Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 27/04/2022 của TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 28/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 28/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 27/04/2022 của TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bắc Tân Uyên (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 28/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/04/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày: 27 - 4 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Huy;
Ông Đoàn Văn Lước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân
Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Xuân Hiền - Kiểm Sát Viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh
Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
21/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
22/2022/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2022 và Thông báo thay đối thời gian mở
phiên tòa số 01/2022/TB-TA, ngày 15/4/2022, đối với bị cáo:
Bùi Trọng H, sinh năm: 1990, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú và chỗ ở
hiện nay: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn
hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ và 02 con, lớn nhất sinh năm 2013,
nhỏ nhất sinh năm 2015;
Tiền án: Ngày 06/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình
Dương xử phạt tiền 20.000.000đ về tội đánh bạc tại Bản án số 01/2016/HSST, bị cáo
chưa chấp hành; ngày 21/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình
Dương xử phạt 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số
19/2020/HS-ST, bị cáo chấp hành xong ngày 14/4/2021.
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 23/9/2004, bị Chủ tịch UBND huyện Tân Uyên (nay là thị xã
Tân Uyên) áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 18 tháng do trộm cắp tài sản,
tại quyết định số 1788/QĐUB-NC, chấp hành xong ngày 25/01/2006; ngày 22/4/2019,
bị Ủy ban nhân dân xã Lạc An, huyện Bắc Tân Uyên áp dụng biện pháp giáo dục tại địa
2
phương thời gian 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số
183/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 22/7/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/10/2021 đến ngày 19/10/2021 được trả tự do. Dến
ngày 06/11/2021 bị cáo bị bắt tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Cao Hoàng A (Tên khác là B), sinh năm: 1979, địa chỉ cư trú: Khu phố Z,
thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương - Có mặt.
2. Ông Đoàn Đức T, sinh năm: 1987, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã
T, huyện B, Thành phố Hà Nội; địa chỉ tạm trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương
- Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm: 1977, địa chỉ cư trú: Khu phố Z, thị trấn T,
huyện B, tỉnh Bình Dương - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Anh Phan Đình P, sinh năm: 1996, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã C, huyện
N, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ tạm trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương - Có đơn xin
xét xử vắng mặt.
5. Anh Bùi Văn M, sinh năm: 1999, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã
S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ tạm trú: Cửa hàng Vật liệu xây dựng N, ấp T, xã Đ,
huyện B, tỉnh Bình Dương - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
6. Anh Nguyễn Khoa K, sinh năm: 2003, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã T,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ tạm trú: Khu phố X, phường U, thị xã T, tỉnh Bình
Dương - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Bùi Trọng H và Nguyễn Khoa K theo học nghề tại tiệm sửa xe mô tô của ông
Đoàn Đức T thuộc ấp T, xã Đ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trước đó H có
quen biết và kết bạn qua mạng xã hội với người thanh niên tên T (Không rõ nhân thân,
lai lịch).
Ngày 15/10/2021, T đến nơi H học nghề gặp H và kêu H đến vườn cao su gần tiệm
sửa xe để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, T đưa cho H một viên nén màu
hồng gói trong túi nylon hàn kín và cho H biết đó là thuốc lắc (Ma túy loại MDMA) bảo
H cất giúp T. H nhận viên thuốc lắc cất vào hộp băng keo cá nhân có chữ URGO và
giấu vào ba lô quần áo cá nhân của H để tại Tiệm sửa xe. Việc sử dụng ma túy, giao
nhận và cất giấu viên ma túy MDMA giữa T và H, ông T và K hoàn toàn không biết.
Khoảng 20 giờ 00, ngày 18/10/2021, H hỏi mượn xe mô tô biển số 61NA-003.xx
của ông T để về nhà tại xã L, huyện B thì được ông T đồng ý và kêu K đi theo H để
chạy xe mô tô về trả lại ông T. H lấy hộp băng keo cá nhân bên trong có chứa viên thuốc
lắc cất vào cốp xe mô tô biển số 61NA-003.xx và chở K về xã L. Khi H và K đi đến
3
đoạn đường ĐH 414 thuộc tổ A, ấp C, xã L, huyện B thì bị lực lượng tuần tra công an xã
L dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 61NA-003.xx do
H điều khiển có 01 túi ny lon được hàn kín hai đầu, bên trong có 01 viên nén màu hồng
được ngụy trang trong chiếc hộp băng keo cá nhân hiệu URGO, nghi là ma túy nên lập
biên bản phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. Qua test nhanh cả Bùi Trọng H và
Nguyễn Khoa K đều dương tính với ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) viên nén màu hồng được gói trong túi nylon
hàn kín hai đầu; 01 (Một) vỏ hộp băng keo cá nhân có chữ URGO và 01 (Một) xe mô tô
nhãn hiệu HAVICO, biển số 61NA-003.11, số máy VKV1P52FMHH619320, số khung
RLHHC09036Y22492;
Tại Bản kết luận giám định số 695/MT-PC09, ngày 27/10/2021 của Phòng Kỹ
thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương đã kết luận: Viên nén màu hồng trong túi ny
lon hàn kín có trọng lượng 0,3511 gam, do Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Tân
Uyên trưng cầu giám định là ma túy thuộc loại MDMA.
Ngày 18/3/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên ban hành Cáo
trạng số 23/CT-VKS-BTU, truy tố Bùi Trọng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi,
bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên giữ nguyên
nội dung cáo trạng, không bổ sung, thay đổi hoặc rút truy tố đối với bị cáo Bùi Trọng H.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội tàng trữ trái
phép chất ma túy với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” và áp dụng điểm o
khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi,
bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo H mức án từ 05 năm đến 06 năm tù. Đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
tuyên tịch thu tiêu hủy 01 túi ny lon rỗng đựng trong một bì thư đã được Phòng Kỹ thuật
Hình sự Công an tỉnh Bình Dương niêm phong mang ký hiệu 695/MT-PC09 và vỏ hộp
băng keo cá nhân có in chữ URGO là dụng cụ đựng chất ma túy; đối vối viên nén màu
hồng là ma túy loại MDMA đã sử dụng hết cho công tác giám định; Tịch thu sung vào
ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HAVICO kiểu dáng Wave Trung Quốc, số
khung RLHHC 09036Y22492, số máy VKV1P52FMHH619320 do xe lắp ráp linh kiện
không rõ xuất xứ, nguồn gốc chủ sở hữu. Riêng biển số xe 61NA-003.xx thuộc sở hữu
của bà Nguyễn Thị Kim Q nhưng bà Q không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo Bùi Trọng H nhận tội nên không tranh luận vể tội danh, mức hình phạt theo
luận tội của Viện Kiểm sát, bị cáo không bào chữa gì khác. Bị cáo nói lời sau cùng xin
được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Các hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ có
liên quan trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng huyện Bắc Tân Uyên. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đoàn Đức T,
Nguyễn Thị Kim Q, Phan Đình P, Bùi Văn M, Nguyễn Khoa K không ảnh hưởng đến
kết quả giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo không ai đề nghị
hoãn phiên tòa để triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên. Căn cứ Điều
292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người tham
gia tố tụng nói trên.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Trọng H đã thành khẩn khai nhận tội như nội dung
cáo trạng Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu,
đồ vật, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 18/10/2021, tại
đoạn đường ĐH 414 thuộc tổ A, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Bùi
Trọng H đã cất giấu ma túy loại MDMA, trọng lượng 0,3511 gam được nén thành viên
màu hồng trong cốp xe mô tô biển số 61NA-003.xx, đã bị phát hiện thu giữ. Hành vi
trên đây do bị cáo H thực hiện đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất
ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo H có
02 tiền án chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội mới nên hành vi tàng trữ ma túy do bị
cáo H thực hiện ngày 18/10/2021 thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Viện
Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố và luận tội đối với bị cáo Bùi Trọng H
phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm”
theo khoản 2 Điều 53 và điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người,
đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực
tiếp đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy và chất gây nghiện
khác. Bị cáo là người nghiện ma túy, từng bị Ủy ban nhân dân xã Lạc An xử phạt hành
chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2019. Đến năm 2020 bị cáo lại
bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng sau khi chấp hành án xong bị cáo
không tự cai nghiện ma túy lại tiếp tục sử dụng ma túy nên đã có hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy để thỏa mãn cơn nghiện bản thân. Chứng tỏ bị cáo xem thường pháp
luật, không quyết tâm cai nghiện để tái hòa nhập cộng đồng tránh xa ma túy. Do vậy,
cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời
gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo chấp hành pháp luật, tự cải tạo bản thân trở
thành người tốt và nhằm mục đích đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn mua bán, vận chuyển,
tàng trữ trái phép chất ma túy trong xã hội.
5
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thuộc trường hợp có
nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn
ăn, hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy rõ sự nhân đạo của Nhà nước đối với
người phạm tội biết hối hận hành vi phạm tội và ăn ăn, hối cải về hành vi do chính bị
cáo gây ra.
[6] Tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với từng bị cáo
do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp
nhận toàn bộ.
[7] Đối với người có tên T đã cung cấp viên thuốc lắc, màu hồng (MDMA) cho bị
cáo (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể), cơ quan điều tra tiếp tuc điều tra để xử lý sau là
đúng quy định nên không đặt ra xem xét. Đối với Nguyễn Khoa K do bị cáo Bùi Trọng
H chở đi cùng xe mô tô biển số 61NA-003.xxnhưng K không biết bị cáo cất giữ ma túy
trong cốp xe nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 bì thư đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương
niêm phong ghi số 695/PC09 bên trong có 01 túi nylon đựng viên nén, màu hồng là ma
túy loại MDMA, riêng viên nén màu hồng MDMA đã sử dụng hết cho công tác giám
định và 01 vỏ hộp băng keo cá nhân có in chữ URGO là vật dụng cất giấu ma túy nên
tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HAVICO, biển số 61NA-003.xx, số máy
VKV1P52FMHH619320, số khung RLHHC09036Y22492, là loại xe lăp ráp không rõ
nguồn gốc, chủ sở hữu nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Riêng biển số xe
61NA-003.xx có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị Kim Q nhưng bà Q không yêu cầu nhận
lại nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2
Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Áp dụng khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333
Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trọng H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
6
- Xử phạt bị cáo Bùi Trọng H 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 06/11/2021 và được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày
18/10/2021 đến ngày 19/10/2021.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã được Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình
Dương niêm phong ghi số 695/PC09 bên trong có 01 túi nylon rỗng; 01 (Một) vỏ hộp
băng keo cá nhân có chữ URGO; 01 (Một) biển số xe mô tô 61NA-003.11.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HAVICO
kiểu dáng Wave do Trung Quốc sản xuất, số máy VKV1P52FMHH619320, số khung
RLHHC09036Y22492.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2022 của Chi cục thi hành án dân
sự huyện Bắc Tân Uyên).
4. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Trọng H phải nộp 200.000đ (Hai trăm
nghìn đồng).
5. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cao Hoàng A có mặt tại phiên
tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai
theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự /.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương (01);
- VKSND tỉnh Bình Dương (01);
- Công an tỉnh Bình Dương (PV27) (01);
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
- VKSND huyện Bắc Tân Uyên (01);
- Công an huyện Bắc Tân Uyên (01);
- Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên (01);
- Bị cáo Bùi Trọng H (01);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (06);
- Lưu: HSVA, VT (02).
TM. HỘI ĐNG XT X SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Thanh
7
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm