Bản án số 287/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 287/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 287/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 287/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp đất H-T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 287/2026/DS-PT Bản án số 287/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 287/2026/DS-PT Bản án số 287/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 287/2026/DS-PT
Ngày 23-9-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hữu Trường
Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Ông Trịnh Văn
Thảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2026/TLPT-DS ngày 05
tháng 8 năm 2026 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2026/DS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng bị kháng cáo toàn bộ.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 260/2026/QĐ-PT ngày
19 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 363/2026/QĐ-PT ngày 04
tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; căn cước công dân số
************; địa chỉ: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà H: Ông Vũ Thành Đ, sinh năm 2001; căn
cước công dân số: ***********; địa chỉ: Thôn C, xã Q, tỉnh Quảng Ninh, là
người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 02/7/2026); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Văn M
và ông Võ Thúc Đ1; đều là Luật sư Văn Phòng L, Đoàn Luật sư thành phố H; địa
chỉ: Tầng E, phòng E, nhà C khu tập thể T, phường G, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bị đơn:
+ Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1964; căn cước công dân số: ************,
địa chỉ: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2
+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1966; căn cước công dân số
************; địa chỉ: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông T, bà T1: Ông Chu Thanh N, sinh năm
1969; căn cước công dân số: ************; địa chỉ: Thôn K, xã P, thành phố Hải
Phòng, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 05/11/2025); có
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; căn cước công dân số:
************; địa chỉ: Số D đường B, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; có
mặt.
+ Ông Đào Thanh P, sinh năm 1971; căn cước công dân số: ************;
địa chỉ: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Cụ Đỗ Văn T2, sinh ngày 04/12/1939; căn cước công dân số:
************, địa chỉ: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nội dung
kháng cáo:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bố mẹ bà là cụ Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1943 (chết ngày 21/11/1992)
và cụ Nguyễn Thị V, sinh năm 1942 (chết ngày 21/03/2001). Hai cụ có 02 con
chung là bà Nguyễn Thị H và em gái bà là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976. Trong
thời kỳ hôn nhân, bố mẹ bà có tài sản chung là quyền sử dụng diện tích đất 540
m
2
, thửa 405, tờ bản đồ số 16 (theo bản đồ đo vẽ năm 1986), địa chỉ thửa đất:
Thôn N, xã Đ, huyện K, Hải Dương (nay là thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng),
đứng tên chủ sử dụng đất là cụ Nguyễn Thị V. Thửa đất này chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Bố mẹ bà không ở trên thửa đất này mà ở thửa đất
đối diện qua đường xóm. Bà ở cùng bố mẹ bà đến năm 1992, bà đi lấy chồng và
sinh sống ở nhà chồng. Đến năm 1999, bà về nhà bố mẹ đẻ bà sinh sống ở đó đến
nay. Bà H1 ở cùng bố mẹ bà đến năm 1997 thì vào miền N sinh sống. Bố mẹ bà
chết không để lại di chúc. Khi bố mẹ bà còn sống, hai cụ có cho nhà ông T, bà T1
ở nhờ thửa đất số 405 từ thời gian nào bà không nhớ. Trước khi ông T, bà T1 ở
trên thửa đất này, trên đất chưa có nhà cửa, chỉ có các bụi tre và ao thả bèo. Khi
ông T về sinh sống thì ông T làm nhà đất lợp mái rạ để ở, sau đó ông T mua thêm
phần đất của Hợp tác xã, khoảng sau năm 2000 thì ông T xây nhà ở. Khi còn sống
bố mẹ bà không truyền đạt gì về việc mua bán, chuyển nhượng đất cho ông T. Bà
xác định toàn bộ diện tích thửa đất số 405 này là của bố mẹ bà, là di sản thừa kế
3
của bố mẹ bà để lại, chưa chia. Nay bà có nhu cầu làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 405, bà mới được biết diện tích đất này hiện chỉ còn
116 m
2
đứng tên cụ Nguyễn Thị V, phần diện tích đất 424 m
2
đã được đứng tên
ông Đỗ Văn T, hiện diện tích 424 m
2
này được gộp vào thửa đất số 182, diện tích
504 m
2
, bản đồ đo vẽ năm 2007. Năm 2025 ông T cố tình xây mới tường bao trên
thửa đất. Do đó, bà yêu cầu Tòa án buộc ông T, bà T1 phải trả bà và em gái bà
diện tích đất 424 m
2
nêu trên.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn ông T, bà T1 trình bày:
Năm 1985, bố mẹ ông là cụ Đỗ Văn T2 và cụ Vũ Thị H3 (chết năm 1995)
có mua của cụ Nguyễn Xuân H2 và cụ Nguyễn Thị V một phần ao (thửa đất ao số
277 và 278 theo bản đồ đo vẽ năm 1993), địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã Đ, huyện
K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng). Khi mua bán, hai
bên chỉ mốc giới để địa chính đo đạc để xác định vào bản đồ, còn không xây mốc
giới để phân định ranh giới giữa 2 bên, không xác định được diện tích bao nhiêu.
Sau khi mua, bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông sử dụng ngay từ năm 1985. Vợ
chồng ông đã tiến hành san lấp một phần ao để làm nhà bằng tường đắp đất, mái
lợp rạ. Đến năm 1989, vợ chồng ông có mua một phần diện tích đất của Hợp tác
xã và nhập làm một khu đất thống nhất để quản lý và sử dụng, ổn định từ đó đến
nay.
Khi có chủ trương đo đạc lại diện tích đất của các hộ gia đình, giữa bố mẹ
ông cùng vợ chồng ông và cụ V đã thống nhất chỉ mốc giới cho cán bộ đo đạc để
xác định phần diện tích đất ao của gia đình ông nhận chuyển nhượng của cụ
Nguyễn Thị V. Trên cơ sở đó cả hai gia đình đều đăng ký sử dụng phần diện tích
đất của mình. Đối với giấy tờ mua bán đất ao giữa bố mẹ ông và vợ chồng cụ V
thì bố mẹ ông giao cho ông quản lý. Tuy nhiên do việc quản lý giấy tờ không tốt
nên giấy tờ đã bị thất lạc.
Từ khi nhận chuyển nhượng đất của cụ Nguyễn Thị V cho đến nay, vợ
chồng ông đã san lấp, xây dựng nhà, đào giếng khơi, xây bể nước ăn, công trình
phụ, bếp nấu ăn, chuồng trại chăn nuôi và đổ đất san lấp mặt bằng ao làm vườn
để trồng rau và cây ăn quả. Trong suốt quá trình sử dụng từ khi nhận chuyển
nhượng đất ao cho đến nay đã 40 năm, vợ chồng cụ V (khi còn sống) và các
thành viên trong gia đình cụ V không ai có ý kiến gì, giữa hai bên không có
tranh chấp, khiếu kiện.
Tại bản đồ đo đạc năm 1993 và sổ mục kê năm 1993 đã thể hiện thửa 277,
278 là diện tích đất ao thuộc quyền sử dụng của ông Đỗ Văn T. Ông bà xác định
không lấn chiếm diện tích đất ao của cụ Nguyễn Thị V nên ông bà không chấp
nhận yêu cầu của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà thừa nhận nội dung bà H trình bày là đúng. Ngoài ra bà trình bày bổ
sung: Bố bà - cụ Nguyễn Xuân H2 là bộ đội, tham gia quân ngũ từ năm 1962 đến
năm 1973, cụ bị quân địch tiêm thuốc và tra tấn không còn tỉnh táo minh mẫn,
4
phải điều trị tại Khu điều dưỡng tâm thần kinh - Sở Lao động Thương binh và xã
hội tỉnh H từ năm 1973 đến năm 1992. Tháng 11/1992, tình trạng sức khoẻ của cụ
H2 xấu đi, bệnh nặng hơn, bác sỹ có chỉ định cho về nhà và cụ mất vào ngày
21/11/1992. Việc cụ H2 đồng ý bán đất cho gia đình ông T là không đúng vì cụ
điều trị thần kinh tại Cơ sở y tế, không thường xuyên có mặt tại gia đình, cụ cũng
không đủ tỉnh táo, minh mẫn để xác lập giao dịch mua bán đối với thửa đất. Vậy,
đề nghị Tòa án buộc gia đình ông Đỗ Văn T phải trả lại diện tích đất 424 m
2
đã
lấn chiếm, sử dụng trái phép của gia đình bà nay thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ
số 23 địa chỉ thửa đất: thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng đứng tên mẹ bà là cụ
Nguyễn Thị V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Đỗ Văn T2 trình bày:
Ông Đỗ Văn T là con trai cụ. Không nhớ vào năm nào cụ mua đất ao của
cụ V, đã thanh toán hết tiền cho cụ V, không nhớ diện tích, số tiền cụ thể. Sau khi
mua xong, cụ đã khai báo với chính quyền, cụ và cụ V đã làm thủ tục nhận mốc
giới để cán bộ xã đo, làm thủ tục tách thửa và cụ đã cho vợ chồng ông T sử dụng.
Cụ không có tranh chấp gì thửa đất này với ông T, bà T1.
Lời khai của những người làm chứng:
- Ông Ngô Văn T3 trình bày: Ông là hàng xóm với bà H và ông T, giáp nhà
bà H và cách nhà ông T khoảng 50m. Ông sinh sống ở đây từ nhỏ. Cụ V (mẹ đẻ
bà H) có thửa đất ao giáp với ao nhà ông. Ông không nhớ năm nào, ông T ra khu
vực đất hiện đang tranh chấp sinh sống. Trước đó, giữa cụ V với cụ T2 (bố ông T)
thỏa thuận với nhau như thế nào thì ông không biết, nhưng ông T ra đó làm nhà
tranh, vách đất trên một thẻo đất ở một góc ao, phía sau nhà ông T so với ngõ đi
hiện giờ có ao nông, trồng cây khoai nước. Sau đó, ông T mua được một phần đất
của Hợp tác xã, cách đây khoảng hơn chục năm thì ông T xây nhà mái bằng hiện
đang ở. Ao cụ V dùng để thả bèo. Thửa đất ao nhà cụ V theo ông nắm được là có
2 ao, 1 ao để trồng khoai nước như nêu trên, ao còn lại sâu hơn để thả bèo. Trên
thực tế ông chưa thấy thửa đất ao này được chia làm 3 ao như trong bản đồ đo vẽ
năm 1994 mà ông được cán bộ Tòa án cho xem, hai thửa đất số 276 và 277 chính
là 1 ao sâu thả bèo, còn thửa 278 là khu ao nông trồng khoai nước, không ai thả
cá. Xung quanh ao là bờ đất, trồng tre, không xây bờ ao xung quanh ao.
- Ông Trần Văn S trình bày: Ông S trình bày như lời khai của ông T3 và bổ
sung ý kiến: Trước đây, giáp với sau bếp nhà ông T hiện tại (nhà lợp ngói
proximang) có 01 rãnh thoát nước của xóm trong chảy ra ao nông trồng khoai
nước. Sau này ông T lấp ao thì chuyển rãnh thoát nước của xóm ra như hiện tại.
Năm 2024, ông T và bà H san lấp ao thì xảy ra tranh chấp.
- Ông Nguyễn Văn Đ2 trình bày: Ông ở đối diện nhà ông T, là người được
ông T thuê xây lại bức tường gạch chỉ dài khoảng 10m vào đầu năm 2025. Vị trí
này trước đây là bức tường gạch pabanh, cao hơn 1m, ông T giữ lại móng gạch
pabanh để xây tường gạch chỉ lên. Bức tường gạch chỉ mới hoàn toàn nằm trên
móng gạch pabanh cũ, không xây dài thêm so với chiều dài móng gạch pabanh.
5
Tại Biên bản xác minh, ông Nguyễn Tuấn A - Chuyên viên phòng Kinh tế
UBND xã K cung cấp:
Theo bản đồ đo đạc hoàn thành năm 1987, diện tích đất hiện đang tranh
chấp giữa bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Văn T thuộc thửa số 405, tờ bản đồ số 16;
địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương (Nay là thôn N, xã K, thành phố
Hải Phòng). Tại sổ mục kê năm 1987 thể hiện thửa đất số 405 mang tên chủ sử
dụng là V (tên đầy đủ là Nguyễn Thị V – là mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị H), diện
tích 540 m
2
, loại đất ao, nhưng trên sổ mục kê được ghi là mã đất T (Đất ở), do sai
sót trong quá trình kê khai loại đất nên có sự không trùng khớp, thửa đất trên đúng
là đất ao vào thời điểm lập bản đồ đo đạc năm 1987.
Theo bản đồ đo đạc năm 1994, thửa đất số 405 được chia làm 3 thửa, thửa
số 276, thửa số 277 và thửa số 278, tờ bản đồ số 02.
Theo sổ mục kê: thửa số 276 đứng tên cụ Nguyễn Thị V, diện tích là 116
m
2
, loại đất A (đất ao); thửa số 277, diện tích 137 m
2
, loại đất A (đất ao), đứng tên
ông Đỗ Văn T; thửa đất số 278, diện tích 119m
2
, loại đất A (đất ao), đứng tên ông
Đỗ Văn T.
Toàn bộ tài liệu liên quan đến các thửa đất nêu trên, Phòng đã cung cấp cho
Tòa án nhân dân khu vực 10- Hải Phòng, năm 1987 thửa đất đứng tên cụ Nguyễn
Thị V; bản đồ và sổ mục kê năm 1994, thửa đất ao được đo tách làm 3 thửa, là
thửa 276 đứng tên cụ Nguyễn Thị V, thửa 277 và 278 đứng tên ông Đỗ Văn T.
Ngoài tài liệu là bản đồ và sổ mục kê và các tài liệu đã cung cấp cho tòa án, theo
hồ sơ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã Đ cũ (nay là xã K) không có giấy tờ liên
quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất từ cụ Nguyễn Thị V sang ông Đỗ Văn T.
Vào thời điểm năm 2007, việc thực hiện đo đạc hiện trạng sử dụng đất, về
mốc giới các chủ sử dụng đất liền kề phải tự nhận và thống nhất mốc giới với
nhau, chỉ mốc giới cho đơn vị đo đạc và địa phương trên thực tế sử dụng thửa đất
thì mới có thể tiến hành đo, nếu các chủ sử dụng đất có tranh chấp, trên bản đồ sẽ
được đánh dấu là đất có tranh chấp. Hiện thửa đất số 182 và thửa số 160, tờ bản
đồ số 23; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương (theo bản đồ đo vẽ
2007) đều chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại biên bản xác minh, ông Lưu Văn H4 - nguyên công chức địa chính xã Đ
cung cấp: Nguồn gốc các thửa đất cũng như ông Tuấn A cung cấp trên. Năm
1994, khi đoàn đo đạc bản đồ 202 của tỉnh Hải Hưng tiến hành đo đạc để lập bản
đồ địa chính, thời điểm đó không có cán bộ địa chính đi cùng nhưng đoàn đo đạc
có yêu cầu các chủ sử dụng đất liền kề phải tự nhận và thống nhất mốc giới với
nhau, chỉ mốc giới cho đơn vị đo đạc và địa phương trên thực tế sử dụng thửa đất
thì mới có thể tiến hành đo được, nếu như các chủ sử dụng đất có tranh chấp thì
trên bản đồ sẽ được đánh dấu là đất có tranh chấp.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện:
6
Diện tích đất của thửa 405 theo bản đồ đo vẽ năm 1987, không còn là ao,
mà một phần do bà H san lấp năm 2024, một phần ông T san lấp năm 2024. Đoạn
tường dài 10,7m, gạch chỉ xây 110, do ông T xây dựng tháng 3/2025. Bức tường
này xây từ giáp nhà bếp cũ của ông T dọc theo đường bê tông, dài 10,7m, móng
của bức tường này là 3 hàng gạch pabanh của móng tường pabanh cũ, do ông T
xây từ năm 2002, đến năm 2025, ông T phá tường cũ, để đổ san lấp bổ sung vào
ao đã san lấp nhưng còn trũng, sau đó xây bức tường gạch chỉ trên nền móng gạch
pabanh cũ.
Kết luận của Hội đồng định giá tài sản: Đất tranh chấp đang do ông T, bà
T1 đang quản lý và sử dụng, giá trị: 1.710.500.000 đồng (Ngoài ra còn các tài sản
khác được định giá chi tiết như trong Biên bản định giá ngày 03/12/2025).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2026/DS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng căn cứ các điều 26, 35, 39, 147,
157, 158, 165, 166, 186, 227, 228, 229, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 612 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 138 Luật đất đai 2024; mục 2.2 Nghị quyết số
02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về
việc buộc gia đình ông Đỗ Văn T phải trả lại diện tích đất 424 m
2
đã lấn chiếm, sử
dụng trái phép của gia đình bà, nay thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 23 địa chỉ
thửa đất: thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng đứng tên mẹ bà là cụ Nguyễn Thị V.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ
thẩm, quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đề
nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, buộc gia đình ông Đỗ Văn T4 và bà Nguyễn Thị Thanh T5
quyền sử dụng 424m
2
đất lấn chiếm đang sử dụng trái phép tại địa chỉ thôn N, xã
K, thành phố Hải Phòng; về án phí: Đề nghị xem xét lại phần án phí dân sự sơ
thẩm 63.315.000 đồng mà bản án dân sự sơ thẩm buộc bà H phải nộp theo đúng
quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo là nguyên đơn bà Nguyễn Thị H
giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và yêu cầu bổ sung: Do Tòa án cấp sơ thẩm
xác định diện tích thửa 276 là 79 m
2
không đúng, thiếu 37m
2
đối với diện tích của
thửa 276 là 116m
2
nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án theo hướng buộc vợ
chồng ông T, bà T1 phải trả lại cho bà diện tích thửa 276 còn thiếu 37m
2
. Bị đơn
vẫn giữ nguyên quan điểm như cấp sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về việc trả lại diện tích 424m
2
đất; bị đơn đồng ý tự nguyện trả lại
cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2, cụ V diện tích 37m
2
còn thiếu của thửa 276.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1, ông P đồng ý với quan điểm của
nguyên đơn bà H.
7
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng
các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ
khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ
thẩm. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà H không được chấp nhận nên bà H
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Miễn toàn bộ
án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là
tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, nơi có bất động sản tại thôn N, xã K,
thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 10 - Hải Phòng theo quy định tại Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/5/2025
của Quốc hội. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan cụ Đỗ Văn T2 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn
cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử theo thủ tục chung.
[3] Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đúng quy định pháp luật
nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:
+ Về nội dung kháng cáo yêu cầu bị đơn ông T, bà T1 trả lại đất:
[4] Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp: Căn cứ vào lời khai của
các đương sự, người làm chứng và tài liệu lưu giữ tại chính quyền địa phương, có
căn cứ xác định: Diện tích đất đang tranh chấp (thửa 277, 278) thuộc thửa đất số
405 diện tích 540 m
2
, loại đất ao, đăng ký chủ sử dụng là V (theo sổ mục kê năm
1987 và bản đồ đo vẽ năm 1986) thuộc quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Xuân
H2 và cụ Nguyễn Thị V. Hồ sơ địa chính xác định loại đất thực tế là đất ao, việc
sổ mục kê ghi mã đất T (đất ở) là do sai sót trong quá trình kê khai loại đất.
[5] Về xác định diện tích và vị trí thửa đất đang tranh chấp: Tại biên bản
xác minh tại chính quyền địa phương xác nhận:
8
[5.1] Việc thay đổi tổng diện tích giữa các bản đồ đo vẽ năm 1986, 1994,
2007 là do sai số trong quá trình đo đạc, tính toán thủ công. Hiện tại việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các gia đình, cá nhân trên địa bàn xã
sẽ căn cứ theo hồ sơ đo đạc năm 1986 để xác định nguồn gốc sử dụng đất và căn
cứ theo hồ sơ đo đạc năm 1994 để xác định diện tích sử dụng đất hợp pháp của
các thửa đất, sau đó căn cứ theo hồ sơ đo đạc năm 2007 để xác định sự biến đổi
trong quá trình sử dụng đất đối với phiếu đo đạc chỉnh lý các thửa đất do cơ quan
có thẩm quyền xác nhận. Như vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào hồ sơ đo đạc năm
1994 để xác định diện tích đất sử dụng hợp pháp của các thửa đất.
[5.2] Theo bản đồ đo đạc năm 1994: Thửa 279, tờ bản đồ số 2, diện tích
289m
2
đăng ký tên chủ sử dụng đất ông Đỗ Văn T; thửa đất do vợ chồng ông T,
bà T1 mua của hợp tác xã có nguồn gốc là thửa đất số 535, tờ bản đồ số 16 theo
bản đồ đo đạc năm 1986. Thời điểm ông bà mua của hợp tác xã, diện tích đất là
216m
2
; việc diện tích đất thửa 279 tăng lên là do một phần thửa 405 gộp sang nên
cần xác định thửa 279 có diện tích thực tế là 216m
2
, ký hiệu S1 có vị trí A5, A6,
B3, B2, A16, A1, A2, A3, A4, A5 (có sơ đồ kèm theo); phần diện tích đất tăng lên
là của một phần thửa 405.
[5.3] Thửa đất số 405, tờ bản đồ số 16, đo đạc năm 1986 được tách làm 3
thửa gồm: thửa số 276, thửa số 277 và thửa số 278, tờ bản đồ số 02 đo đạc năm
1994. Trong đó: thửa số 276 đứng tên cụ Nguyễn Thị V, diện tích là 116 m
2
, loại
đất A (đất ao) hiện do bà H, con đẻ cụ V đang quản lý, sử dụng; diện tích đất đang
tranh chấp là: thửa số 277, diện tích 137 m
2
, loại đất A (đất ao) và thửa đất số
278, diện tích 119m
2
, loại đất A (đất ao) đều ghi tên ông Đỗ Văn T, hiện do vợ
chồng ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng. Tại phiên tòa các đương sự xác nhận
thửa 276 có diện tích là 116m
2
như bản đồ đo đạc năm 1994 nên cần xác định
thửa 276 có diện tích 116m
2
, ký hiệu S2 có vị trí B4, A9, A10, A11, A12, A13,
B1, B4 (có sơ đồ kèm theo).
[5.4] Theo Kết quả xem xét, thẩm định, tổng diện tích đất hiện trạng của
thửa 276, 277, 278, 279 là 604,6 m
2
nên cần xác định diện tích đất đang tranh
chấp (thửa 277, 278) là 604,6m
2
- 216m
2
- 116m
2
= 272,6m
2
, ký hiệu S3 có vị trí
B4, B1, A14, A15, B2, B3, A7, A8, B4; phần diện tích đất 277, 278 tăng thêm là
phù hợp với biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, phù hợp với hiện
trạng đất và hồ sơ đất đai qua các thời kỳ (có sơ đồ kèm theo). Như vậy, không có
căn cứ xác định diện tích tranh chấp (thửa 277, 278) là 424m
2
như lời khai của bà
H.
[6] Về diễn biến quá trình sử dụng đất:
[6.1] Lời khai của bà H, bà H1 trình bày: Sau khi được cấp đất, cụ Nguyễn
Xuân H2 và cụ Nguyễn Thị V không ở trên diện tích đất đang tranh chấp mà ở
thửa đất đối diện qua đường xóm cho đến khi hai cụ chết (cụ H2 chết ngày
21/11/1992, cụ V chết ngày 21/03/2001). Bà H về sinh sống cùng cụ V trên diện
tích đất đối diện từ năm 1999, bà H1 sinh sống ở nơi khác. Bà H và bà H1 đều
9
khẳng định không có việc mua bán đất giữa vợ chồng cụ V và vợ chồng cụ T2,
ông T mà chỉ cho vợ chồng ông T ở nhờ, thời điểm đó trên đất không có nhà cửa,
chỉ có các bụi tre và ao thả bèo. Sau khi ông T về sinh sống, ông T làm nhà đất
lợp mái rạ để ở, sau đó mua thêm phần đất của Hợp tác xã; khoảng sau năm 2000,
ông T xây nhà và các công trình trên đất để ở.
[6.2] Tuy nhiên, lời khai của vợ chồng ông T, bà T1 và cụ T2 xác nhận năm
1985, bố mẹ ông bà là cụ Đỗ Văn T2 và cụ Vũ Thị H3 có mua của cụ Nguyễn
Xuân H2 và cụ Nguyễn Thị V một phần ao là thửa đất ao số 277 và 278 đang
tranh chấp theo bản đồ đo vẽ năm 1993, sau đó bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông
quản lý, sử dụng diện tích đất trên nhưng giấy tờ chuyển nhượng đất ông T, bà T1
đã làm thất lạc, vợ chồng ông bà và cụ T2 không xuất trình được giấy tờ mua bán
đất.
[6.3] Xác nhận tại chính quyền địa phương thể hiện theo hồ sơ lưu trữ tại
Ủy ban nhân dân xã Đ cũ (nay là xã K) không có giấy tờ lưu trữ liên quan đến
việc chuyển quyền sử dụng đất từ cụ Nguyễn Thị V sang ông Đỗ Văn T nhưng
thực tế gia đình cụ H2, cụ V và các con của hai cụ không sinh sống trên thửa đất
này mà gia đình ông T đã quản lý, sử dụng thửa đất ổn định, lâu dài từ thời điểm
hai cụ H2 và cụ V còn sống (trước thời điểm cụ H2 chết ngày 21/11/1992). Trong
quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông T và bà T1 đã tôn tạo, đổ đất san lấp một
phần ao, làm nhà đất lợp mái rạ để sinh sống, sau đó ông bà tháo dỡ nhà lợp mái
rạ, làm vườn để trồng rau, cây ăn quả, xây dựng nhà kiên cố và các công trình trên
đất như đào giếng khơi, xây bể nước ăn, công trình phụ, bếp nấu ăn, chuồng trại
chăn nuôi, xây bức tường gạch pabanh ngăn cách giữa ao và đường xóm.... Ông T
và bà T1 đã sử dụng nhà và công trình trên đất ổn định, lâu dài và đăng ký kê khai
quyền sử dụng đất năm 1994 đứng tên ông Đỗ Văn T. Cụ H2, cụ V, bà H, bà H1
biết và không có ý kiến gì về việc xây nhà, quản lý, sử dụng đất của ông T, bà T1.
[6.4] Do đó, căn cứ vào các điều 221, 187, 182, 184 của , Tòa án cấp sơ
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc vợ chồng ông T,
bà T1 phải trả cho bà diện tích đang tranh chấp (thửa 277, 278) là đúng quy định
pháp luật.
[7] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 276 có diện tích 79m
2
(thiếu 37m
2
so với diện tích đất 116m
2
), thửa đất đang tranh chấp (thửa 277, 278)
có diện tích 342,1m
2
(bao gồm cả 37m
2
của thửa 276) là không đúng, xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị
đơn thừa nhận khi sử dụng đất các bên chưa xác định được mốc giới nên thực tế
bị đơn đã dử dụng một phần diện tích đất thửa 276 của nguyên đơn; nay nguyên
đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận bị đơn ông T, bà T1 trả lại cho hàng thừa kế
thứ nhất của cụ V, cụ H2 là bà H, bà H1 diện tích đất 37m
2
còn thiếu của thửa
276, vợ chồng ông T, bà T1 tự nguyện tháo dỡ phần tường bao xây dựng trên diện
tích 37m
2
còn thiếu của thửa 276 từ điểm A13 đến B1 (có sơ đồ kèm theo) và
không yêu cầu bồi thường nên cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm, chấp
nhận một phần yêu cầu của bà H về việc buộc bị đơn ông T, bà T1 trả lại cho
10
hàng thừa kế thứ nhất của cụ V, cụ H2 là bà H, bà H1 diện tích đất 37m
2
còn thiếu
của thửa 276.
+ Về nội dung kháng cáo sửa án phí dân sự sơ thẩm:
[8] Xét thấy đây là vụ án tranh chấp về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng
đất (tranh chấp về quyền sử dụng đất) nên nguyên đơn bà H phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm
buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 63.315.000
đồng là không đúng quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều
27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Do đó, cần sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu
kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm theo khoản
2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà H được
chấp nhận một phần nên bà H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định pháp luật. Ông T, bà T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
pháp luật, ông T và bà T1 là người cao tuổi và đề nghị miễn án phí dân sự phúc
thẩm nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều
309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị H:
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2026/DS-ST ngày 22 tháng 6
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, 186, 227, 228, 229,
235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 221, 187, 182, 184, 612 ;
Căn cứ Điều 26, 138 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
H: Buộc vợ chồng ông Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị T1 trả lại cho hàng thừa kế
thứ nhất của cụ H2, cụ V là bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1 diện tích đất
11
còn thiếu của thửa 276 là 37m
2
, ký hiệu S2' có vị trí B4, A9, A10, A13, B1, B4.
Vợ chồng ông T, bà T1 tự nguyện tháo dỡ phần tường bao xây dựng trên diện tích
37m
2
trên từ điểm A13 đến B1 (vị trí, kích thước đất và tường bao có sơ đồ kèm
theo).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về
việc buộc gia đình ông Đỗ Văn T phải trả lại diện tích đất thuộc thửa đất số 182,
tờ bản đồ số 23 (trước đây là thửa 277, 278 theo bản đồ đo đạc năm 1994 có diện
tích hiện trạng thực tế là 272,6m
2
), địa chỉ thửa đất: thôn N, xã K, thành phố Hải
Phòng đứng tên cụ Nguyễn Thị V.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị H chịu toàn bộ chi phí xem xét,
thẩm định và định giá sơ thẩm là 6.200.000 đồng, đối trừ với số tiền bà H đã nộp
tạm ứng 10.000.000 đồng, còn 3.800.000 đồng trả lại bà H (Bà H nhận số tiền này
tại TAND khu vực A-Hải Phòng). Ông Đỗ Văn T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí
thẩm định tại chỗ phúc thẩm là 5.000.000 đồng, ông T đã nộp đủ số tiền
5.000.000 đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị H chịu 300.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm. Bà H đã nộp 7.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai số 0002682 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 26/9/2025.
Hoàn trả bà H 7.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà H không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả bà H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000759 ngày 21/7/2026 tại Thi hành án dân
sự thành phố Hải Phòng. Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đỗ Văn
T và bà Nguyễn Thị T1.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
Thi hành án dân sự./.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Hải Phòng;
- THADS thành phố Hải Phòng;
- TAND khu vực 10 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 10 - Hải Phòng;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 287/2026/DS-PT Bản án số 287/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 287/2026/DS-PT Bản án số 287/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất