Bản án số 284/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 284/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 284/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 284/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 284/2026/DS-PT Bản án số 284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 284/2026/DS-PT Bản án số 284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 284/2026/DS-PT
Ngày: 22 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu, bà Trần Minh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mùi Nái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 183/2026/TLPT-DS ngày 05
tháng 8 năm 2026 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; do
Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2026/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số 247/2026/QĐ-PT ngày 11 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn
phiên tòa số 362/2026/QĐPT-DS ngày 04 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; số CCCD:
************; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố Hải
Phòng; chỗ ở hiện nay: Số B, tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; có
mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Văn
T1, Trương Thị T2 - Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Bị đơn: Ông Lưu Kim S, sinh năm 1964; số CCCD: ************ và bà
Hoàng Thị K, sinh năm 1964; số CCCD: ************; nơi cư trú: Tổ dân phố
Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Vũ Văn G, sinh năm 1971; số CCCD: ************; nơi cư trú: Tổ
dân phố Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số H V, tổ dân phố
Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2
+ Chị Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1971; số CCCD: ************; nơi cư trú:
Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Thị Thu H: Luật sư Tạ Ngọc B - Công
ty L1 - Chi nhánh H1 (Giấy ủy quyền ngày 22-12-2025); có mặt.
+ Anh Lưu Kim C; sinh năm 1983; số CCCD: ************; nơi cư trú:
Số B, tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2); địa chỉ trụ sở: Số B L, phường Đ,
thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Văn G.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Nguyễn Thị T trình bày: Ngày 04/4/2018, chị T và vợ chồng
anh Vũ Văn G, chị Đỗ Thị Thu H (khi đó anh G, chị H chưa ly hôn) thỏa thuận
về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể: Vợ chồng anh G, chị H chuyển
nhượng cho chị Tự quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 04, diện tích 80,1m
2
theo GCNQSDĐ số Đ325794, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00120
QSDĐ/VS-ĐS do UBND thị xã Đ, thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/01/2005
cho người đứng tên là hộ ông Vũ Văn G và thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21, diện
tích 68,4m
2
theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số CM 069221, số vào sổ cấp GCN CH 01003 do UBND quận Đ cấp ngày 05-3-
2018 cho bà Đỗ Thị Thu H và chồng là ông Vũ Văn G. Giá chuyển nhượng hai
thửa đất là 2.300.000.000đồng. Hai bên viết Giấy biên nhận bán đất có sự chứng
kiến của ông Lưu Kim S. Chị T đã thanh toán đủ toàn bộ số tiền theo thỏa thuận
cho chị H. Chị H và anh G đã bàn giao nhà đất và GCNQSDĐ cho chị T, vợ chồng
chị T sinh sống trên đất từ tháng 4/2018 đến nay. Do thời điểm nhận chuyển
nhượng, chồng chị T là anh Lưu Kim C đang lao động tại Australia nên không thể
về nước ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại phòng công chứng
được nên chị T nhờ ông Lưu Kim S và vợ là bà Hoàng Thị K (ông S là chú ruột
anh C) đứng ra ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng để
hợp thức hóa việc mua bán đất theo quy định của pháp luật, khi nào anh C về nước
thì ông S, bà K sẽ làm thủ tục sang tên giấy tờ nhà đất lại cho vợ chồng chị. Vì
vậy ngày 19/8/2018, tại Văn phòng C1, chị T đã yêu cầu anh G, chị H ký 02 Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên với bên nhận
chuyển nhượng là ông Lưu Kim S, bà Hoàng Thị K. Trên Hợp đồng có ghi giá trị
chuyển nhượng là 380.000.000đồng đối với thửa 103, tờ bản đồ số 21, diện tích
68,4m
2
và ghi số tiền 390.000.000đồng đối với thửa số 34, tờ bản đồ số 04, diện
tích 80,1m
2
nhưng thực tế giá trị chuyển nhượng của 02 thửa đất này là
2.300.000.000đồng. Anh G sau khi ly hôn với chị H đã làm đơn tố cáo chị H trốn
thuế, tuy nhiên Công an quận Đ đã giải quyết đơn và khẳng định chị H không có
dấu hiệu trốn thuế, việc tranh chấp giữa anh G, chị H giải quyết bằng vụ án dân
sự (nếu có). Sau khi chồng chị T về nước đã yêu cầu vợ chồng ông S, bà K làm
thủ tục để sang tên trả lại nhà đất cho vợ chồng chị nhưng ông S, bà K không thực
3
hiện. Chị T khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận Giấy biên nhận bán đất ngày
04/4/2018 có hiệu lực pháp luật. Tại đơn khởi kiện chị T yêu cầu Tòa án buộc ông
S, bà K phải ký giấy tờ chuyển tên thửa đất cho vợ chồng chị nhưng sau đó đã rút
yêu cầu này và đề nghị Tòa án tuyên 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ký ngày 19/10/2018 tại Văn phòng C1 giữa bên chuyển nhượng là anh G, chị
H với bên nhận chuyển nhượng là ông S, bà K vô hiệu.
2. Bị đơn Lưu Kim S và Hoàng Thị K trình bày: Ông K là chú ruột của anh
Lưu Kim C (chồng chị T). Ông S, bà K thừa nhận vào tháng 4 năm 2018, anh C
đang lao động tại Australia nên vợ chồng anh C, chị T có nhờ vợ chồng ông bà
đứng tên thay trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông bà đã thay
vợ chồng chị T ký 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
19/10/2018 tại Văn phòng C1 với bên chuyển nhượng là anh G, chị H (lúc này vợ
chồng anh G, chị H chưa ly hôn). Ông S chứng kiến chị T đã giao đủ số tiền
chuyển nhượng 02 thửa đất trên là 2.300.000.000đồng cho chị H. Do 02 thửa đất
trên có vị trí nằm cạnh nhau nên sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng, chị T đã
được bàn giao cả 02 thửa đất và ăn ở, sinh hoạt trên 01 thửa đất, GCNQSDĐ của
02 thửa trên đã được anh G, chị H bàn giao cho chị T. Chị H đã làm thủ tục sang
tên GCNQSDĐ cho ông bà đứng tên hộ vợ chồng chị T nhưng chưa kịp làm xong
thủ tục thì vợ chồng anh G, chị H ly hôn. Do tranh chấp về tài sản anh G làm nhiều
đơn ngăn chặn việc sang tên, chuyển nhượng nên việc sang tên ông bà chưa thực
hiện được. Do giá trị giao dịch thực tế của 02 thửa đất này là 2.300.000.000đồng
nhưng trên Hợp đồng công chứng chỉ ghi giá trị chuyển nhượng là
380.000.000đồng đối với thửa 103, tờ bản đồ số 21, diện tích 68,4m
2
và ghi số
tiền 390.000.000đồng đối với thửa số 34, tờ bản đồ số 04, diện tích 80,1m
2
, ông
bà sợ liên quan các vấn đề về pháp luật nên không làm thủ tục sang tên cho anh
C, chị T. Ông S, bà K xác định ông bà chỉ đứng tên hộ chị T, anh C trên Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứ không trả tiền mua đất cho anh G, chị H;
không quản lý, sử dụng đất sau khi mua bán nên ông bà không có liên quan, vợ
chồng chị T, anh C tự giải quyết với anh G, chị H. Ông S, bà K đề nghị Tòa án
tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/10/2018 tại
Văn phòng C1 vô hiệu. Đối với giấy biên nhận bán đất đề ngày 04/4/2018 được
ký giữa bên mua là chị T với bên bán là anh G, chị H thì chữ viết trên giấy biên
nhận bán đất là do chị H tự viết, anh G, chị H ký tên bên bán; ông S là người làm
chứng có chứng kiến chị T giao tiền cho chị H đủ số tiền 2.300.000.000đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Văn G trình bày: Anh G
khẳng định tháng 4/2018 anh G và chị H (khi đó chưa ly hôn) có thỏa thuận chuyển
nhượng hai thửa đất nêu trên cho vợ chồng chị T chứ không thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với ông S, bà K. Giá trị chuyển nhượng thực tế của 02
thửa đất này là 2.300.000.000đồng. Khi thỏa thuận chuyển nhượng anh G đề nghị
bên mua là chị T giao trước cho anh và chị H 1.600.000.000đồng, số tiền còn lại
là 700.000.000đồng khi nào làm xong thủ tục sang tên GCNQSDĐ thì chị T trả
nốt. Tuy nhiên khi giao tiền thì chị H lại tự ý thỏa thuận với chị T là giao đủ số
tiền 2.300.000.000đồng, sau khi chị H nhận đủ tiền mới thông báo cho anh biết.
Anh G yêu cầu chị H chuyển lại số tiền 700.000.000đồng cho anh nhưng chị H
4
không đồng ý. Việc giữa chị T với vợ chồng ông S, bà K thỏa thuận nhờ đứng tên
trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như thế nào thì anh không rõ,
anh chỉ biết việc chuyển nhượng đất là ký với chị T. Anh không thỏa thuận chuyển
nhượng đất với ông S, bà K. Việc anh có ký tên trên 02 Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 19/10/2018 tại Văn phòng C1 với giá trị chuyển nhượng
là 380.000.000đồng đối với thửa 103 và ghi số tiền 390.000.000đồng đối với thửa
số 34 là do chị H và chị T tự thỏa thuận với nhau, anh G không đọc nên cũng ký
vào Hợp đồng. Vì vậy khi phát hiện Hợp đồng ghi không đúng giá trị giao dịch
thực tế anh G đã làm đơn đến các cơ quan chức năng để ngăn chặn việc chuyển
nhượng. Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng, chị T đã trực tiếp quản lý, sử dụng
02 thửa đất này từ năm 2018 cho đến nay, anh G đã làm đơn đề nghị U, không
cho chị T sử dụng đất nhưng UBND phường không thực hiện. Do chị T cũng có
một phần lỗi khi giao số tiền 700.000.000đồng còn lại cho chị H nhưng không
thông báo cho anh biết nên chị T và chị H phải có trách nhiệm hoàn trả cho anh
số tiền 700.000.000đồng. Anh G cũng đề nghị Tòa án tuyên 02 Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/10/2018 tại Văn phòng C1 giữa bên chuyển
nhượng là G, chị H với bên nhận chuyển nhượng là S, bà K vô hiệu do giả tạo.
Khi chị T và chị H trả anh G đủ 700.000.000đồng thì anh G sẽ có trách nhiệm ký
lại Hợp đồng chuyển nhượng cho chị T, anh C đúng theo thỏa thuận ban đầu giữa
hai bên.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Thu H trình bày: Việc
mua bán, chuyển nhượng giữa chị H, anh G với vợ chồng chị T, đúng như chị T
trình bày. Chị H khẳng định việc vợ chồng chị H, anh G (thời điểm chuyển nhượng
anh chị chưa ly hôn) chuyển nhượng hai thửa đất cho chị T. Chị T là người trực
tiếp giao tiền cho chị H, anh G. Do chồng chị T là anh C thời điểm chuyển nhượng
năm 2018 đang làm ăn ở nước ngoài nên chị T có nhờ ông S, vợ là bà K (là chú
ruột chồng chị T) đứng tên hộ trên 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất công chứng tại Văn phòng C1. Mặc dù trên 02 hợp đồng ghi giá chuyển
nhượng tổng là 770.000.000đồng nhưng thực tế trên hồ sơ khai thuế chị H vẫn
khai đúng là 2.300.000.000đồng chứ không có việc khai gian dối để trốn thuế,
việc này đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ kết luận là không có
dấu hiệu trốn thuế. Sau khi nhận tiền chuyển nhượng chị H đã giao cho anh G
700.000.000đồng theo đúng yêu cầu của anh G. Chị H xác định chị và anh G đã
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng với chị T. Việc sang tên trên GCNQSDĐ
là nghĩa vụ của bên mua. Chị H đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T,
đề nghị Tòa án công nhận Giấy biên nhận bán đất ngày 04/4/2018 ký kết giữa chị
T và chị H, anh G là có hiệu lực pháp luật; tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ký ngày 19/10/2018 tại Văn phòng C1 được ký giữa bên chuyển
nhượng là anh G, chị H với bên nhận chuyển nhượng là ông S, bà K vô hiệu vì
thực tế chị và anh G giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chị T chứ
không thỏa thuận giao dịch chuyển nhượng với ông S, bà K.
5. Tại Văn bản số 23/CV-VHN ngày 18-5-2026, ông Vũ Hoài N - Công
chứng viên, Trưởng Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) trình bày: Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/10/2018 lập tại Văn phòng C1 (nay là
5
Văn phòng C2) giữa bên chuyển nhượng là anh G, chị H với bên nhận chuyển
nhượng là ông S, bà K đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 04 đứng tên là hộ ông
Vũ Văn G, số công chứng 1007/2018/HĐCN; Quyển số 02.TP/CC-SCC/HĐGD
và thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21 đứng tên bà Đỗ Thị Thu H và ông Vũ Văn G,
số công chứng 1008/2018/HĐCN; Quyển số 02.TP/CC-SCC/HĐGD đã thể hiện
đúng chủ thể tham gia giao dịch, đúng đối tượng tham gia giao dịch, người tham
gia giao dịch tự nguyện, có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp
luật. Việc ông S, bà K thực hiện việc lập, ký kết hợp đồng chuyển nhượng 02 thửa
đất nêu trên với anh G, chị H là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo
đúng quy trình tra cứu thông tin bất động sản. Do Văn phòng C1 không nắm được
mối quan hệ về tài sản giữa ông S, bà K với chị T, anh C nên Văn phòng Công
chứng không đưa ra quan điểm về yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản của nguyên
đơn. Đối với yêu cầu công nhận Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 04/4/2018 ký
kết giữa chị T với anh G, chị H là có hiệu lực pháp luật thì Văn phòng Công chứng
không biết việc giao dịch chuyển nhượng giữa các bên nên không có ý kiến.
6. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 11-5-2026, cháu Vũ Thị Vi A, sinh
năm 2002 (là con của anh G, chị H) trình bày: Mặc dù GCNQSDĐ số Đ325794,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00120 QSDĐ/VS-ĐS do UBND thị xã Đ, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 10/01/2005 tên hộ ông Vũ Văn G; tại thời điểm cấp Giấy
chứng nhận hộ gia đình ông G có ông G, bà H và cháu Vi A nhưng khi đó cháu
Vi A còn nhỏ, không có công sức đóng góp gì trong việc hình hành khối tài sản
này. Toàn bộ quyền sử dụng đất là của bố G, mẹ H. Cháu Vi A đề nghị Tòa án
không đưa cháu vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án, không triệu tập cháu đến Tòa án làm việc.
7. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2026/DS-ST ngày 17/6/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng quyết định:
7.1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu
cầu Tòa án tuyên buộc ông S, bà K ký giấy tờ để trả lại cho chị T, anh C thửa đất
số 34, tờ bản đồ số 04, diện tích 80,1m
2
và Thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21, diện
tích 68,4m
2
.
7.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công nhận Giấy biên
nhận bán đất đề ngày 04/4/2018 giữa bên bán là anh G, chị H với bên mua là chị
T, anh C đối với hai thửa đất nêu trên có hiệu lực pháp luật.
7.3. Tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
19/10/2018 tại Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) giữa bên chuyển nhượng là
anh G, chị H với bên nhận chuyển nhượng là ông S, bà K đối với hai thửa đất nêu
trên vô hiệu. Anh G, chị H với ông S, bà K không phải thực hiện nghĩa vụ gì với
nhau khi tuyên Hợp đồng vô hiệu. Ông S và bà K không còn bất cứ quyền lợi,
nghĩa vụ gì liên quan đối với hai thửa đất nên trên.
7.4. Chị T và chồng là anh C có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền để làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ đối với Thửa đất số 34, tờ bản đồ
số 04, diện tích 80,1m
2
và Thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21, diện tích 68,4m
2
. Anh
G và chị H phải có trách nhiệm hoàn thiện thủ tục sang tên trên GCNQSDĐ đối
6
với 02 thửa đất nêu trên cho chị T, anh C và chịu tiền thuế đất theo quy định của
pháp luật theo đúng thỏa thuận đã cam kết tại Giấy biên nhận bán đất đề ngày
04/4/2018 được ký giữa anh G, chị H với chị T.
Đề nghị Cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào bản án này để giải quyết thủ
tục sang tên GCNQSDĐ đối với Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 04, diện tích 80,1m
2
theo GCNQSDĐ số Đ325794, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00120
QSDĐ/VS-ĐS do UBND thị xã Đ, thành phố Hải Phòng cấp ngày 10 tháng 01
năm 2005 cho người đứng tên là hộ ông Vũ Văn G và thửa đất số 103, tờ bản đồ
số 21, diện tích 68,4m
2
theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CM 069221, số vào sổ cấp GCN CH 01003 do UBND quận Đ cấp
ngày 05-3-2018 cho bà Đỗ Thị Thu H và chồng là ông Vũ Văn G sang tên cho
anh Lưu Kim C và vợ là chị Nguyễn Thị T. Anh Vũ Văn G, chị Đỗ Thị Thu H có
nghĩa vụ phối hợp để làm thủ tục chuyển tên trên GCNQSDĐ sang cho anh Lưu
Kim C và vợ là chị Nguyễn Thị T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
theo quy định.
8. Ngày 25/6/2026, anh Vũ Văn G kháng cáo yêu cầu lập lại hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; buộc bà H và bà
T phải chuyển trả cho ông G 700.000.000đồng theo thỏa thuận.
9. Tại phiên tòa:
Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị không chấp nhận kháng cáo
của anh G.
Anh G xác định chỉ kháng cáo đề nghị Tòa án giải quyết điều khoản thanh
toán của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/4/2018 giữa anh
G, chị H và chị T; anh G cho rằng chị T mới trả cho anh G, chị H
1.600.000.000đồng, còn nợ 700.000.000đồng nên yêu cầu chị T phải trả anh G
khoản tiền này.
Đại diện theo ủy quyền của chị H xác định chị H đã nhận đủ toàn bộ số tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất do chị T trả. Chị H và anh G đã ly hôn nhưng
chưa chia tài sản, trường hợp có tranh chấp khoản tiền chuyển nhượng quyền sử
dụng đất do chị T trả thì chị H và ông G sẽ tự giải quyết với nhau.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của anh G, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc anh
G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của anh Vũ Văn G trong thời hạn luật định và đã
nộp tạm ứng án phí nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
7
[2.1] Lời khai của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan là anh Vũ Văn G, chị Đỗ Thị Thu H đều thống nhất: Ngày 04/4/2018, anh
G, chị H (khi đó chưa ly hôn) và chị T thỏa thuận vợ chồng anh G, chị H chuyển
nhượng cho chị Tự quyền sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 04, diện tích 80,1m
2
và thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21, diện tích 68,4m
2
thuộc tổ dân phố Đ, phường
Đ, thành phố Hải Phòng với giá 2.300.000.000đồng. Hai bên viết Giấy biên nhận
bán đất có chữ ký của anh G, chị H, chị T và có sự chứng kiến của ông Lưu Kim
S. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh G, chị H và chị T được ký kết
trên cơ sở tự nguyện giữa các bên có đủ năng lực chủ thể, nội dung hợp đồng
không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; hợp đồng đã được lập thành
văn bản nhưng vi phạm quy định về công chứng, chứng thực tuy nhiên các bên đã
thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ của mình, cụ thể: Chị T đã thanh toán đủ
toàn bộ số tiền 2.300.000.000đồng cho chị H; chị H và anh G đã bàn giao toàn bộ
hai thửa đất, tài sản trên đất và hai GCNQSDĐ cho chị T, vợ chồng chị T nhận
đất và sinh sống trên đất từ tháng 4/2018 đến nay. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu của chị T công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh G,
chị H và chị T theo Giấy biên nhận bán đất ngày 04/4/2018 là phù hợp quy định
tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp này, các bên không phải
thực hiện công chứng, chứng thực. Thực tế, chị H đã nhận đủ số tiền
2.300.000.000đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do chị T trả. Đây là tài sản
chung của chị H và anh G, việc sử dụng, định đoạt khoản tiền này do chị H, anh
G tự giải quyết, trường hợp có tranh chấp anh chị có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác và không ảnh hưởng đến hiệu lực của việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên.
[2.2] Ngày 19/8/2018, tại Văn phòng C1, anh G, chị H ký 02 Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên với bên nhận
chuyển nhượng là ông Lưu Kim S, bà Hoàng Thị K (ông S là chú ruột của anh C
- chồng chị T). Chị T và ông S, bà K đều xác định việc ký hợp đồng nêu trên do
khi đó anh C - chồng chị T ở nước ngoài nên chị T nhờ ông S, bà K đứng tên bên
nhận chuyển nhượng đất với anh G, chị H. Sau khi ký hợp đồng trên, chị T là
người nhận đất và sử dụng đến nay; toàn bộ số tiền 2.300.000.000đồng trả cho
anh G, chị H là tiền của chị T. Anh G và chị H đều thừa nhận không chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông S, bà K. Như vậy, hai Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa anh G, chị H và ông S, bà K là hợp đồng giả tạo,
che dấu cho hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa anh G, chị H và chị T; mặc
dù hợp đồng có lập văn bản, có công chứng nhưng không nhằm mục đích xác lập
quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông S, bà K. Do vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 19/8/2018 vô hiệu là phù hợp quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự. Do thực
tế không có việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng giữa anh G, chị H và
ông S, bà K nên không đặt ra việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
[3] Với các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xác định toàn bộ kháng
cáo của anh G không có căn cứ chấp nhận cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Anh
G kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
8
[4] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Vũ Văn G. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2026/DS-ST ngày 17/6/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
2. Buộc anh Vũ Văn G phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm
được trừ vào số tiền 300.000đồng anh G đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu
tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000154 ngày 03/7/2026 của Thi hành án
dân sự thành phố Hải Phòng, anh G đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hải Phòng;
- Các đương sự;
- TAND khu vực 6 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 6 - Hải
Phòng;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Hữu Hiệu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 284/2026/DS-PT Bản án số 284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 284/2026/DS-PT Bản án số 284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất