hêrôin - đây là chất
5
độc hại, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với chiếc điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI
357797061923868 thu giữ của bị cáo: quá trình điều tra xác định là của bị cáo,
dùng để liên lạc cá nhân và không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại
cho bị cáo.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án
phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý.
2. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Nguyễn Văn D 6 (sáu) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày
15/10/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối
với bị cáo Nguyễn Văn D.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) bì giấy đã niêm phong bên trong có chứa
1,613 gam ma tuý loại hêrôin, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị
cáo Nguyễn Văn D.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) chiếc điện thoại Nokia màu đen
đã qua sử dụng, có số IMEI 357797061923868.
Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng
ngày 06/9/2019 giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục thi hành án dân
sự quận Hai Bà Trưng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều
23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo
Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự
sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015, bị cáo Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
6
ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
-VKSND quận Hai Bà Trưng;
-VKSND TP Hà Nội;
- Toà án NDTP Hà Nội;
- Công an quận Hai Bà Trưng;
- Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Phương Thủy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm