Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 14/09/2024 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 14/09/2024 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Giang (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 28/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn P được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/12/2013 tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Cuộc sống hôn nhân của anh chị hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường xảy ra cãi cọ, xô xát. Năm 2016, sau khi con đầu của anh chị mất, năm 2017 chị sinh con thứ hai, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn thì mâu thuẫn giữa anh chị căng thẳng hơn. Năm 2019, chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời hạn 05 năm, quan hệ hôn nhân giữa anh chị có rạn nứt do không tin tưởng nhau. Từ đó, mâu thuẫn giữa anh chị không được giải quyết mà còn bỏ mặc tình trạng đó nên hôn nhân không được cải thiện. Từ tháng 5/2024 đến nay, anh chị ly thân hoàn toàn không còn quan tâm, gặp gỡ nhau.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-9-2024.
V/v ly hôn, tranh chấp v nuôi con.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Đức Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Đăng Đông
2. Vũ Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị May - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
tham gia phiên tòa: Phạm Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải
Dương xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 98/2024/TLST-HNGĐ ngày
13/6/2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện
B, tỉnh Hải Dương; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, H, huyện
B, tỉnh Hải Dương; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn
chị Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Nguyễn Văn P được tự do tìm hiểu, tự
nguyện đăng kết hôn ngày 20/12/2013 tại Ủy ban nhân dân (UBND) H,
huyện B, tỉnh Hải Dương được hai bên gia đình tổ chức lcưới theo phong tục.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng gia đình anh P đến năm 2019 chị
đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Tháng 5/2024 hết hạn hợp đồng lao động, chị
về Việt Nam sinh sống. Trong quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân của anh
chị hạnh phúc được vài năm đầu rồi thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
thuẫn do anh P không tu chí làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn chơi bời bài
bạc dẫn đến nợ nần, nhiều lần chị tham gia góp ý nhưng anh P không thay đổi,
vẫn thường xuyên đi chơi đến khuya muộn mới về, thậm cđi chơi đến vài ngày
2
mới về; vchồng thường xuyên cãi nhau. Mẫu thuẫn trầm trọng hơn kể từ khi anh
chị mất con đầu chị sinh con thứ hai. Sau khi chị sinh con thứ hai được một
tháng thì phát hiện anh có quan hbất chính với người phụ nkhác, chị đã về nhà
bố mẹ đẻ chị sinh sống. Năm 2018 chị làm đơn xin ly hôn anh P gửi Toà án huyện
Bình Giang. Tuy nhiên, sau khi anh P và gia đình anh đến xin lỗi, chị đã rút đơn
xin ly hôn, về đoàn tụ cùng anh P. Năm 2019, do kinh tế gia đình khó khăn, chị
đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Trong thời gian chị ở Nhật Bản, hai năm đầu
vợ chồng liên lạc qua điện thoại với nhau. Sau đó, anh P thường xuyên bảo ch
gửi tiền về để anh trả nợ. Ngoài ra, qua người nhà, chị biết anh P đưa người phụ
nữ khác về gia đình chung sống nên chị không còn tin tưởng anh P không liên
lạc với anh P nữa. Tháng 5/2024, chị về nước nhưng chỉ về nhà bố mẹ chồng chào
hỏi rồi xin phép về nhà bố mẹ đẻ chị , không quay lại chung sống với anh P nữa.
Anh P và bố mẹ anh có đến nhà chị nói chuyện 1 - 2 lần để đón chvề nhưng thái
độ của anh P thờ ơ, lạnh nhạt không muốn nói chuyện với chị. Nay chị xác định
tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn và anh
chị đã ly thân nhiều năm, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nên đề nghị
Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh P để sớm ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Anh chị sinh được hai con Nguyễn Thị N, sinh ngày
27/9/2014 (đã mất năm 2016) và Nguyễn Văn M, sinh ngày 06/01/2017, hiện do
anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị nguyện vọng được nuôi con tự
nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Trường hợp anh P không đồng ý, đnghị
Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình: Chị không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Trong q tnh Tòa án gii quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn n P không
đến m vic theo giấy triệu tập ca a án. Tiến nh m việc tại gia đình anh P, anh
trình y:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định điều kiện kết hôn, tình trạng hôn nhân
như chị T đã khai. Tuy nhiên, anh không xác định được ngun nhân dn đến tình
trạng n nhân của anh chị anh nghi nglòng chung thủy của chị T đối với anh
dẫn đến tình trạng n nhân của vợ chồng anh, như: Trong thời gian chị T đi lao
động Nhật Bản, vợ chồng thi thoảng liên lạc với nhau, chị T không gửi tiền về
cho anh để nuôi con (chỉ Lễ Tết mới gửi tiền cho con ăn Tết), không trách nhiệm
với con chị chặn số điện thoại của anh nên anh không liên lạc được với chị T.
Nay chị T xin ly hôn, anh không đồng ý vì không muốn bỏ vợ, bỏ con; anh muốn
chị T chung sống với anh để nuôi dạy con trưởng thành. Tuy nhiên, anh c định
không có bin pp nào để giải quyết mâu thuẫn, cải thiện quan hệ hôn nhân.
Về con chung: Anh chsinh được hai con Nguyễn Thị N, sinh ngày
27/9/2014 (đã mất năm 2016) và Nguyễn Văn M, sinh ngày 06/01/2017, hiện anh
trực tiếp nuôi con. Trường hợp anh chị phải ly hôn, anh nguyện vọng được tiếp
3
tục nuôi con Nguyễn Văn M vì anh đã một mình nuôi dưỡng từ lúc con một tuổi,
chị T không trách nhiệm với con. Về điều kiện nuôi con: Anh xác định làm
nghề tự do, thu nhập từ 10 - 12 triệu đồng, có nhà ở riêng và có sự hỗ trợ về việc
chăm sóc con từ bố mẹ anh nên anh tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng.
V tài sản: Anh kng yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại địa phương lời khai của người làm chứng cho thấy:
Anh Nguyễn Văn P và chị Bùi Thị T đăng ký kêt hôn và được gia đình tổ chức
lễ cưới. Quá trình chung sống, anh chị có mâu thuẫn và hiện sống ly thân. Từ khi
chị T đi lao động Nhật Bản về nước đến nay, chị không sinh sống cùng anh P.
Nay chị T xin ly hôn anh P, đề nghị Tòa án căn cứ tình trạng hôn nhân của anh
chị để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bđơn đều vắng mặt và đề nghị xét xử
vắng mặt.
Đại din Viện kim sát nhân dân huyện nh Giang phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật ca Thẩm phán, T ký, Hội đng t xử trong qtrình thụ ,
giải quyết vụ án m phn a. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp
luật, bđơn không chấp nh đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, 56,
81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Về
quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn P. Về con chung:
Giao cu Nguyễn Văn M, sinh ngày 06/01/2017 cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh P
không u cầu chT cấp ỡng nuôi con chung. Chị T quyền, nga vụ thăm nom
con chung không ai đưc cản trở. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Kng
phải giải quyết. Về án phí: Chị i Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm, được đối trvào tiền tạm ng án phí chđã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phn
toà và căn cứo kết quả tranh luận tại phn toà, Hội đồngt xử nhận định:
[1] Về tố tụng: ChBùi Thị T khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình,
là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn
anh Nguyễn Văn P địa chỉ tại H, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nên
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh
Hải Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39
của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị xét xử vắng mặt.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Điều 238 của Bộ luật T
tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị T anh Nguyễn Văn
P được xây dựng trên sở tự nguyện, đăng kết hôn ngày 20/12/2013 tại
4
UBND H, huyện B, tỉnh Hải Dương hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân của anh
chị hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
thuẫn chủ yếu do vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường
xảy ra cãi cọ, xát. Năm 2016, sau khi con đầu của anh chị mất, năm 2017 chị
sinh con thứ hai, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn thì mâu thuẫn giữa anh chị
căng thẳng hơn. Năm 2019, chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời hạn 05
năm, quan hệ hôn nhân giữa anh chị rạn nứt do không tin tưởng nhau. Từ đó,
mâu thuẫn giữa anh chị không được giải quyết còn bỏ mặc tình trạng đó nên
hôn nhân không được cải thiện. Từ tháng 5/2024 đến nay, anh chly thân hoàn
toàn không n quan tâm, gặp gỡ nhau. Lời khai của nguyên đơn bị đơn phù
hợp với lời khai của người làm chứng tài liệu xác minh, thu thập từ chính quyền
địa phương nơi anh chị cư trú gia đình. Anh P không đồng ý ly hôn không do
tình cảm của anh đối với chị T vẫn còn việc anh chị ly thân hoàn toàn cho thấy
anh chị để mặc tình trạng hôn nhân của mình mà không muốn cải thiện. Nvậy,
đủ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T anh P mâu thuẫn đã
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được;
Hội đồng xét xử có căn cứ để xử cho chị T ly hôn anh P.
[2] Về con chung: Anh chị hai con chung Nguyễn Thị N, sinh ngày
27/9/2014 (đã mất năm 2016) và Nguyễn Văn M, sinh ngày 06/01/2017, hiện anh
trực tiếp nuôi con. Xét thấy, anh P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con, có đủ
điều kiện để nuôi con, phù hợp với ý kiến của chị T nguyện vọng của con, nên
giao con chung cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cu n Hội đồng t xử kng phải
giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bluật Tố
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án p
và lệ phí Toà án. Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị T:
- Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn P.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Văn M, sinh ngày 06/01/2017 cho anh
Nguyễn Văn P tiếp tục trông nom, chămc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18
tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị Bùi Thị T cấp dưỡng
cho con. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
5
2. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp, theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0004963 ngày
13/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Chị
T đã nộp đủ án phí.
3. Vquyền kháng o: Nguyên đơn, bđơn quyền kháng o bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bn án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Bình Giang;
- Chi cục THADS huyện Bình Giang;
- UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương
(để ghi vào sHộ tịch);
- Lưu hồ sơ vụ án;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Đức Chính (đã ký)
Tải về
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất