Bản án số 29/2021/DS-PT ngày 19/01/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 29/2021/DS-PT ngày 19/01/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 29/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Tr, bà Bùi Thị N và ông Nguyễn Anh K; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 29/2021/DS-PT
Ngày 19 01 2021
V/v tranh chp quyn s dụng đất;
yêu cu hy hợp đồng chuyển nhượng
quyn s dụng đất; hy giy chng
nhn quyn s dụng đất, tháo d
vt kiến trúc giao đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thanh
Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Thành
Ông Võ Văn Khoa
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Hồng Nhung Thư Toà án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số:
256/2020/TLPT-DS ngày 17 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp quyền sử dụng
đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, tháo dỡ vật kiến trúc giao đất.
Do Bản án dân sự thẩm số: 04/2018/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm
2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thm s: 4124/2020/QĐ-PT
ngày 25/12/2020; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bùi Th Ngc H, sinh năm 1971; địa ch: 198 tnh l
823, p GC, th trn HN, huyện ĐH, tnh Long An; (có mt).
Người bo v quyn li ích hp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyn
Tiu L - Luật Công ty Lut Hợp danh Hùng Cường, thuc Đoàn luật tỉnh
Long An; (có mt).
2
- B đơn:
1. Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1943, (có mt);
2. Bà Bùi Th N, sinh năm 1949, (có mt);
Cùng địa ch: p BH1, xã ĐHT, huyện ĐH, tnh Long An;
Người đại din theo y quyn ca ông Tr N (theo Giy y quyn
ngày 07/12/2020): Ông Trn Thúc L1, sinh năm 1966; đa ch: 129/7B BVĐ,
Phường 6, Qun 4, Thành ph H Chí Minh; (có mt).
Người bo v quyn li ích hp pháp ca ông Tr N: Ông Phan
Thanh H1 Luật làm vic ti Công ty Lut TTHH Song Đức, thuc Đoàn
luật sư Thành phố H Chí Minh, (có mt).
3. Ông Nguyn Anh K, sinh năm 1967; địa ch: p BH1, xã ĐHT, huyn
ĐH, tnh Long An; (có mt).
Người bo v quyn li ích hp pháp ca ông K: Ông Ngô Vit B
Luật làm vic tại Văn phòng Luật Sài Gòn Tây Nguyên, thuc Đoàn luật
sư Thành phố H Chí Minh; (có mt).
- Người có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Thanh Ph, sinh năm 1974; địa ch: p BH2, xã ĐHT, huyn
ĐH, tnh Long An; (có mt).
2. y ban nhân dân huyện ĐH, tnh Long An; (xin vng mt).
Tr s: Ô5, Khu B, th trn HN, huyện ĐH, tnh Long An.
3. S Tài nguyên và Môi trường tnh Long An.
Người đại din theo y quyn ca S Tài nguyên Môi trường tnh
Long An (theo Giy y quyn ngày 12/9/2017): Ông Nguyn Hu G; địa ch:
137 Quc l 1A, Phường 4, thành ph TA, tnh Long; (xin vng mt).
4. Văn phòng Công chứng Đức Hòa (nay Văn phòng Công Chứng
Trần Văn Ch.
Người đại din theo pháp lut: Ông Trần Văn Ch, Trưởng Văn phòng;
(xin vng mt);
Địa ch: Đưng tnh 825, p BT1, xã ĐHH, huyện ĐH, tnh Long An.
Người làm chng:
1. Ông Bùi Văn R, sinh năm 1959; địa ch: S 15 Đưng s 4, Khu ph
6, phường TT, qun TĐ, Thành ph H Chí Minh; (có mt).
2. Ông Bùi Văn L2, sinh năm 1953; đa ch: S 679 p BH 1, xã ĐHT,
huyện ĐH, tnh Long An; (có mt).
3
3. Ông Bùi Văn Tr1, sinh năm1968; địa ch: S 178 p BH1, ĐHT,
huyện ĐH, tnh Long An; (có mt).
4. Bùi Th R1, sinh năm 1962; đa ch: S 342 Khu vc 5, th trn
ĐH, huyện ĐH, tnh Long An; (có mt).
5. Bùi Th Ph1, sinh năm 1964; đa ch: p 2, MHĐ, huyện ĐH1,
tnh Long An; (có mt).
7. Bà Bùi Th S, sinh năm 1966; đa ch: S 176 p BH1, xã ĐHT, huyn
ĐH, tnh Long An; (có mt).
- Người kháng cáo: B đơn ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N ông
Nguyn Anh K.
NI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/10/2016 trong quá trình tham gia tố
tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc H trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 161, tờ bản đồ số 20, ta lc ti ĐHT, huyn
ĐH, tnh Long An ông Nguyễn Văn Tr Bùi Thị N chuyển nhượng cho
ông Nguyễn Anh K, hiện ông K đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh
Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/2016, của cụ Bùi
Văn L3 cụ Huỳnh Thị M (là cha mẹ của H N); cụ L3 cụ M tặng
cho vào năm 1992 nhưng việc tặng cho không lập giấy tờ. Sau khi được tặng
cho, không trực tiếp canh tác cho ông Tr N thuê canh tác, việc cho
thuê cũng không lập văn bản, ông Tr bà N trả công thuê bằng hoa lợi canh tác
được là lúa hoặc rơm cho ăn. Năm 2005, ông Tr N không canh tác nữa
nên cho người anh thứ năm ông Bùi n R2 thuê canh tác lúa; từ năm
2010 đến nay, bà cho ông Lê Thanh Ph thuê canh tác lúa đến khi ông Tr và bà N
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông K thì ông Ph trồng cỏ.
Khi Nhà nước chủ trương đăng đ được cấp giấy chứng nhận
quyền sđất, đi đăng nhưng lại được UBND huyện ĐH cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng thửa đất số 159, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.000m
2
tọa lạc
tại ấp BH1, xã ĐHT, huyện ĐH là thửa đất mà ông Trbà N được cụ L3cụ
M tặng cho đang sử dụng, nhưng không biết việc cấp nhầm thửa. Đến khi
ông Tr và bà N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông K thì ông Tr, bà N có
báo cho bà biết việc cấp quyền sử dụng đất nhầm thửa giữa hai thửa đất số 161
của bà và thửa 159 của bà N. Để chuyển đổi lại quyền sử dụng đất, bà và ông Tr,
N thỏa thuận đến gặp cán bộ địa chính ĐHT để lập thủ tục chuyển đổi.
Tuy nhiên, đến ngày hẹn thì ông Tr N cho rằng việc cấp quyền sử dụng
không nhầm thửa nên không đồng ý lập thủ tục chuyển đổi. Ngày 18/02/2016,
làm đơn khiếu nại gửi UBND huyện ĐH. Trong khi chờ văn bản trả lời của
4
UBND huyện ĐH thì ngày 29/04/2016 ông Tr, N đã hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất số 161 cho ông Nguyễn Anh K. Ngày
11/7/2016, ông K được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong đơn khởi kiện ngày 27/10/2016, bà H yêu cầu Tòa án xem xét hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Tr, N ông K; hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Anh K; công nhận quyền
sử dụng thửa đất số 161 cho bà H.
Sau đó, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà H yêu cầu Tòa án xác
định quyền sdụng thửa đất số 161 của H; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Tr, N ông K; yêu cầu ông K tháo dỡ
nhà tạm, giao quyền sử dụng đất cho để đi đăng lại quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tr
không còn hiệu lực nên không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ông Tr được cấp tại thửa đất số 161 trước khi ông Tr chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông K.
Tại các Biên bản lấy lời khai ngày 14/11/2016, ngày 18/11/2016 các
lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn Tr Bùi
Thị N trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 161 H đang tranh chấp của cha mẹ ruột
của N cụ Bùi Văn L3 cụ Huỳnh Thị M cho vchồng N, ông Tr vào
năm 1999, cùng với việc phân chia quyền sử dụng đất cho các anh chị em khác.
Khi cho đất, cụ L3 chỉ vị trí đất xác định thửa đất cho N ông Tr là thửa
đất số 161. Do các chị em của H gồm các Bùi Thị Ph1, Bùi Thị R1, Bùi
Thị S không có nhu cầu sử dụng đất nên đã chuyển nhượng lại cho ông Tr
N. Vì vậy, khi đăng đđược cấp giấy chứng nhận quyền sử đất thì cụ L3
người đăng đông Tr được cấp quyền sdụng đất đối với phần đất ông
Tr, bà N được cho đối với phần đất nhận chuyển nhượng của Ph1, R1
Sương. Sau khi được cho đất, ông Tr N trực tiếp sử dụng canh tác
trồng lúa. Khoảng 10 năm trở lại đây, do sức khỏe không tốt nên ông Tr N
không trực tiếp canh tác mà cho ông R2, ông Ph thuê. H người trực tiếp
cho ông R2 thuê, đối với ông Ph thì ông Tr và N cho thuê nhận tiền thuê
đất, thời gian cho thuê ông Tr bà N không nhớ cụ thể.
Còn phần đất cụ L3 cụ M cho H đám a trên, giáp với đất
của bà BĐ về hướng Tây, hướng Đông giáp với đất của ông Tr và bà N, bà H đã
tiến hành đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1998 trước khi ông
Tr được cấp quyền sử dụng.
5
Vào tháng 4/2016, ông Tr N lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho ông Nguyễn Anh K. Khi xác lập giao dịch đặt cọc với ông K, ông
Tr bà N dự định chuyển nhượng các thửa 159, 160 và 546 nhưng do thửa 159
H đang đứng tên nên ông Tr N yêu cầu H về để lập thủ tục đổi
thửa 159 do H đứng tên lấy thửa 161 do ông Tr đứng tên để cho H sử
dụng, đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thủa 161 nhằm mục đích để
H đường đi thuận tiện hơn nhưng bà H không về, không đồng ý làm thủ
tục chuyển đổi nên ông Tr N lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 161
cho ông K. Bùi Thị Ngọc H cho rằng thửa đất số 161 của H không
đúng, không việc UBND huyện ĐH cấp nhầm thửa nên ông Tr N
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại Biên bản làm việc ngày 21/8/2017 và Biên bản hòa giải ngày
09/10/2017, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh K do ông
Nguyễn Minh Th đại diện trình bày:
Vào ngày 29/4/2016, ông Nguyễn Anh K hợp đồng nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng các thửa đất số 160, 161 546 của ông Nguyễn Văn Tr
Bùi Thị N; hợp đồng được Văn phòng công chứng Đức Hòa chứng thực
theo Hợp đồng số công chứng 6231, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD, với giá
chuyển nhượng khoảng 2,5 tỷ đồng. Hiện nay, ông K đã tiến hành xây dựng
công trình trên đất. Việc ông Tr, bà N và bà H đề nghị hoán đổi giữa hai thửa đất
số 161 và thửa 159 phía ông K hoàn toàn không biết.
Trước đó ông K và ông Tr, bà N xác lập giao dịch đặt cọc. Trong hợp
đồng đặt cọc ngày 23/12/2015, ông K ông Tr, bà N thỏa thuận chuyển
nhượng các thửa 159 160, 546 mà không có nhận chuyển nhượng thửa 161. Tuy
nhiên, do thửa đất số 159 không giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai
bên không tiếp tục thủ tục chuyển nhượng thửa 159. Ông K không đồng ý với
khởi kiện của H yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa
đất số 161, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K.
Trong trường hợp Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 161 giữa ông K
ông Tr, bà N lập tại Văn phòng công chứng Đức Hòa theo Hợp đồng số công
chứng 6231, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/4/2016 thì phía ông K
không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu. Các bên sẽ tự
thỏa thuận giải quyết với nhau, trường hợp không thương lượng thỏa thuận được
thì các bên sẽ tranh chấp trong vụ án khác.
Tại các Văn bản ngày 06/7/2017 ngày 24/10/2017, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh Ph trình bày:
6
Vào tháng 5/2010, ông có thuê phần diện tích 3.963m
2
đất thuộc thửa đất
số 161, tờ bản đồ số 20, của bà Bùi Thị Ngọc H để canh tác trồng lúa, giá thuê
mỗi năm 2.000.000 đồng, ông thanh toán tiền đầy đủ cho H. Trong quá
trình canh tác sử dụng đất, không bất kỳ ai tranh chấp hay ngăn cản. Cách
đây khoảng 02 năm, khi ông Tr N chuyển nhượng đất cho ông K tông
không canh tác trồng lúa nữa; sau đó, ông trồng cỏ chăn nuôi nhưng do
nước ngập nên hiện nay cỏ đã chết không còn. Ông chỉ là người thuê đất để canh
tác, việc H tranh chấp với ông Tr, bà N ông K thì ông không ý kiến gì,
ông không yêu cầu trong ván. Đồng thời, khi Tòa án tiến hành hòa giải,
ông không tham gia nhưng ông không yêu cầu Tòa án tiến hành a giải lại
yêu cầu xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án kể cả khi Tòa
án hòa giải và xét xử. Ông sẽ thực hiện đúng quyết định có hiệu lực của Tòa án.
Tại Văn bản số 4942/UBND-NC ngày 28/7/2017, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan UBND huyện ĐH trình bày:
UBND huyện ĐH cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 482740
cho Bùi Thị Ngọc H ngày 04/02/1998 đối với diện tích 3.000m
2
thửa số 159,
tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ĐHT là căn cứ vào danh sách những hộ đủ điều
kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Hội đồng đăng xét cấp
giấy chứng nhận của ĐHT thông qua tại Biên bản ngày 29/11/1997 T
trình ngày 29/11/1997 của UBND ĐHT về việc phê duyệt cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Ttrình số 3/TT.R.GCN ngày 05/02/1998 của Phòng
Địa chính Quyết định số 39/QĐ.UB ngày 04/02/1998 của UBND huyện ĐH
về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đơn vị ĐHT 821
nhân có tên trong danh sách, trong đó có hộ Bùi Thị Ngọc H, số thứ tự 32.
UBND huyện ĐH cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ
2251 QSDĐ/0714-LA cho ông Nguyễn Văn Tr ngày 17/7/1999 với tổng diện
tích 15.833m
2
gồm các thửa đất 160, 161, 546, 587 599, tbản đồ số 20
21, tọa lạc tại ĐHT căn cứ vào danh sách những hộ đủ điều kiện cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Hội đồng đăng xét cấp giấy chứng
nhận của ĐHT thông qua tại Biên bản ngày 12/7/1999 T trình ngày
12/7/1999 của UBND ĐHT về việc phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, Tờ trình số 09/TT.RĐ.GCN của Phòng Địa chính Quyết định số
680/QĐ.UB ngày 17/7/1999 của UBND huyện ĐH về việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho đơn vị ĐHT 187 nhân tên trong danh sách,
trong đó có hộ ông Nguyễn Văn Tr, số thứ tự 42.
UBND huyện ĐH thống nhất theo Báo cáo số 177/BC-TT ngày
06/6/2016 của Thanh tra huyện ĐH. UBND huyện ĐH cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Tr thửa đất số 161, diện tích 3.963m
2
7
thửa số 159 diện tích 3.000m
2
cho Bùi Thị Ngọc H cùng tờ bản đồ số 20
ĐHT là không đúng chủ sử dụng đất thực tế. Trước yêu cầu khởi kiện của
H đối với ông Tr, N ông K, UBND huyện ĐH đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật. Tại Văn bản ngày 22/9/2017, người đại diện hợp
pháp của UBND huyện ĐH có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Tại Văn bản số 2264/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 11/8/2017, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An trình bày:
Ngày 11/7/2016, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 492115 cho ông Nguyễn Anh K đối với
thửa đất số 161, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.963m
2
tọa lạc tại ấp BH1, ĐHT,
huyện ĐH, tỉnh Long An trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị N ông Nguyễn Anh K được Văn phòng
Công chứng Đức Hòa công chứng ngày 29/4/2016, số công chứng 6231, quyền
số 03TP/CC-SCC/HĐGD. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Anh K được thực hiện đúng theo quy định của Luật Đất đai các văn
bản hướng dẫn thi hành.
Về việc tranh chấp giữa các bên, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo
quy định của pháp luật. Tại các Văn bản ngày 13/9/2017 ngày 11/01/2018,
người đại diện hợp pháp của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An yêu
cầu vắng mặt trong quá trình Tòa án hòa giải và xét xử vụ án.
Tại Văn bản ngày 25/7/2017, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn
phòng Công chứng Đức Hòa trình bày:
Ngày 29/4/2016, Văn phòng Công chứng Đức Hòa nhận được yêu
cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Văn Tr, Bùi Thị N với ông Nguyễn Anh K, cụ thể ông Tr N chuyển
nhượng cho ông K diện tích đất 13.159m
2
tại các thửa 160, 161, 546, tờ bản
đồ số 20, với giá chuyển nhượng 50.000.000 đồng với scông chứng 6231,
quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD. Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đúng trình tự, quy định của pháp luật về công chứng, đúng ý
chí tự nguyện cũng như cam kết của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, các
đương sự không yêu cầu công chứng viên xác minh thẩm định thửa đất tài
sản trên đất. Văn phòng Công chứng Đức Hòa đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật. Vì lý do bận công việc nên Văn phòng Công chứng
Đức Hòa xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Những người làm chứng gồm:
1. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/3/2017, cụ i n L3 trình bày
như sau: Cụ cha ruột của Bùi Thị Ngọc H bà Bùi Thị N. Trước đây, cụ
8
có cho quyền sử dụng đất cho các con, đất được chia chung cho 5 người con gái,
trong đó 3 người con đã chuyển nhượng đất lại cho bà N, riêng thửa đất ông cho
ông Tr N hiện H tranh chấp đúng của ông Tr N, lúc cho do
nước ngập không canh tác được; thửa đất cụ cho bà H thửa đất bằng phẳng
đầu phía trên chính thửa 159 H cho rằng UBND huyện ĐH cấp nhầm
cho bà H. Cụ L3 xác định thửa đất của người nào thì người đó kê khai cấp quyền
sử dụng đất không có việc cấp nhầm quyền sử dụng đất như lời trình bày của
H.
2. Bùi Thị Ph1 Bùi Thị R1 trình bày: Ph1, R1 con của
cụ L3 cụ M. Trước đây 5 người con gái của cụ L3 được cha mẹ chia chung
1,5ha đất trên khu bưng, còn những người con trai được chia đất khu khác,
do đất cho chung nên bà Ph1, R1 không biết vị t chính xác, sau đó thì
chuyn nhượng lại cho ông Tr N. Ph1 R1 kết hôn sống riêng
nên không biết cụ thể phần đất H tranh chấp với N, ông Tr của ai
nên không có ý kiến gì.
3. Ông Bùi Văn R, ông Bùi Văn L2, ông Bùi Văn R2, ông Bùi Văn Tr1
trình y: Các ông con của cụ L3 cụ M, phần diện tích đất bà H đang
tranh chấp với ông Tr, bà N được cụ L3 cụ M cho H vào năm 1992 din
tích khong 30 cao, H trc tiếp canh tác, sau đó cho ông R2 thuê vào năm
2005, t năm 2010 cho ông Ph thuê, v tđất đám a sát kênh, giáp đt ca
ông Tr.
4. Bùi Th S trình bày: con ca c L3 c M, phần đất H
tranh chp ca bà N đưc c L3 tng cho, do N trc tiếp s dng, thửa đất
H đưc cp quyn s dụng đúng tha đất ca H không phi thửa đất
đưc cp giy chng nhn quyn s dụng đất cho bà N.
Ti Bn án dân s thẩm s: 04/2018/DS-ST ngày 15/01/2018, Tòa án
nhân dân tnh Long An đã quyết định:
1. Chp nhn yêu cu khi kin tranh chp quyn s dụng đt gia
nguyên đơn bà Bùi Th Ngc H vi b đơn ông Nguyễn Văn Tr và bà Bùi Th N.
Xác định quyn s dng thửa đất s 161, t bản đồ s 20, ta lc ti
ĐHT, huyện ĐH, tnh Long An din tích theo giy chng nhn quyn s dng
đất 3.963m
2
, diện tích đo đc thc tế 4.052m
2
theo Tch đo địa chính s
199-2017 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú ngày 13/3/2017 được
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai ti huyện ĐH phê duyt ngày 10/5/2017,
là ca bà Bùi Th Ngc H.
9
2. Chp nhn yêu cu khi kin ca bà Bùi Th Ngc H yêu cu hy mt
phn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dng đất gia ông Nguyễn Văn Tr, bà
Bùi Th N vi ông Nguyn Anh K.
Hy mt phn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất được xác lp
ngày 29/4/2016 gia ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N ông Nguyn Anh K,
đưc chng nhn của Văn phòng Công chứng Đức Hòa s công chng 6231,
quyn s 03TP/CC-SCC/HĐGD đối vi thửa đất s 161 t bản đồ s 20.
3. Chp nhn yêu cu ca Bùi Th Ngc H yêu cu hy giy chng
nhn quyn s dụng đất ca ông Nguyn Anh K.
Hy Giy chng nhn quyn s dụng đất s 492115 ngày 11/7/2016
do S Tài nguyên Môi trường tnh Long An cp cho ông Nguyn Anh K đối
vi thửa đất s 161, t bản đồ s 20, địa ch: ĐHT, huyện ĐH, tnh Long An,
din tích 3.963m
2
.
Bùi Th Ngc H đưc liên h với quan Nhà c thm quyn
để đưc cp quyn s dụng đất theo quy đnh ca pháp lut v đất đai đối vi
thửa đất s 161, t bản đồ s 20.
4. Chp nhn yêu cu khi kin ca Bùi Th Ngc H yêu cu ông
Nguyn Anh K tháo d vt kiến trúc tr đất li cho bà Bùi Th Ngc H.
Buc ông Nguyn Anh K tháo d công trình được xây dng trên din
tích 4.052m
2
đt thuc tha s 161 t bản đồ s 20 gm mt nhà tm din tích
3.5m x 5.2m để giao tr quyn s dụng đất cho Bùi Th Ngc H để Bùi
Th Ngc H đưc quyn s dng.
Theo Trích đo địa chính s 199-2017 của Công ty TNHH đo đạc nhà đt
Hưng Phú ngày 13/3/2017 đưc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ti huyn
ĐH pduyt ngày 10/5/2017 thì 4.052m
2
đt thuc tha 161 v trí tiếp giáp
như sau: Đông giáp bờ kênh dài 28.7m; 19.3m; 15.1m; 34.4m; Tây giáp tha s
160 dài 32.7m; 17.1m; 19m; 43.7m; Nam giáp tha s 185 dài 38.1m; Bc giáp
đường đất dài 3.2m; 4.9m; 26.9m; 4.5m.
5. V chi phí t tng, án phí:
+ Bùi Th Ngc H phi chu 1.700.000 đồng chi phí thu thp chng
c. S tin này bà H đã nộp xong.
+ Bùi Th N, ông Nguyễn Văn Tr liên đới chu 11.050.000 đồng chi
phí đo đạc, định giá, chi phí xem xét thẩm định ti ch. Ông Nguyn Anh K phi
chu 11.050.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, chi phí xem xét thẩm đnh ti
ch. Toàn b s tin này H đã nộp tm ng, ông Tr, N ông K phi np
lại để hoàn tr cho bà H.
10
+ Bùi Th Ngc H không phi chu án phí dân s thẩm. Hoàn tr
cho H s tin tm ng án phí đã nộp 5.150.000 đồng theo Biên lai thu s
0000420 0000421 cùng ngày 27/10/2016 ca Cc Thi hành án dân s tnh
Long An.
+ Ông Nguyễn Văn Tr Bùi Th N phải liên đới chu 300.000 đồng
án phí tranh chp quyn s dụng đất 300.000 đồng án phí hy hợp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đất, tng cng là 600.000 đồng.
+ Ông Nguyn Anh K phi chu 300.000 đng án phí tháo d vt kiến
trúc giao quyn s dụng đất 300.000 đồng án phí hy hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất, tng cng là 600.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cp thẩm còn tuyên v quyn của người được thi
hành án, nghĩa v của người phi thi hành án quyn kháng cáo theo quy định
pháp lut.
Ngày 15/01/2018, b đơn ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N và ông
Nguyn Anh K đơn kháng cáo yêu cu Tòa án phúc thm xét x theo hướng
bác toàn b yêu cu khi kin của nguyên đơn.
Ti Bn án dân s phúc thm s: 286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018, Tòa
án nhân dân cp cao ti Thành ph H Chí Minh quyết định:
Chp nhn yêu cu kháng cáo ca ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N
ông Nguyn Anh K. Sa toàn b Bn án dân s thẩm s: 04/2018/DS-ST
ngày 15/01/2018 ca Tòa án nhân dân tnh Long An:
Tuyên x:
1. Bác yêu cu khi kin tranh chp quyn s dụng đất gia nguyên đơn
bà Bùi Th Ngc H vi b đơn ông Nguyễn Văn Trbà Bùi Th N.
2. Bác yêu cu khi kin ca Bùi Th Ngc H u cu hy mt phn
hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất gia ông Nguyễn Văn Tr, Bùi
Th N vi ông Nguyn Anh K.
3. Bác yêu cu ca Bùi Th Ngc H yêu cu hy Giy chng nhn
quyn s dụng đất ca ông Nguyn Anh K.
4. Bác yêu cu khi kin ca Bùi Th Ngc H yêu cu ông Nguyn
Anh K tháo d vt kiến trúc tr lại đất cho bà Bùi Th Ngc H.
5. V chi phí t tng:
Bùi Th Ngc H phi chịu 1.700.000 đồng chi phí thu thp chng c,
s tin này H đã np xong. Bùi Th Ngc H phi chịu 22.100.000 đồng
11
chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm đnh ti ch, toàn b s tin này H đã
np tm ng.
6. V án phí:
+ Án phí thẩm: Bùi Th Ngc H phi chịu 300.000 đồng án phí
tranh chp quyn s dụng đất, 300.000 đng án phí hy hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất, 300.000 đng án phí hy giy chng nhn quyn s
dụng đất và 300.000 đng án phí tháo d vt kiến trúc giao quyn s dụng đt,
tng cng 1.200.000 đồng. Được cn tr vào s tiền 5.150.000 đồng H đã
tm np theo Biên lai s 0000420 0000421 cùng ngày 27/10/2016 ca Cc
Thi hành án dân s tnh Long An. Bà H đưc nhn li s tiền 3.950.000 đồng.
+ Án phí phúc thm: Bà Bùi Th Ngc H phi chịu 300.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N ông Nguyn Anh K, mỗi người
đưc nhn li 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu s: 0001124;
0001125; 0001126 cùng ngày 19/01/2018 ti Cc Thi hành án dân s tnh Long
An.
Sau khi xét x phúc thm, Bùi Th Ngc H đơn đề ngh xem xét
theo th tục giám đốc thẩm đối vi bn án dân s phúc thm nêu trên.
Ti Quyết định giám đốc thm s: 11/2020/DS-GĐT ngày 14/02/2020,
Hội đồng Thm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định:
Chp nhn Quyết định kháng ngh giám đc thm s: 82/2019/KN-DS
ngày 27/11/2019 ca Chánh án Tòa án nhân dân ti cao.
Hy Bn án dân s phúc thm s: 286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 ca
Tòa án nhân dân cp cao ti Thành ph H Chí Minh; giao h vụ án cho Tòa
án nhân dân cp cao ti Thành ph H Chí Minh xét x li theo th tc phúc
thẩm, đúng quy định ca pháp lut.
Ti phiên tòa xét x li theo th tc phúc thm:
Người kháng cáo b đơn ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N ông
Nguyn Anh K vn gi nguyên yêu cu kháng cáo.
Nguyên đơn bà Bùi Th Ngc H vn gi nguyên yêu cu khi kin.
Luật sư Phan Thanh H1 bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn
ông Nguyễn Văn Tr và bà Bùi Th N trình bày:
Trong quá trình gii quyết v án, c Bùi Văn L3 đã khai rất rõ ràng là c
đã chia đất cho các con vào năm 1992, 05 người con gái được cho chung mt
khu đất din tích khoảng 15 cao, trong đó bà Bùi Th Ngc H là con út nên được
ưu tiên cho phần đất cao trồng được lúa. Cụ L3 xác định, sau khi được chia cho
12
thửa đất của người nào thì người đó khai được cấp quyền sử dụng đất,
không việc cấp nhầm quyền sdụng đất như lời trình bày của H. Thêm
nữa, cụ L3 còn xác định cụ thể là cụ đã cho ông Nguyễn Văn Tr thửa 161 và cho
Bùi Thị Ngọc H thửa 159. Lời khai của cụ L3 với nội dung như trên phù hợp
với lời khai của các đương sự khác vthời điểm cho đất, diện tích vị trí đất
được cho, cách thức cho, nên phải được xem là chứng cứ quan trọng của vụ án.
Mặt khác, qua xem xét lời khai của bà Bùi Thị Ngọc H tại Biên bản
phiên tòa phúc thẩm ngày 11/9/2018 thể hiện bà H không biết vị trí thửa đất của
mình nằm đâu nên không sở để cho ông Bùi Văn R2 ông Thanh
Ph thuê đất thửa 161. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/9/2018, H khai biết
việc cấp nhầm thửa do UBND huyện nói; thế nhưng trước đó, tại phiên
tòa thẩm, bà H khai biết việc cấp nhầm thửa vào năm 2015 khi ông Tr đi xác
minh. Trong khi đó, vào năm 2015, bà H đã dùng thửa đất số 159 mà bà đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất để thế chấp vay tiền Ngân hàng Nông
nghiệp Phát triển nông thôn Chi nhánh khu vực Đức Hòa nên không thể nói
rằng bà H không biết thửa 159 là thửa đất của mình. Về vấn đề này cần phải xác
minh thu thập hồ sơ thế chấp vay tiền tại Ngân hàng để làm rõ.
H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 159 trước khi
ông Tr được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 161 hơn một năm
đều được quan thẩm quyền tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy
định. Qua đó thấy rằng, Công văn số 202/UBND-NC ngày 12/7/2016 Công
văn số 4942/UBND-NNC ngày 28/7/2017 của UBND huyện ĐH chỉ dựa vào lời
khai của người thuê đất, lời khai của các anh ruột H dựa vào việc ông Tr
hứa chuyển nhượng đất cho ông K theo Báo cáo số 177/BC-TTr ngày 06/6/2016
của Thanh tra huyện ĐH để xác định việc cấp giấy cho ông Tr, bà H không đúng
chủ sử dụng là chưa đủ căn cứ.
Do cần phải xác minh, thu thập chứng cứ làm rõ các vấn đề nêu trên nên
đề nghị Hội đồng xét xphúc thẩm hủy bn án thẩm chuyển hồ vụ án
cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Luật Ngô Vit B bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn ông
Nguyn Anh K trình bày:
H vụ án đủ tài liu, chng c xác định, vào năm 1992, c Bùi
Văn L3 đã phân chia đt cho các con. Ti Biên bn v vic xác minh thửa đất
161 ngày 15/01/2016, ni dung th hin, khi chia đt cho các con, c L3
lập đồ, bn v giao cho ông Châu địa chính làm giy t. Qua xem xét Biên
bn v vic xét cp giy chng nhn quyn s dụng đất theo mu Trung ương
năm 1997 nhận thy, Hội đồng xét cp giy chng nhn quyn s dụng đất
ĐHT ông Hu Ch1 (ông Ch1 địa chính) tham gia, trong khi đó ông Ch1
13
lại là người được c L3 lp h sơ bản vgiao cho làm giy t v các thửa đất
mà c L3 đã cho các con. C L3 cũng người trc tiếp đi đăng đ ông Tr
đưc cp giy chng nhn quyn s dụng đt đối vi thửa đất ông Tr
N đưc cho c phn đất ông Tr bà N đã nhn chuyển nhượng ca Ph1,
R1 Sương. Sau khi được cho đt, ông Tr N đã trực tiếp s dng
canh tác trng lúa ti tha 161 các tha nhn chuyển nhượng; không tài
liu, chng c nào chng minh vic H cho ông Tr N thuê tha đất 161
t năm 1992 đến năm 2005; v vic ông R2, ông Ph thuê thửa đt 161 ca H
không có văn bản, giy t, chng c chứng minh. Trong khi đó, vic c L3 khai
cho H tha 159 thửa đất này cao trồng được lúa nên ưu tiên chia cho H
con gái út là phù hp vi phong tc, tp quán tại địa phương. Với các tài liu,
chng c như trên đủ cơ s xác định, c L3 đã chia cho N và ông Tr thửa đt
161 và chia cho bà H thửa đất 159, ông Tr và bà H đã được cp giy chng nhn
đúng các thửa đất được cho.
Hợp đồng đặt cc ngày 23/12/2015 ni dung ông Tr, N bán cho
ông K thửa đất 159 là vì ông Tr và bà N muốn đổi tha 161 cho bà H để bà H
đường đi thuận tiện hơn, nhưng H không v thc hin vic này, nên ông Tr,
N lp hợp đồng chuyển nhượng cho ông K đúng thửa đất thuc quyn s
dng hp pháp ca h tha 161. Theo Án l s 39/2020/AL được Hội đồng
thm phán Tòa án nhân dân ti cao thông qua ngày 13/8/2020, đ sở để
xác định Hợp đồng đặt cc nêu trên hiệu do điều kin không xy ra, nên Tòa
án không th da vào ni dung Hợp đồng đặt cọc ngày 23/12/2015 đ làm cơ sở
gii quyết v án.
Mt khác, vic ông K nhn chuyển nhượng thửa đt 161 ca ông Tr
N thuộc trường hợp người th ba ngay tình nên H không quyền đòi
li thửa đất này theo quy định ti khoản 3 Điều 133 B lut Dân s năm 2015.
Hơn nữa, bà H khi kin yêu cu hy giy chng nhn quyn s dụng đất mà S
Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An đã cp cho ông K đối vi thửa đất 161
thuc tng hợp đã hết thi hiu khi kiện theo quy định tại Điều 9 Lut
Khiếu nại năm 2011 khoản 2 Điều 104 ca Lut t tụng Hành chính năm
2010.
T nhng phân tích nêu trên, Luật sư đề ngh Hội đồng xét x phúc thm
chp nhn kháng cáo ca ông Nguyn Anh K, sa bản án thẩm theo hướng
bác toàn b yêu cu khi kin ca bà H.
Luật sư Nguyn Tiu L bo v quyn và li ích hp pháp của nguyên đơn
Bùi Th Ngc H trình bày:
H sơ v án đã có đủ tài liu, chng c xác định c L3 đã chia cho H
thửa đất 161. Ngay sau khi được cho, bà H đã qun lý thửa đất 161, cho bà N
14
ông Tr thuê đến năm 2005, sau đó cho ông R2 thuê đến năm 2010 ông Ph
thuê cho đến khi xy ra tranh chp. Thửa đất s 161 là thuc quyn s dng hp
pháp ca bà H nhưng UBND huyện ĐH cp giy chng nhn quyn s dụng đất
cho ông Tr, còn H không s dng thửa đất s 159 mà thửa đất này do ông Tr
N s dụng nhưng H lại được cp giy chng nhn quyn s dụng đt.
Tại Công văn s 4942/UBND-NNC ngày 28/7/2017, UBND huyện ĐH đã xác
định vic cp giy chng nhn quyn s dụng đt cho bà H, ông Tr và bà N như
trên không đúng đối tượng s dụng đất thc tế đề ngh Tòa án gii quyết
theo quy đnh ca pháp lut. Tòa án cấp thẩm xét x chp nhn toàn b yêu
cu khi kin ca bà H là có căn c. Các b đơn là ông Tr, bà N và ông K kháng
cáo nhưng không tình tiết, chng c nào mới nên đề ngh Hội đồng xét x
bác kháng cáo ca các b đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bo v quyn li ích hp pháp ca ông Tr bà N đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án thẩm chuyển hồ vụ án cho Tòa
án cấp thẩm giải quyết lại theo thủ tục thẩm, nhưng không đưa ra được
do, căn cứ xác thực nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Luật Ngô Vit B bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn ông
Nguyn Anh K trình bày đối đáp: Ông Ph khai thuê thửa đất 161 ca bà H nhưng
không văn bản, tài liu nào chng minh. Trong khi đó, ông Ph thuê đất ca
ông Tr và bà N li lập văn bản thuê đất rt rõ ràng. Qua đó thấy rng li khai ca
ông Ph không đảm bo tính khách quan nên không th ly làm chng c gii
quyết v án.
Kim sát viên tham gia phiên tòa phúc thm phát biểu quan điểm ca
Vin kiểm sát đối vi vic gii quyết v án:
V vic tuân theo pháp lut t tng trong quá trình gii quyết v án
giai đon phúc thm: Thm phán - Ch ta phiên tòa, Hội đồng xét x và các
đương sự đã thực hin đúng theo các quy định ca B lut T tng dân s.
V kháng cáo ca b đơn ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N ông
Nguyn Anh K:
H vụ án đủ tài liu, chng c xác định, vào năm 1992, c L3 đã
chia cho H thửa đất 161 thửa đất này thuc quyn s dng hp pháp ca
H nhưng UBND huyện ĐH li cp giy chng nhn quyn s dụng đất cho
ông Tr N không đúng đối tượng s dụng đất. vy, Hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đt đưc xác lp ngày 29/4/2016 gia ông Tr, N
ông K hiu, nên giy chng nhn quyn s dụng đất đã cp cho ông K đối
vi thửa đất s 161 không đúng căn cứ theo quy đnh pháp luật. Qua đó nhận
thy, Tòa án cấp thẩm đã xét x chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca
15
H phù hp vi các tài liu, chng c ca v án, căn cứ, đúng quy định
pháp luật, nên đ ngh Hội đồng xét x phúc thm không chp nhn kháng cáo
ca các b đơn ông Tr, N, ông K và không chp nhn ý kiến, quan điểm đ
ngh ca các Luật bảo v quyn li ích hp pháp ca các b đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị N ông
Nguyễn Anh K nộp trong thời hạn đúng thủ tục theo quy định của pháp luật
nên hợp lệ; được xem xét theo thủ tục phúc thẩm:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp,
thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và thủ tục theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự
2015 thì tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai thuộc
trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Trong vụ án này, các quan hệ
tranh chấp đều xuất phát liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng thửa đất số
161, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã ĐHT, huyện ĐH, tỉnh Long An, được Tòa án
cấp thẩm thụ giải quyết trong cùng một vụ án theo yêu cầu khởi kiện của
H bảo đảm cho vụ án được giải quyết triệt để, toàn diện đúng quy định
pháp luật. Trong đó, Tòa án cấp sơ thẩm thụ giải quyết yêu cầu của H về
việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Long An cấp cho ông K đối với thửa đất số 161 là đúng quy định tại
Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua đó xét thấy, việc Luật bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp cho ông K căn cứ vào Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011
khoản 2 Điều 104 của Luật tố tụng Hành chính năm 2010 để cho rằng yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Long An đã cấp cho ông K đối với thửa đất 161 của bà H thuộc trường hợp đã
hết thời hiệu khởi kiện, là không đúng.
[2] Về nội dung:
Trong vụ án này, các đương sự đều thống nhất xác định thửa đất số 161,
tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã ĐHT, huyện ĐH, tỉnh Long An diện tích theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 3.963m
2
, diện tích đo đạc thực tế 4.052m
2
,
nguồn gốc là của cụ Bùi Văn L3 (chết năm 2019) cụ Huỳnh Thị M (chết
năm 2005). Bùi Thị Ngọc H Bùi Thị N chị em ruột, cùng con của
cụ L3cụ M. Còn ông Nguyễn Văn Tr là chồng của bà N.
16
H cho rằng được cha mcho thửa đất số 161 từ năm 1992. Tuy
nhiên, ông Tr N lại cho rằng H được cha mẹ cho thửa đất số 159
diện tích 3000m
2
, còn thửa đất số 161 thì cha mẹ cho ông Tr N. Qua xem
xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[2.1] Mặc dù, tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/3/2017, cụ L3khai đã
cho N thửa đất số 161, cho H thửa đất số 159. Đồng thời, bị đơn ông Tr,
N, ông K Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho các bị đơn cũng
cung cấp các tài liệu cho Tòa án cấp phúc thẩm để chứng minh việc cụ L3 còn
nhiều lần xác nhận là đã cho N thửa đất số 161, cho H thửa đất số 159
phía bị đơn đã ghi âm hoặc thu thập được. Thế nhưng, lời khai, sự xác nhận của
cụ L3 với nội dung như trên lại mâu thuẫn với lời khai của cụ L3 tại Biên bản
xác minh ngày 15/01/2016 của UBND ĐHT với nội dung, nay cụ đã 92 tuổi,
già yếu nên không nhớ đã cho ai thửa đất nào. Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn còn cho rằng, sau khi chia đất cho
các con, cụ L3 người trực tiếp đi đăng để ông Tr được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất ông Tr và bà N được cho và cả phần
đất ông Tr và bà N đã nhận chuyển nhượng của bà Ph1, R1 và bà Sương. Tuy
nhiên, qua xem xét hcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND
huyện ĐH cung cấp cho Tòa án, trong đó thửa đất số 161 đứng tên ông Tr,
không đơn đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không xác
định được ai người đã khai để cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
161. vậy, không thể căn cứ vào lời khai của cụ L3 đxác định thửa đất 161
đã được cụ L3cụ M cho bà H hay cho bà N và ông Tr.
[2.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Tr N cho rằng sau khi
được cha mẹ cho thửa đất số 161, ông đã sử dụng, sau đó cho ông Thanh
Ph thuê đất, nhưng ông Ph lại khai ông thuê đất của H, nên lời khai này của
ông Tr và bà N không có cơ sở.
[2.3] Đồng thời, xét việc ông Tr và bà N cho rằng bà H được cha mcho
thửa đất số 159 diện tích 3000m
2
, còn thửa đất số 161 thì cha mẹ cho ông Tr
và bà N như sau:
[2.3.a] Trên thực tế, thửa đất 159 giáp với thửa đất số 546 diện tích
2.092m
2
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tr, N
ông đã phá bờ, ranh giới thửa đất số 159 để nhập vào thửa đất số 546. Khi
thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng đất cho ông K thì ông Tr N đã chuyển
nhượng thửa đất số 159, thửa đất số 160 thửa đất số 546. Tuy nhiên, do thửa
đất số 159 đứng tên bà H nên ông Tr, N đã đề nghị H đổi thửa đất số 161
lấy thửa đất số 159 (đứng tên H). Khi biết thửa đất số 159 không phải của
17
mình, H đã khiếu nại. Tại Công văn số 202/UBND-NC ngày 12/7/2016,
UBND huyện ĐH đã trả lời cho H là việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Tr, bà H không đúng chủ sử dụng thực tế.
[2.3.b] Thêm nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, bà H cho rằng sau khi
nhận đất, cho bà N ông Tr thuê để canh tác đến năm 2005, sau đó cho ông
R2 thuê đến năm 2010 và cho ông Ph thuê đến nay. Lời khai này phù hợp với lời
khai của những người anh ruột của bà H. Tại phiên tòa thẩm, N thừa nhận
bà H cho ông R2 thuê thửa đất số 161 từ năm 2005 đến năm 2010, bà H là người
đứng ra nhận tiền thuê. Lời khai của ông R2 phù hợp với lời khai của bà H và
N. Ông Ph khai thuê đất của bà H và trả tiền cho bà H từ năm 2010 đến nay.
[2.3.c] Tại Công văn số 4942/UBND-NNC ngày 28/7/2017, UBND
huyện ĐH với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, ông Tr, N không đúng
đối tượng sử dụng đất thực tế và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật.
[2.3.d] Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên đủ căn cứ xác định thửa đất
số 161 do bà H quản lý, cho N và ông Tr thuê, sau đó cho ông R2 thuê đến
năm 2010 ông Ph thuê, nhưng UBND huyện ĐH cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Tr, còn H không sdụng thửa đất số 159 thửa đất
này do ông Tr và bà N sử dụng nhưng bà H lại được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, nên đủ sở xác định thửa đất số 161 thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của bà H.
[2.4] Trong quá trình khiếu nại, ngày 18/02/2016 H gửi đơn đến
UBND huyện ĐH đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
Tr do cấp đất sai vị trí, UBND huyện ĐH đã nhận đơn khiếu nại, đang tiếnnh
xem xét thì vào ngày 29/4/2016, ông Tr và bà N đã lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông K tại Văn phòng Công chứng Đức Hòa. Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất này đã hoàn tất, ông Tr N đã nhận tiền,
ông K đã được đứng tên đăng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 161, đã
nhận đất cất nhà tạm trên đất, nhưng giao dịch hợp đồng chuyển nhượng này
đã vi phạm quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 nên hiệu, H yêu
cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 161
căn cứ. vậy, Tòa án cấp thẩm đã áp dụng quy định tại Điều 425 Bộ luật
Dân sự năm 2005 luật đang hiệu lực pháp luật vào thời điểm xác lập giao
dịch để hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Tr N
với ông K đối với thửa đất số 161 tờ bản đồ số 20, hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mà Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An đã cấp cho ông K
buộc cầu ông K tháo dỡ phần nhà tạm đã cất giao trả đất cho bà H đúng.
18
[2.5] Đối với việc giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông K với ông Tr N, do ông K, ông Tr, N
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng khi Tòa án tuyên bố giao
dịch dân sự hiệu, hủy hợp đồng mặc đã được Tòa án cấp thẩm giải
thích hậu quả của hợp đồng trên nên Tòa án cấp thẩm không xem xét giải
quyết là đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.6] Đối với thửa đất số 159 tờ bản đồ s20, các đương sự không
tranh chấp, không yêu cầu đối với thửa đất này, việc cấp giấy chứng nhận
quyền sdụng đất do nhầm đối tượng sử dụng đất sẽ do Cơ quan quản Nhà
nước về đất đai tại địa phương xem xét xử theo quy định của pháp luật về
đất đai.
[2.7] Từ những phân tích nêu trên xét thấy, Tòa án cấp thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án,
có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Kháng o của ông Nguyễn Văn Tr, Bùi ThN ông Nguyễn
Anh K không có cơ sở, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với ý kiến,
quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của ông Tr, bà N và ông K; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[4] Những ý kiến, quan điểm của các Luật bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của bị đơn ông Tr, N ông K tại phiên tòa phúc thẩm do không
phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên
không được chấp nhận.
[5] Những ý kiến, quan điểm của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn bà H tại phiên tòa phúc thẩm do phợp với phân tích
nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
[6] Ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị N ông Nguyễn Anh K phải chịu
án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[7] Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 5 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân
sự khoản 1 Điều 136 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ
sung năm 2014, khi xét xlại ván thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải giải
quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo Bản án dân sự phúc thẩm số
286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh nhưng bị hủy, như sau:
[7.1] Tại Công văn số: 1042/CTHADS ngày 15/9/2020, Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Long An đã cung cấp thông tin về việc Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Long An đã căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 286/2018/DS-PT ngày
19
19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết
định chủ động thi hành án, cho thi hành khoản:
+ Án phí dân s sơ thẩm: Bà Bùi Th Ngc H phi chịu 300.000 đng án
phí tranh chp quyn s dụng đất, 300.000 đng án phí hy hợp đồng chuyn
nhượng quyn s dụng đất, 300.000 đng án phí hy giy chng nhn quyn s
dụng đất 300.000 đồng án phí tháo d vt kiến trúc giao quyn s dụng đất,
tng cộng 1.200.000 đồng. Được cn tr vào s tiền 5.150.000 đng H đã
tm np theo Biên lai s 0000420 0000421 cùng ngày 27/10/2016 ca Cc
Thi hành án dân s tnh Long An. Bà H đưc nhn li s tiền 3.950.000 đồng.
+ Án phí dân s phúc thm: Bà Bùi Th Ngc H phi chịu 300.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Th N ông Nguyn Anh K, mỗi người được nhn
lại 300.000đ (ba trăm ngàn đng) theo Biên lai thu s: 0001124; 0001125;
0001126 cùng ngày 19/01/2018 ti Cc Thi hành án dân s tnh Long An.
Cc Thi hành án dân s tnh Long An đã t chc thi hành xong khon
ch động ra quyết đnh thi hành án, c th:
+ Ngày 18/02/2019, Cc Thi hành án dân s tỉnh Long An đã kết chuyn
thu án pca Bùi Th Ngc H s tin 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tin
s 0009528 và đã nộp tin án phí vào Ngân sách Nhà nước theo quy định.
+ Ngày 18/02/2019, chi hoàn cho Bùi Th Ngc H 3.650.000 đồng,
chi chuyn khon theo y nhim chi lp ngày 18/02/2019.
+ Ngày 21/02/2019, chi hoàn cho ông Nguyễn Văn Tr 300.000 đồng
theo phiếu chi PC2019/00100.
+ Ngày 21/02/2019, chi hoàn cho Bùi Th N 300.000 đồng theo phiếu
chi PC2019/00098.
+ Ngày 21/02/2019, chi hoàn cho ông Nguyn Anh K 300.000 đồng theo
phiếu chi PC2019/00099.
[7.2] Hội đồng xét x phúc thm gii quyết vấn đề tài sản, nghĩa v đã
đưc Cc Thi hành án dân s tnh Long An thi hành theo Bn án dân s phúc
thm s 286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 ca Tòa án nhân dân cp cao ti
Thành ph H Chí Minh nhưng bị hy nêu trên, như sau:
[7.2a] Đối vi khon tiền 5.150.000 đồng tm ng án phí dân s thẩm
Bùi Th Ngc H đã np theo Biên lai thu s 0000420 0000421 cùng ngày
27/10/2016 ca Cc Thi hành án dân s tnh Long An:
Ti Bn án dân s thẩm s 04/2018/DS-ST ngày 15/01/2018 ca Tòa
án nhân tnh Long An đã quyết định: Bùi Thị Ngọc H không phải chịu án phí
dân sự thẩm. Hoàn trả cho H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.150.000
20
đồng theo Biên lai thu số 0000420 0000421 cùng ngày 27/10/2016 của Cục
Thi hành án dân sự tỉnh Long An. Tuy nhiên, do Cục Thi hành án dân stỉnh
Long An đã tổ chức thi hành xong các khoản tiền án phí dân sự thẩm án
phí dân sự phúc thẩm mà bà H phải nộp theo quyết định của Bản án dân sự phúc
thẩm số 286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, số tiền 5.150.000 đồng tạm ứng án phí H
đã nộp theo Biên lai thu số 0000420 và 0000421 cùng ngày 27/10/2016 của Cục
Thi hành án dân sự tỉnh Long An đã được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An
kết chuyển thu án phí của bà H 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số
0009528, số tiền còn lại 3.650.000 đồng đã chi hoàn cho bà H, chi chuyển khoản
theo Ủy nhiệm chi lập ngày 18/02/2019. vậy, Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Long An tiếp tục hoàn trả lại cho H số tiền 1.500.000 đồng theo Biên lai thu
số 0009528 ngày 18/02/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An do đã tổ
chức thi hành các khoản tiền án phí dân sự thẩm án phí dân sphúc thẩm
mà H phải nộp theo quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm số
286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh nhưng bị hủy.
[7.2b] Đối với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Văn
Tr, Bùi Thị N ông Nguyễn Anh K đã nộp, mỗi người 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng), theo các Biên lai thu số: 0001124; 0001125; 0001126 cùng ngày
19/01/2018 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An đã được Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Long An chi hoàn theo quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm số
286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh nhưng bị hủy, nên ông Tr, N ông K phải nộp lại để thi hành
khoản tiền án phí dân sự phúc thẩm các đương sự phải chịu theo quy định tại
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1- Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 5 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự
khoản 1 Điều 136 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung
năm 2014;
- Không chp nhn kháng cáo ca ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị N
ông Nguyễn Anh K; gi nguyên Bn án dân s thẩm s: 04/2018/DS-ST
ngày 15/01/2018 ca Tòa án nhân tnh Long An (có sửa đổi, b sung vic gii
21
quyết tin tm ng án phí ca các đương s đã được thi hành theo Bản án dân
sự phúc thẩm số 286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị hủy):
Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37, 38, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; các Điều 31, 32 Luật tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 425 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 188 Luật Đất đai năm
2013; Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí a án năm 2009; các Điều 27, 48 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc H với bị đơn ông Nguyễn Văn Tr và bà Bùi Thị N.
Xác định quyền sử dụng thửa đất số 161, tbản đồ số 20, tọa lạc tại
ĐHT, huyện ĐH, tỉnh Long An diện tích theo giấy chứng nhận quyền sdụng
đất 3.963m
2
, diện tích đo đạc thực tế 4.052m
2
theo Tch đo địa chính số
199-2017 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất ng Phú ngày 13/3/2017 được
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện ĐH pduyệt ngày 10/5/2017,
là của bà Bùi Thị Ngọc H.
1.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị Ngọc H yêu cầu hủy
một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tr,
Bùi Thị N với ông Nguyễn Anh K.
Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập
ngày 29/4/2016 giữa ông Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị N ông Nguyễn Anh K,
được chứng nhận của Văn phòng Công chứng Đức Hòa số công chứng 6231,
quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 161 tờ bản đồ số 20.
1.3. Chấp nhận yêu cầu của Bùi Thị Ngọc H yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Anh K.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 492115 ngày 11/7/2016
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Anh K đối
với thửa đất số 161, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: xã ĐHT, huyện ĐH, tỉnh Long An,
diện tích 3.963m
2
.
Bùi Thị Ngọc H được liên hệ với quan Nhà nước thẩm quyền
để được cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với
thửa đất số 161, tờ bản đồ số 20.
22
1.4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị Ngọc H yêu cầu ông
Nguyễn Anh K tháo dỡ vật kiến trúc trả đất lại cho bà Bùi Thị Ngọc H.
Buộc ông Nguyễn Anh K tháo dcông trình được xây dựng trên diện
tích 4.052m
2
đất thuộc thửa số 161 tbản đồ số 20 gồm một nhà tạm diện tích
3.5m x 5.2m để giao trả quyền sdụng đất cho Bùi Thị Ngọc H để Bùi
Thị Ngọc H được quyền sử dụng.
Theo Trích đo địa chính số 199-2017 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất
Hưng Phú ngày 13/3/2017 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện
ĐH pduyệt ngày 10/5/2017 thì 4.052m
2
đất thuộc thửa 161 vị trí tiếp giáp
như sau: Đông giáp bờ kênh dài 28.7m; 19.3m; 15.1m; 34.4m; Tây giáp thửa số
160 dài 32.7m; 17.1m; 19m; 43.7m; Nam giáp thửa s185 dài 38.1m; Bắc giáp
đường đất dài 3.2m; 4.9m; 26.9m; 4.5m.
1.5. Về chi phí tố tụng.
Bùi Thị Ngọc H phải chịu 1.700.000 đồng chi phí thu thập chứng cứ.
Số tiền này bà H đã nộp xong.
Bùi Thị N, ông Nguyễn Văn Tr liên đới chịu 11.050.000 đồng chi phí
đo đạc, định giá, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ông Nguyễn Anh K phải
chịu 11.050.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, chi pxem xét thẩm định tại
chỗ. Toàn bộ số tiền này H đã nộp tạm ứng, ông Tr, N ông K phải nộp
lại để hoàn trả cho bà H.
1.6. Về án pdân sự sơ thẩm:
+ Bùi Thị Ngọc H không phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả
cho H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.150.000 đồng theo Biên lai thu số
0000420 0000421 cùng ngày 27/10/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Long An.
Do số tiền 5.150.000 đồng tạm ứng án phí H đã nộp theo Biên lai thu
số 0000420 0000421 cùng ngày 27/10/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Long An đã được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An kết chuyển thu án phí
của bà H 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0009528, s tiền còn lại
3.650.000 đồng đã chi hoàn cho H, chi chuyển khoản theo Ủy nhiệm chi lập
ngày 18/02/2019. Nên Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An tiếp tục hoàn lại
cho bà H số tiền 1.500.000 đồng theo Biên lai thu số 0009528 ngày 18/02/2019
của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An do đã tổ chức thi hành các khoản tiền
án phí dân sự thẩm án phí dân sự phúc thẩm H phải nộp theo quyết
định của Bản án dân sự phúc thẩm số 286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị hủy.
23
+ Ông Nguyễn Văn Tr Bùi Thị N phải liên đới chịu 300.000 đồng
án phí tranh chấp quyền sử dụng đất 300.000 đồng án phí hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tổng cộng là 600.000 đồng.
+ Ông Nguyễn Anh K phải chịu 300.000 đồng án ptháo dỡ vật kiến
trúc giao quyền s dụng đất 300.000 đồng án phí hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, tổng cộng là 600.000 đồng.
- Án phí dân s phúc thm:
+ Ông Nguyễn Văn Tr phi chịu 300.000 đồng;
+ Bà Bùi Thị N phi chịu 300.000 đồng;
+ Ông Nguyễn Anh K phi chịu 300.000 đồng;
Do số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Văn Tr, bà Bùi
Thị N và ông Nguyễn Anh K đã nộp, mỗi người 300.000đ (ba trăm ngàn đồng),
theo các Biên lai thu số: 0001124; 0001125; 0001126 cùng ngày 19/01/2018 tại
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An đã được Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Long An chi hoàn theo quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm số
286/2018/DS-PT ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh nhưng bị hủy, nên ông Tr, N ông K phải nộp lại để thi hành
khoản tiền án phí dân sự phúc thẩm các đương sự phải chịu mỗi người 300.000
đồng nêu trên.
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với c trường
hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể
từ ngày đơn u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự m
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b,
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bn án phúc thm hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án ngày 19
tháng 01 năm 2021./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
24
- VKSND cấp cao tại TP.HCM ;
- Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
- VKSND tỉnh Long An;
- Cục THADS tỉnh Long An;
- Các đương sự;
- Lưu (29b).
Đỗ Đình Thanh
Tải về
Bản án số 29/2021/DS-PT Bản án số 29/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất