Bản án số 285/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 285/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 285/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 285/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về quyền sở hưuũ và các quyền khác đối với tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 285/2026/DS-PT
Ngày: 23/9/2026
V/v tranh chấp đất đai, hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng đất vô hiệu, hủy
đăng ký biến động chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Văn Hợp.
Các Thẩm phán: ông Phạm Anh Tuyết và ông Phạm Hữu Trường.
- Thư ký phiên toà: ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: bà Vũ Thị
Trang Nhung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải
Phòng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
295/2025/TLPT-DS về việc “Tranh chấp đất đai, hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, hủy đăng
ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bản án dân sự sơ thẩm số
14/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải
Phòng bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
52/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa, thông
báo thay đổi thời gian mở phiên tòa giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã M (nay
là xã A), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Anh T, sinh năm
1988, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường D, quận C (nay là phường C),
thành phố Hà Nội; có mặt.
2
- Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1961; nơi đăng ký thường trú: Số H
L, phường L, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng; chỗ ơ: Thôn T, xã
T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện T:
Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Thôn Đ, xã
T, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 –
Chủ tịch UBND xã T; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1962, nơi đăng ký thường trú: Tổ 20 khu A,
phường T, Quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng; chỗ ơ: Số G gác B,
Đường L, phường M, quận N (nay là phường N), thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành
phố H. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức L – Giám đốc Chi nhánh
Văn phòng Đ3; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Trần Văn H2, sinh năm 1952; ông Trần Văn H3, sinh năm 1957; bà
Trần Thị B, sinh năm 1971; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện T (nay
là thôn T, xã T), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.
- Người khng co: bị đơn, ông Trần Văn C.
- Bản n không bị khng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn là bà Lương Thị H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn (ông Vũ Anh T) thống nhất trình bày:
Qua giới thiệu của người quen, bà H biết bà Trần Thị H1, sinh năm 1962, địa chỉ
thường trú: Phường T, quận H, thành phố Hải Phòng có nhu cầu chuyển nhượng
quyền sử dụng thửa đất tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Bà H đã
gặp bà H1 và chồng bà H1 (theo giới thiệu của bà H1) là ông Trần Văn C, sinh
năm 1961; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng để xem đất, kiểm
tra giấy tờ pháp lý thửa đất, bàn bạc và thống nhất việc chuyển nhượng đất. Quá
trình đó bà H1, ông C cung cấp giấy tờ chứng minh thửa đất là tài sản riêng của
bà H1, không liên quan đến người nào khác; đồng thời ông C, bà H1 nói với bà H
mục đích ông bà bán đất là để lấy tiền cho con gái lớn đi du học. Sau khi thấy giấy
tờ hợp pháp, giá cả hợp lý, bà H đồng ý nhận chuyển nhượng thửa đất.
Theo đó, ngày 05/4/2018, bà H nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị H1
diện tích 325m
2
đất thuộc thửa đất số 230 tờ bản đồ 13, địa chỉ: Thôn T, xã T,
huyện T, thành phố Hải Phòng; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
3
dụng đất (GCNQSDĐ) số CK 230640, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 01840
ngày 16/11/2017 cho người sử dụng đất là bà Trần Thị H1, giá chuyển nhượng là
240.000.000 đồng. Các bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tại UBND xã T, đăng ký biến động đất đai ngày 22/12/2022 tại Văn phòng Đăng
ký đất đai Chi nhánh huyện T theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm nhận
chuyển nhượng, trên thửa đất 230 có 01 ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ khép
kín, diện tích sử dụng khoảng 60m
2
đều đã xuống cấp. Sau khi nhận chuyển
nhượng đất, do chưa có nhu cầu sử dụng nên bà H giữ nguyên hiện trạng tài sản
và thỉnh thoảng về trông nom thửa đất. Đầu năm 2019, do dịch bệnh Covid-19
diễn biến phức tạp, đi lại khó khăn nên bà H không có điều kiện về trông nom
thửa đất. Cuối năm 2019, bà H được người quen thông báo việc ông C đang ở trên
nhà đất của bà H, tự ý xây dựng thêm lán tôn diện tích 40 – 50m
2
trên đất. Bà H
đã yêu cầu ông C tháo dỡ lán tôn trả lại nhà đất nhưng ông C không đồng ý, cho
rằng thửa đất 230 là của ông C. Tranh chấp đã được UBND xã T hòa giải 02 lần
nhưng không thành.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà H khởi kiện yêu cầu ông
C trả lại diện tích 325m
2
đất (diện tích hiện trạng 317m
2
) thuộc thửa đất số 230,
tờ bản đồ 13, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng. Buộc ông C phải tháo
dỡ toàn bộ lán tôn xây dựng trái phép trên thửa đất để trả đất cho bà H. Ngoài ra,
nguyên đơn không còn yêu cầu khác.
- Bị đơn (ông Trần Văn C) trình bày:
Ông C và bà Trần Thị H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng
năm 1998 – 1999 nhưng không đăng ký kết hôn (thời điểm đó, ông C đã có vợ và
02 con nhưng chưa ly hôn; bà H1 đang chung sống với người đàn ông khác và đã
có con chung); đến năm 2006 vợ chồng ông C ly hôn. Quá trình chung sống với
bà H1, ông C và bà H1 sinh được 02 con chung là Trần Ngọc A, sinh năm 2000;
Trần Hải Y, sinh năm 2003 và không có tài sản chung. Bà H1 bị Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản, chấp hành án tại trại giam từ năm 2009 đến khoảng 2017. Do mâu
thuẫn nên ông và bà H1 sống ly thân, không quan tâm nhau từ khoảng năm 2019
đến nay. Bà H1 đã bán nhà tại địa chỉ thường trú và do không liên lạc với nhau
nên ông C không biết hiện bà H1 ở đâu.
Thửa đất số 230 tờ bản đồ 13 diện tích 325m
2
, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện
T (nay là xã T), thành phố Hải Phòng là tài sản riêng của ông C, do ông được bố
mẹ chia cho sử dụng từ khoảng năm 2013 nhưng đến năm 2017 mới làm thủ tục
tách thửa, cấp GCNQSDĐ. Trước khi tách chia cho ông C, thửa đất chung mang
tên cụ Trần Văn H4 là bố ông C, đầu năm 2018 cụ H4 chết; mẹ ông C là cụ Phạm
Thị Đ, chết khoảng năm 2012 – 2013.
4
Về lý do bà H1 đứng tên chủ sử dụng thửa đất 230: Năm 2017 bà H1 chấp
hành xong án phạt tù về chung sống với ông C tại thửa đất 230, thời điểm đó do
ông C đã vay tiền ngân hàng nhưng chưa trả được, khoản nợ chuyển sang nợ xấu
nên ngân hàng không tiếp tục cho ông C vay tiền. Bà H1 bàn với ông C về việc
để bà H1 một mình đứng tên người sử dụng đất trên GCNQSDĐ để thuận tiện
giao dịch vay tiền ngân hàng; thỏa thuận bằng lời nói, không có văn bản. Cùng
thời điểm đó, ông và bà H1 có ý định cho con gái Ngọc A đi lao động nước ngoài
nên cần chi phí khoản tiền 100 triệu đồng. Ông và bà H1 thống nhất cầm cố
GCNQSDĐ thửa đất 230 cho bà H để vay bà H 100 triệu đồng. Theo yêu cầu của
bà H, ông C bà H1 và bà H đã viết giấy mua bán nhà đất, nội dung ông C bà H1
bán tài sản là thửa đất 230 cho bà H để vay 100 triệu đồng. Giấy bán nhà đất do
bà H viết, ông C bà H1 cùng ký xác nhận, nhưng chỉ có bà H giữ văn bản này. Bà
H và bà H1 giao nhận tiền với nhau, ông C không nhận tiền, không chứng kiến
việc giao nhận tiền; sau đó con gái của ông C bà H1 không đi nước ngoài, bà H1
đã sử dụng khoản tiền vay. Trước đó, ông C không quen biết bà H, không vay tiền
của bà H. Do không được giữ giấy mua bán nhà đất nên ông C không có tài liệu
giao nộp cho Tòa án.
Ông C khẳng định, việc ông đồng ý để bà H1 một mình đứng tên người sử
dụng đất trong GCNQSDĐ thửa đất số 230 chỉ nhằm mục đích thuận tiện cho việc
vay tiền; bà H1 không có quyền định đoạt, chuyển nhượng thửa đất 230. Không
có việc ông và bà H1 thỏa thuận xác nhận thửa đất 230 là tài sản chung của vợ
chồng, vì ông được chia cho đất vào năm 2013, thời điểm này bà H1 đang chấp
hành hình phạt tù; thực tế ông và bà H1 chỉ “cặp kè” với nhau, không phải là vợ
chồng hợp pháp do không đăng ký kết hôn. Việc một mình bà H1 chuyển nhượng
thửa đất 230 cho bà H vào năm 2018 không có sự đồng ý, tham gia và ký xác nhận
của ông C là trái pháp luật. GCNQSDĐ cấp cho thửa đất 230 đã đăng ký biến
động tên người sử dụng đất cho bà Lương Thị H không đúng quy định của pháp
luật. Do đó, ông C yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà
H1 với bà H đối với thửa đất 230 vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp
đồng vô hiệu, theo hướng các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, bà H1
phải trả bà H số tiền đã nhận, bà H trả đất cho bên chuyển nhượng là bà H1; trả
lại tài sản trên đất cho ông C và bà H1; hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà H1 và nội
dung đăng ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H trong
GCNQSDĐ.
Ngoài giấy mua bán nhà đất do bà H lập giữa ông, bà H1 với bà H năm
2017 để ông và bà H1 vay tiền của bà H thì ông C không ký xác nhận vào bất kỳ
văn bản, giấy tờ nào liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng thửa đất 230. Năm
2019, một số người lạ đến đòi tiền bà H1 và khi bà H có đơn gửi UBND xã cho
5
rằng ông chiếm dụng nhà đất của bà H thì ông mới biết bà H1 đã bán thửa đất 230
cho bà H.
Toàn bộ tài sản trên thửa đất 230 đều do ông và bà H1 xây dựng trước khi
bà H1 chuyển nhượng đất cho bà H; trong đó điện thờ và nhà bán mái được xây
dựng năm 2008 – 2009, lán tôn vị trí giữa điện thờ và nhà bán mái xây dựng ngay
sau khi bà H1 đi tù về (năm 2017), do đó quan điểm của bà H cho rằng ông C tự
ý xây thêm lán tôn và yêu cầu ông phải tháo dỡ lán tôn là không có cơ sở chấp
nhận. Các con của ông C bà H1 không có công sức đóng góp vào việc tạo lập tài
sản trên đất do thời điểm xây dựng tài sản, các con còn nhỏ, còn phải đi học.
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện T:
Ủy ban nhân dân xã T (do ông Nguyễn Văn Đ1, Phó Chủ tịch U) giữ nguyên
quan điểm của UBND huyện T.
Hồ sơ quản lý đất đai lưu giữ tại UBND xã T hiện có: Sổ mục kê kiêm
thống kê lập năm 1974 (có các thôn N, T, Đ, Đ, D, Phương Đ2); Bản đồ địa chính;
Sổ mục kê đất; hồ sơ kỹ thuật thửa đất; biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa
đất được thành lập giai đoạn 2005 – 2006. Theo hồ sơ quản lý đất đai lưu giữ tại
UBND xã được thành lập năm 2006; tại tờ bản đồ số 13, thửa số 214 tên chủ sử
dụng đất là ông Trần Văn H4 (bố đẻ ông C), không có tên chủ sử dụng đất là ông
Trần Văn C. Vị trí thửa đất 230 tờ bản đồ 13 là thửa đất đã được chỉnh lý sau biến
động tách thửa từ thửa 214 tờ bản đồ 13 của ông Trần Văn H4, tuy nhiên chưa
thực hiện việc chỉnh lý biến động trên sổ mục kê, bản đồ địa chính.
Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ: Hồ sơ cấp GCNQSDĐ do Văn phòng đăng
ký đất đai Chi nhánh huyện Đ3 (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ3) cung cấp đã
đảm bảo đủ các tài liệu làm căn cứ cấp GCNQSDĐ số CK 230640, số vào sổ CH
01840 do UBND huyện T cấp ngày 16/11/2017, người sử dụng đất là bà Trần Thị
H1, thửa đất 230 tờ bản đồ 13, diện tích 325m
2
, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T
(nay là thôn T, xã T), thành phố Hải Phòng. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định của
pháp luật dân sự, đất đai và pháp luật có liên quan để giải quyết vụ án, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, ổn định tình hình chung tại địa phương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Quá trình giải quyết tại giai đoạn sơ thẩm, bà Trần Thị H1 đã được Tòa án
thông báo yêu cầu khởi kiện của bà H, yêu cầu phản tố của ông C; được tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm;
ông Trần Văn H2, ông Trần Văn H3, bà Trần Thị B không có văn bản thể hiện ý
kiến về việc giải quyết vụ án.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bà H1 trình bày nguồn gốc Quyền sử dụng đất bà
6
được nhận là do ông Trần Văn C được bố mẹ chia cho sử dụng từ khoảng năm
2013 nhưng đến năm 2017 mới làm thủ tục tách thửa, cấp GCNQSDĐ. Trước khi
tách chia cho ông C, thửa đất chung mang tên cụ Trần Văn H4 là bố ông C, đầu
năm 2018 cụ H4 chết; mẹ ông C là cụ Phạm Thị Đ, chết khoảng năm 2012 – 2013.
Quá trình sử dụng đất, bà và ông C thống nhất cầm cố GCNQSDĐ thửa đất 230
cho bà H mục đích để vay bà H 100 triệu đồng chứ không phải là chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Tuy nhiên bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào về
việc cầm cố đất để vay tiền mà chỉ cung cấp được cho Tòa án ảnh chụp tiệm cầm
đồ của bà H.
Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đ3
(do ông Nguyễn Đức L – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ3 đại diện) trình bày:
Ngày 09/12/2022, bà Lương Thị H nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
hồ sơ hành chính của UBND huyện T; hồ sơ gồm: Bản chính GCNQSDĐ số CK
230640, số vào sổ CH 01840 ngày 16/11/2017, bản chính Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất
và các giấy tờ khác có liên quan. Sau khi tiếp nhận thành phần hồ sơ đầy đủ theo
quy định, bà Lương Thị H hoàn thành nghĩa vụ tài chính, Chi nhánh Văn phòng
Đ3 đã xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số CK 230640, số vào sổ CH
01840 ngày 16/11/2017, với nội dung “22/12/2022: Chuyển nhượng cho bà
Lương Thị H, CMND số 03-914986, địa chỉ tại xã M, huyện A, thành phố Hải
Phòng, theo hồ sơ số 000152.CN.001”. Việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai huyện Đ3 (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ3) xác nhận biến động chuyển
nhượng trên trang 4 GCNQSDĐ số CK 230640, số vào sổ CH 01840 ngày
16/11/2017 là đúng quy định tại khoản 2 Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
khoản 2 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, ngày 19/5/2014 của Bộ T2 quy
định về hồ sơ địa chính.
- Kết quả xác minh tại UBND xã T thể hiện:
Theo hồ sơ quản lý đất đai được thành lập năm 2006 lưu giữ tại UBND xã
T, tại tờ bản đồ 13, thửa đất số 214 tên người sử dụng Trần Văn H4 (là bố đẻ ông
Trần Văn C, cụ H4 chết năm 2018). Thửa đất 230 tờ bản đồ 13 được chỉnh lý sau
biến động tách ra từ thửa đất số 214 tờ bản đồ 13 nhưng chưa thực hiện việc chỉnh
lý biến động trên sổ mục kê, bản đồ địa chính. Ông Trần Văn C, bà Trần Thị H1
đều không đăng ký thường trú và không có thông tin đăng ký kết hôn tại xã T;
không có tài liệu nào ghi nhận ông Trần Văn C, bà Trần Thị H1 là chủ sử dụng
thửa đất 230 tờ bản đồ 13. UBND xã T không chứng thực giao dịch chuyển quyền
sử dụng đất giữa gia đình ông C với bà H1 đối với thửa đất 230. Không xảy ra
7
tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các thành viên trong gia đình ông C; hiện
thửa đất không có tranh chấp với các chủ sử dụng đất liền kề.
Việc chuyển quyền sử dụng đất thửa đất 230 giữa bà H1 với bà Lương Thị
H được các bên thực hiện tại UBND xã T. Hiện thửa đất 230 mang tên chủ sử
dụng đất là bà Lương Thị H nhưng bà H chưa đăng ký biến động đất đai tại địa
phương; thực tế ông C đang sử dụng đất. Khi xảy ra tranh chấp giữa bà H với ông
C đối với thửa đất 230, UBND xã T đã hòa giải nhưng không thành.
Thửa đất 230 tờ bản đồ 13 diện tích 325m
2
đã được UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ số CK 230640, vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH 01840 ngày
16/11/2017 cho người sử dụng đất là bà Trần Thị H1. Bằng Hợp đồng chuyển
nhượng ngày 05/4/2018, bà H1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bà H và
đã được Chi nhánh Văn phòng Đ3 xác nhận biến động chuyển nhượng ngày
22/12/2022. Như vậy, quyền sử dụng đất của bà H là hợp pháp theo quy định của
pháp luật. Việc ông C tự nhận thửa đất 230 là của mình là không có căn cứ; đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện:
Thửa đất 230 tờ bản đồ 13, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T (nay là xã T),
thành phố Hải Phòng có diện tích hiện trạng 317,0m
2
(giảm 08m
2
so với diện tích
cấp GCNQSDĐ là do sai số trong đo đạc), không có tranh chấp về ranh giới, mốc
giới với các chủ sử dụng đất liền kề. Đất có vị trí, ranh giới: Phía Đông giáp ao
do UBND xã T quản lý (ông Cao Văn P đang sử dụng) dài 10,71m, ranh giới là
bờ gạch; phía Tây giáp đường xóm dài 11,35m, ranh giới là tường công trình; phía
Nam giáp đất ông Nguyễn Đức N (hiện bà Trần Thị N1 sử dụng) dài 29,20m, ranh
giới là tường xây; phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H2 dài 28,57m, ranh giới là
tường bao của ông H2. Giá đất 5.000.000 đồng/m
2
; tổng trị giá đất là
1.585.000.000 đồng (317 x 5.000.000).
Tài sản gắn liền với đất gồm: Nhà 01 tầng mái tôn xây dựng năm 2009, trị
giá 62.237.575 đồng; điện thờ xây dựng năm 2008, trị giá 64.089.475 đồng; lán
tôn xây dựng năm 2017 trị giá 41.139.765 đồng; khu mái tôn xây dựng năm 2017
trị giá 45.626.245 đồng; khu phụ (nhà tắm, vệ sinh, bếp) xây dựng năm 2017 trị
giá 47.073.145 đồng; một số cây trồng trị giá 8.890.000 đồng. Tổng trị giá tài sản
trên đất là 269.056.205 đồng.
- Tại Kết luận gim định số 56/KL-KTHS ngày 15/4/2025, V Bộ C1 kết
luận: Chữ ký đứng tên Trần Văn C tại mục “Người làm đơn” trên mẫu cần giám
định ký hiệu A so với chữ ký của ông Trần Văn C trên các mẫu so sánh ký hiệu
M1 đến M8 do cùng một người ký ra.
8
Các đương sự không có ý kiến gì về kết quả thẩm định, định giá và kết luận
giám định.
- Tại bản n dân s sơ thm số 14/2025/DS-ST ngày 23 thng 9 năm 2025
của Tòa n nhân dân khu vc 7 - Hải Phòng bị khng co quyết định:
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 129, 155, 164, 166, 500, 501, 502 và
503 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 12, 166, 167, 168, 188, 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào các khoản 3, 9 Điều 26; Điều 5; Điều 34; các điểm a, c khoản
1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 161, khoản 1 Điều
165, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự..; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (ông Trần Văn C) về việc:
Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 230640, vào sổ cấp giấy
chứng nhận số CH 01840 ngày 16/11/2017 đối với thửa đất 230 tờ bản đồ 13 diện
tích 325m
2
do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho người sử dụng đất, chủ sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là bà Trần Thị H1. Tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/4/2018 giữa bà Trần Thị H1 với bà
Lương Thị H là hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô
hiệu. Hủy nội dung đăng ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà
Lương Thị H ngày 22/12/2022 tại Văn phòng Đ3 Chi nhánh Đ3.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (bà Lương Thị H): Buộc
ông Trần Văn C phải trả bà Lương Thị H diện tích 317m
2
đất và tài sản gắn liền
với đất thuộc thửa đất số 230 tờ bản đồ 13, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T (nay là
xã T), thành phố Hải Phòng, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CK 230640, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 01840
ngày 16/11/2017 cho người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất là bà Trần Thị H1; đã được đăng ký biến động chuyển nhượng cho bà
Lương Thị H ngày 22/12/2022 tại Văn phòng Đ3 Chi nhánh Đ3.
3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà Lương Thị H về việc buộc ông Trần
Văn C phải tháo dỡ lán tôn trên thửa đất 230 tờ bản đồ 13, địa chỉ: Thôn T, xã T,
huyện T (nay là xã T), thành phố Hải Phòng.
9
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền kháng
cáo và Thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn: ông Trần Văn C kháng cáo toàn bộ bản
án dân sự sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn; giữ nguyên yêu cầu phản tố về việc yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng đất giữa bà H1 với bà H đối với thửa đất 230 vô hiệu, giải
quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật, theo
hướng các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, bà H1 phải trả bà H số tiền
đã nhận, bà H trả đất cho bên chuyển nhượng là bà H1, trả lại tài sản trên đất cho
ông C và bà H1; hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà H1 và nội dung đăng ký biến
động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H trong GCNQSDĐ;
- Tại phiên tòa phc thm:
Ông C giữ nguyên nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo; Các đương sự
giữ nguyên các nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm; người đại diện theo ủy
quyền của bà H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại các phiên tòa trước
đây và không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi đại diện Viện kiểm sát phân tích
các tình tiết của vụ án, các căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, ý kiến
của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông C,
đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 23
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng. Miễn án phí phúc
thẩm cho bị đơn, ông Trần Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu cc tài liệu có trong hồ sơ vụ n được thm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Người kháng cáo gửi đơn kháng cáo trong thời gian luật định, có đơn
xin miễn án phí dân sự phúc thẩm và thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự
phúc thẩm nên được xác định là kháng cáo hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
10
[1.2]. Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm, Tòa án đã yêu cầu các đương
sự cung cấp tài liệu, chứng cứ mới có liên quan để làm căn cứ giải quyết vụ án
tuy nhiên các đương sự đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn - ông Trần Văn C:
[2.1]. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng tài sản tranh chấp: Thửa đất số
230 tờ bản đồ 13, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng có nguồn gốc được
tách ra từ thửa đất số 214 tờ bản đồ 13 của cụ Trần Văn H4 là bố đẻ ông C. Quá
trình tách thửa ông C và những người con khác của cụ H4, cụ Đ (ông H2, ông H3,
bà B) đều xác nhận việc ông C được bố mẹ tặng cho riêng thửa đất 230 tờ bản đồ
13 và không xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất trong gia đình ông C.
Ông C, bà H1 thỏa thuận để bà H1 một mình đứng tên chủ sử dụng đất được
bố mẹ ông C tặng cho. Ngày 16/11/2017, thửa đất 230 tờ bản đồ 13 diện tích
325m
2
được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số CK 230640, vào sổ cấp GCN số
CH 01840 cho người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất là bà Trần Thị H1. Ngày 05/4/2018, bà H1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất
cho bà H; đăng ký biến động chuyển nhượng tại Chi nhánh Văn phòng Đ3 ngày
22/12/2022.
Về tài sản trên đất, các đương sự đều xác nhận toàn bộ tài sản trên thửa đất
230 đều do ông C, bà H1 xây dựng, tạo lập trước thời điểm ông C thỏa thuận để
bà H1 một mình đứng tên chủ sử dụng đất, đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà H1 và
trước khi bà H1 chuyển nhượng đất cho bà H. Các con của ông C, bà H1 còn nhỏ,
không có đóng góp gì để tạo lập tài sản.
Như vậy, nguồn gốc đất do ông C được bố mẹ tặng cho riêng, không xảy ra
tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các thành viên trong gia đình ông C nên
thửa đất 230 tờ bản đồ 13 là tài sản riêng của ông C.
Năm 2017, ông C nhất trí và cùng bà H1 tiến hành làm các thủ tục để cho
bà H1 đứng tên trên GCNQSDĐ. Tại Kết luận giám định số 56/KL-KTHS ngày
15/4/2025, V Bộ C1 cũng đã kết luận: Chữ ký đứng tên Trần Văn C tại mục
“Người làm đơn” trên Văn bản thỏa thuận về việc đứng tên đăng ký quyền sử
dụng đất ở lập ngày 26/7/2017 (mẫu cần giám định ký hiệu A) so với chữ ký của
ông Trần Văn C trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1 đến M8) do cùng một người
ký ra.
Việc ông C thỏa thuận đồng ý để bà H1 đứng tên người sử dụng đất, chủ sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với
các quy định của pháp luật. GCNQSDĐ số CK 230640, vào sổ GCNQSDĐ số
CH 01840 ngày 16/11/2017 đối với thửa đất 230 tờ bản đồ 13 diện tích 325m
2
do
11
UBND huyện T cấp cho người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất là bà Trần Thị H1 đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định
tại các Điều 99, 100, 101 Luật Đất đai năm 2013; phù hợp với ý chí của ông C và
nội dung thỏa thuận giữa ông C và bà H1; không có tranh chấp giữa ông C với bà
H1 đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông C về việc hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 230640, vào sổ cấp GCNQSDĐ số
CH 01840 ngày 16/11/2017 với thửa đất 230 tờ bản đồ 13, diện tích 325m
2
, người
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là bà Trần Thị
H1 có căn cứ.
[2.2]. Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H1 với bà H
và yêu cầu của ông C về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu, giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; hủy nội dung đăng ký biến động chuyển
nhượng quyền sử dụng đất:
Quá trình giải quyết vụ án, ông C trình bày để bà H1 một mình đứng tên
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bà H1 chỉ “đứng tên hộ”, “đứng tên
thay gia đình” và mục đích là để thuận tiện cho việc vay tiền, ông cũng có ký một
giấy mua bán nhà đất với bà H để vay tiền cho con đi nước ngoài, nhưng ông C
không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh về các nội dung trình bày này.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án tiếp tục yêu cầu ông C, bà H1 cung cấp tài liệu,
chứng cứ về việc bà H1 và ông C thỏa thuận để bà H1 một mình đứng tên người
sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thuận tiện giao dịch vay
tiền ngân hàng; tài liệu, chứng cứ về việc cầm cố Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa đất 230 cho bà H để vay bà H 100 triệu đồng; tài liệu thể hiện giấy mua
bán nhà đất do bà H viết và các tài liệu, chứng cứ liên quan về việc bà H1 đối trừ
tiền vay của bà H… tuy nhiên ông C, bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ gì mới và phía nguyên đơn cũng không thừa nhận các nội dung này.
Ông C cho rằng để bà H1 một mình đứng tên người sử dụng đất trong
GCNQSDĐ thửa đất số 230 chỉ nhằm mục đích thuận tiện cho việc vay tiền; bà
H1 không có quyền định đoạt, chuyển nhượng thửa đất 230 tuy nhiên ông C là
người có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự nên phải nhận thức được và phải
chịu hậu quả pháp lý của việc để bà H1 một mình đứng tên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Tại thời điểm bà H1 chuyển nhượng đất cho bà H, bà H1 là
chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất, ông C và bà H1 đang sinh sống tại nhà đất
thuộc thửa đất 230 và theo ông C trình bày thì trước đó hai bên cũng đã ký giấy
tay mua bán nhà đất để vay tiền cho con gái vì vậy ông C biết, buộc phải biết việc
bà H1 chuyển nhượng thửa đất 230 và tài sản trên đất cho bà H; tại thời điểm
12
chuyển nhượng đất, ông C và bà H1 sống chung với nhau nhưng không được công
nhận quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó căn cứ các Điều 166,
167, 168 Luật Đất đai năm 2013 từ thời điểm được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bà H1 trở thành người sử dụng đất hợp
pháp, được thực hiện các quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền được
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 05/4/2018, các bên chủ thể của hợp đồng đều có đầy đủ
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; hoàn toàn tự nguyện; mục đích và
nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
hội; các bên đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng (giao nhận tiền,
tài sản); hợp đồng được UBND xã T theo quy định của pháp luật; hình thức của
giao dịch phù hợp quy định tại các Điều 117, 118, 119, 129, 500, 501, 502 của Bộ
luật Dân sự; không có căn cứ xác định giao dịch các bên đã ký kết là giả tạo nhằm
che giấu một giao dịch dân sự khác. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 05/4/2018 giữa bà H1 với bà H đối với thửa đất 230 có hiệu lực;
các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
Nội dung đăng ký biến động chuyển nhượng cho bà Lương Thị H ngày
22/12/2022 tại Văn phòng Đ3 Chi nhánh Đ3 phù hợp quy định tại Điều 503 của
Bộ luật Dân sự.
Đối với tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất 230 tờ bản đồ 13 và công sức
quản lý tài sản: Căn cứ Điều 2 của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thì tài sản chuyển nhượng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và như
đã nhận định ở trên, thời điểm bà H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H
thì ông C và bà H1 đang sinh sống tại nhà đất thuộc thửa đất 230; mặt khác, quá
trình giải quyết vụ án ông C có khai việc ông và bà H1 thống nhất cầm cố
GCNQSDĐ thửa đất 230 cho bà H để vay bà H 100 triệu đồng nên có căn cứ xác
định ông C biết việc bà H1 chuyển nhượng thửa đất 230 và tài sản trên đất cho bà
H. Nguyên đơn cho rằng đầu năm 2019, do dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức
tạp, đi lại khó khăn nên bà H không có điều kiện về trông nom thửa đất là có căn
cứ chấp nhận. Quan điểm của ông C cho rằng các bên chỉ chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, không chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất là không có cơ sở chấp
nhận. Do ông C sinh sống trên nhà, đất đã được chuyển nhượng cho bà H và biết
việc bà H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng các tài sản trên đất của bà
H1 nên ông C không được xem xét thanh toán công sức quản lý tài sản. Vì vậy,
không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông C về việc tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H1 với bà H đối với thửa đất 230 là hợp đồng
vô hiệu và hủy nội dung đăng ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho bà H. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực nên không
có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông C về việc giải quyết hậu quả pháp lý của
13
hợp đồng vô hiệu. Yêu cầu khởi kiện của bà H về việc buộc ông C phải trả lại
diện tích đất 325m
2
(diện tích hiện trạng là 317m
2
) và toàn bộ tài sản gắn liền với
đất là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015, cần
được chấp nhận.
[2.3]. Đối với yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn phải tháo dỡ lán tôn
trên thửa đất 230; tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện về
nội dung này nên cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 5 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết yêu cầu này của nguyên đơn là đúng quy định.
Từ các nhận định trên, HĐXX nhận thấy cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng
không xuất trình được thêm chứng cứ mới có giá trị chứng minh nội dung kháng
cáo của mình là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn, ông Trần Văn C không được chấp
nhận nhưng do ông C là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí phúc thẩm
nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4]. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, ông Trần Văn C. Giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng.
2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Văn C.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết hạn kháng cáo,
kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
14
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND KV7- Hải Phòng.
- THADS KV7- Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa.
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Hợp
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất