Bản án số 28/2013/DS ngày 28/02/2023 của TAND tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2013/DS

Tên Bản án: Bản án số 28/2013/DS ngày 28/02/2023 của TAND tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hậu Giang
Số hiệu: 28/2013/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/02/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông D yêu cầu bà C trả khoản nợ vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG
Bản án số: 28/2023/DS-PT
Ngày: 28 02 - 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản và đòi lại tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Phượng.
Ông Hồ Văn Luông.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Chúc Thư Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Phùng Bích
Tuyền - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 94/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 10
năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 29/2022/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2022
của Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 209/2022/QĐPT - DS
ngày 07 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh D (T), sinh năm 1960.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: Khu vực 7,
phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang ại diện theo ủy quyển - văn bản ủy
quyền ngày 16 tháng 12 năm 2022), có mặt.
2. Bị đơn: Bà Phan Thị Mộng C, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Khu vực B, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại din hợp pháp: Ông Trương Thanh V, địa chỉ: Khu vực B,
phường N, thành phố V, tỉnh Hậu Giang ại diện theo ủy quyển - văn bản y
quyền ngày 13 tháng 4 năm 2022), có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phan Thị Thu H.
Địa chỉ: Số 10F/10, đường L, khu vực B, phường B, quận B, thành phố
Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp: Bà Hồ Thị T.
Địa chỉ 378E12/7A, khu vực B, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ
ại diện theo ủy quyền - văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 02 năm 2023), có mặt.
3.2. Ông Lê Thanh N.
Địa chỉ: Khu vực B, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
2
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như
sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D trình bày: Vào ngày 01/01/2018
Phan Thị Mộng C vay của ông số tiền 130.000.000 đồng, tuy nhiên khi lập
biên nhận lại ghi 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trong đó
Phan Thị Thu H nhận nợ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), khi vay để n
người vay gồm ông Thanh N Phan Thị Mộng C, nhưng phần tên vay
tiền chỉ có bà Phan Thị Mộng C tên. Lãi suất vay hai bên thỏa thuận
0,90%/tháng, 10 ngày trả lãi 01 lần, thời hạn vay 01 năm sẽ trả vốn và lãi. Từ khi
vay, bà C chỉ trả lãi suất cho ông D được 02 tháng với số tiền 25.100.000 đồng thì
ngưng cho đến nay. Ông D nhiều lần yêu cầu C trả nợ nhưng bà C hứa hẹn mà
không thực hiện.
Ông D yêu cầu bị đơn C nghĩa vụ trả cho ông số tiền còn nợ
130.000.000 đồng lãi suất 0,9%/tháng từ ngày 01/01/2018 cho đến ngày xét
xử sơ thẩm. Ông D đồng ý khấu trừ số tiền lãi bà C đã trả cho ông.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Phan Thị Mộng C trình bày :
thừa nhận trước đây vay của ông Nguyễn Thanh D số tiền 60.000.000 đồng
(Sáu mươi triệu đồng), không vay số tiền 130.000.000 đồng. Khi vay tiền của
ông D, bà C lập biên nhận nợ tiền 60.000.000 đồng, chỉ ký tên vào biên
nhận nợ tiền còn tiền thì không nhận mà Phan Thị Thu H người nhận
tiền vay, C kng nhận tin. Sau khi vay số tiền 60.000.000 đồng của ông D
thì bà C có trả lãi cho ông D nhiều lần nhưng bà không nhớ số tiền bao nhiêu, khi
giao tiền lãi thì giao cho Phan Thị Thu H nhận để trả cho ông D. C
yêu cầu phản tố đối với H, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc H có nghĩa vụ
trả cho bà số tiền 130.000.000 đồng mà bà H đã nhận của ông D thay cho bà.
Tại phiên tòa thẩm, ông Trương Thanh V người đại diện theo ủy
quyền của Phan Thị Mộng C đồng ý trả số tiền còn nợ 130.000.000 đồng cho
ông Nguyễn Thanh D nhưng yêu cầu Tòa án khấu trừ số tiền 25.100.000 đồng mà
C đã trả cho ông D, không đồng ý trả lãi suất theo yêu cầu của nguyên đơn
Nguyễn Thanh D, đồng thời giữ nguyên yêu cầu phản tố của bà C đối với bà Phan
Thị Thu H, yêu cầu bà Phan Thị Thu H trả cho bà C số tiền 130.000.000 đồng,
số tiền này bà H nhận của ông D.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Thu H trình bày: Vào
năm 2014, H bảo lãnh cho Phan Thị Mộng C vay của ông Nguyễn Văn
Đ số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi vay tiền C trả cho ông Đ nhiều lần, đến
năm 2018 còn nợ lại 50.000.000 đồng. Ngoài ra, C còn nhờ H vay mượn
tiền của nhiều người cho bà C. Đến năm 2018, do bà H không có khả năng trả nên
bà H yêu cầu C vay tiền của ông Nguyễn Thanh D để bà H trả nợ cho bà C. Vì
vậy ngày 01/01/2018, Phan Thị Mộng C giấy vay tiền của ông Nguyễn
Thanh D số tiền 150.000.000 đồng, thực chất C chỉ vay của ông D số tiền
130.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng của C mượn của Tăng Minh P (đã
giải quyết xong bằng Bản án). Khi đó, bà C ký tên vào biên nhận nợ trước rồi ông
3
D giao cho H stiền 130.000.000 đồng, số tiền này H nhận thay để trả nợ
thay cho C. Nay H yêu cầu bà C phải trả cho ông D số tiền 130.000.000
đồng lãi suất phát sinh theo quy định. Đối với yêu cầu phn tố của C yêu
cầu bà H trả số tiền 130.000.000 đồng, bà không đồng ý.
Tại bản tự khai người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thanh N
trình bày: Ông chồng của bà Phan Thị Mộng C, việc C vay tiền của ông
Nguyễn Thanh D như thế nào thì ông không biết, ông không có ký tên vào bất kỳ
biên nhận nợ nào với ông D. Nay các bên phát sinh tranh chấp thì ông yêu cầu
Tòa án giải quyết theo quy định. Do điều kiện làm ăn nên ông yêu cầu Tòa án giải
quyết vắng mặt ông trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án sơ thẩm số 29/2022/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Tòa
án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh D đối với bị đơn bà Phan Thị Mộng C.
Không chấp nhận yêu cầu số tiền lãi suất của nguyên đơn Nguyễn Thanh
D đối với bị đơn Phan Thị Mộng C.
Buộc bị đơn Phan Thị Mộng C nghĩa vụ trcho nguyên đơn Nguyễn
Thanh D số tiền 104.900.000 đồng (Một trăm lẽ bốn triệu, chín trăm nghìn
đồng).
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bị đơn Phan Thị Mộng C đối với người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu H.
Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu H có nghĩa vụ
trả cho bị đơn Phan Thị Mộng C số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi
triệu đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên ván phí dân sự thẩm, quyền yêu
cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20 tháng 6 năm 2022, ông Nguyễn Thanh D đơn kháng cáo đối
với bản án dân sự sơ thẩm số 29/2022/DS-ST ngày 06/6/2022 của Tòa án nhân
dân thị Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết buộc bị
đơn phải trả lãi 38.080.000 đồng.
Ngày 20 tháng 6 năm 2022, Phan Thị Thu H đơn kháng cáo đối với
bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Yêu
cầu cấp phúc thẩm giải quyết bác yêu cầu phản tố của bị đơn bà C buộc bà H phải
trả cho bà C số tiền 130.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, thay đổi một
phần yêu cầu kháng cáo, yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc 130.000.000 đồng
phải trả lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 01/6/2022.
Đại diện cho người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu H giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo đồng thời cho rằng cấp thẩm vi phạm thủ tục tố
tụng. Do C yêu cầu phản tố bỏ sót cách người tham gia tố tụng
người làm chứng đối với bà H.
Đại diện cho bị đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn;
Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
H, đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm từ
giai đoạn thụ đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị áp dụng khoản 2
Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông D và chấp nhận một phần kháng cáo
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H.
Kiến nghị cấp thẩm vi phạm về việc không gia hạn thời hạn xét xử,
không xử lý tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D
người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu H kháng cáo trong
thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Đối với yêu cầu phản tố của C được cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết, xét
thấy bà H không yêu cầu độc lp trong vụ án nng lại chấp nhận thụ lý, giải
quyết yêu cầu phản tố của bà C là chưa chính xác. Tuy nhiên, số tiền 130.000.000
đồng nguyên đơn khởi kiện liên quan đến cả C H. vậy khi được
giải quyết chung trong vụ án sẽ giải quyết triệt đcác vấn đề nhanh gọn hơn.
Do đó không cần thiết phải hủy đối với phần yêu cầu phản tố của C để giải
quyết lại.
Đối với cách người làm chứng trong vụ án thì tùy vào từng vụ án để
a án xác định cần thiết phải đưa người làm chứng tham gia trong vụ án hay
không. Mặt khác, trong vụ án này H đang người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn. Do đó nếu đưa H tham gia tố tụng
với cách người làm chứng không đúng, không khách quan nên cấp thẩm
không phải đưa bà H tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng.
[2] Về nội dung:
Căn cứ kết luận giám định xác định chữ trong biên nhận nợ ngày
01/1/2018 là của C. Tại phiên tòa, đại diện cho C thừa nhận C nợ ông D
130.000.000 đồng tiền gốc nên cấp thẩm đã xác định C nợ ông D
130.000.000 đồng tiền gốc các đương sự kng kháng cáo phần này.
[2.1] Đối với kháng cáo của ông D yêu cầu bị đơn C phải trách
nhiệm trả khoản lãi của số tiền vay 130.000.000 đồng theo mức lãi suất
0,83%/tháng x 54 tháng, tính tngày 01/1/2018 đến ngày 01/6/2022, thấy rằng
theo biên nhận lập ngày 01/01/2018 thể hiện ông D cho bà C mượn tiền không có
từ nào để cho vay tiền và không đề cập đến lãi suất. Tuy nhiên tại các bản tự khai,
biên bản hòa giải C thừa nhận vay tiền 60.000.000 đồng và chỉ ký 01 biên
nhận vay nợ duy nhất, đã đóng lãi cho ông D nhiều lần nhưng không nhớ số
tiền bao nhiêu. Như vậy C thừa nhận giao dịch với ông D hợp đồng vay
thỏa thuận trả lãi. Mặt khác, đối với hợp đồng vay tài sản, theo quy định tại Điều
464 Bộ luật dân sự thì bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể tthời điểm
nhận tài sản đócòn hợp đồng mượn tài sản theo quy định tại Điều 494 Bluật
dân sự thì bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết hạn mượn hoặc mục đích
mượn đã đạt được. Nếu giao dịch vay tiền thì số tiền của ông D sau khi giao,
5
ông D sẽ không còn quyền sở hữu định đoạt đối với số tiền này, còn nếu
mượn tiền thì bên mượn phải trả lại đúng tờ tiền đã nhận từ ông D mà không phải
trả bằng tờ tiền khác. Trong khi đó, mục đích C vay tiền của ông D là để trả
nợ cho các chủ nợ khác C cũng đã thừa nhận đã nhờ H trả cho c chủ
nợ khác 60.000.000 đồng. Từ đó, có căn cứ xác định C vay tiền của ông D,
hai bên thỏa thuận lãi suất nên cần buộc C phải trả cho ông D số tiền gốc
130.000.000 đồng lãi phát sinh. Cấp thẩm căn cứ vào chữ “mượn” trong
biên nhận mượn tiền để cho rằng đây hợp đồng mượn tài sản không chính
xác.
Về số tiền lãi: Ông D cho rằng lãi suất thỏa thuận 0,9%/tháng C đã
đóng cho ông được 02 tháng bằng 25.100.000 đồng. Tại các bản tự khai hòa
giải, C thừa nhận đã đóng lãi cho ông D nhiều lần nhưng không nhớ đóng bao
nhiêu gửi tiền cho H đóng dùm. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền
cho bà C trình bày không có thỏa thuận lãi suất. Xét thấy hai bên đương sự không
thống nhất được mức lãi suất, hơn nữa với số tiền C đã trả 02 tháng i không
thể bằng 25.100.000 đồng nếu mức lãi suất 0.9% nông D trình bày. Mặt
khác, ông D không chứng minh mức lãi suất cho vay 0.9%/tháng nên thuộc
trường hợp tranh chấp và không xác định được lãi suất. Vì vậy cần áp dụng khoản
2 Điều 468 Bộ luật dân sự, lãi suất được tính 10%/năm tương ứng với mức lãi
suất 0,83%/tháng nên yêu cầu kháng cáo của nguyên đề nghị mức lãi suất
0.83%/tháng phợp, cụ thể lãi suất được tính như sau: nh từ ngày cho vay
01/01/2018 đến ngày 01/6/2022 (ông D chỉ yêu cầu tính đến ngày 01/6/2022)
04 năm 06 tháng = 58.500.000 đồng. Ông D thừa nhận bà C đã đóng lãi được
25.100.000 nên được khấu trừ vào số tiền lãi 58.500.000 đồng. Như vậy, số tiền
lãi bà C còn phải trả cho ông D là 33.400.000 đồng.
Tổng nợ gốc nlãi C phải trả cho ông D bằng 130.000.000 đồng +
33.400.000 đồng = 163.400.000 đồng.
[2.2] Đối với kháng cáo của bà H, xét thấy H thừa nhận có nhận số tiền
130.000.000 đồng từ ông D giao. Tuy nhiên tại biên bản tự khai biên bản hòa
giải cùng ngày 13/4/2021, C thừa nhận vay của ông D 60.000.000 đồng”
thừa nhận tiền vay do H nhận để trả khoản vay cho người khác dùm C.
Tại biên bản lấy lời khai tại biên bản hòa giải cùng ngày 10/01/2020 của Tòa
án nhân dân thị Long Mỹ, C thừa nhận do C nợ lãi 10.000.000 đồng
50.000.000 đồng tiền gốc nên C nhờ H giới thiệu cho C vay của ông D
để trả nợ còn thiếu. Ông D cho bà vay 60.000.000 đồng. Bà kêu ông D kiếm thêm
cho 30.000.000 đồng, vài ngày sau H điện cho nói ông D cho
130.000.000 đồng nên kêu bà H lấy 60.000.000 đồng trả khoản nợ
60.000.000 đồng còn 70.000.000 đồng yêu cầu bà H đưa lại cho để bà làm lò
bún nhưng bà H không giao. Từ đó, có căn cứ cho rằng trong số tiền 130.000.000
đồng H nhận thay cho C từ ông D giao, C đã nhờ H trnợ giùm cho
C 60.000.000 đồng nên chỉ còn lại 70.000.000 đồng H đang giữ của C,
cấp thẩm buộc H phải trả toàn bộ 130.000.000 đồng thiệt thòi quyền lợi
cho bà H. Về phía H cho rằng đã trả nợ thay cho C hết 130.000.000
đồng. Tuy nhiên, C thừa nhận chỉ nhờ H trả nợ dùm 60.000.000 đồng, n
6
70.000.000 đồng H không chứng minh đã trả thay cho C nên H
trách nhiệm trả lại cho bà C 70.000.000 đồng là phù hợp.
[3] Án phí sơ thẩm:
Ông D phải chịu án phí thẩm 300.000 đồng đối với phần lãi không
được chấp nhận 3.744.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông
D đã nộp.
C phải chịu án phí 5% đối với số tiền nguyên đơn được chấp nhận
163.400.000 đồng tương ứng án phí phải chịu 8.170.000 đồng. Do C yêu
cầu phản tố và đã nộp tiền tạm ứng án phí với số tiền 4.493.000 đồng theo biên lai
số 0004203 ngày 12/4/2011 nhưng cấp thẩm không xử lý đối với số tiền này
nên cấp phúc thẩm cần khấu trừ cho bà C vào số tiền án phí sơ thẩm.
H phải chịu 3.500.000 đồng nhưng được miễn án phí do thuộc trường
hợp người cao tuổi trong giai đoạn xét xử phúc thẩm H cũng đã có đơn xin
miễn án phí.
[4] Từ những căn cứ trên, xét thấy kháng cáo của ông Nguyễn Thanh D có
căn cứ nên được chấp nhận và căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của
Phan Thị Thu H.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ nên được
chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh D Phan Thị
Thu H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; điều 147, 161 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
357; 463, 468 Bộ luật dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa án
Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa v liên
quan bà Phan Thị Thu H.
Sửa bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân thị Long Mỹ, tỉnh Hậu
Giang.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thanh
D đối với bị đơn Phan Thị Mộng C.
Buộc bị đơn bà Phan Thị Mộng C nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông
Nguyễn Thanh D số tiền 163.400.000 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm
nghìn đồng trong đó nợ gốc 130.000.000 đồng, nợ lãi 33.400.000 đồng ), .
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Phan Thị Mộng C đối
với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu H.
Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu H có nghĩa vụ
trả cho bị đơn Phan Thị Mộng C số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
7
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. i suất chậm trả
tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức
lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu
không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D phải chịu 300.000 đồng (Ba triệu một
trăm mười hai nghìn, hai trăm đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp
3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số
0005290 ngày 13/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị Long Mỹ, tỉnh
Hậu Giang. Ông Nguyễn Thanh D còn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí
2.850.000 đồng.
Bị đơn Phan Thị Mộng C phải chịu 8.170.000 đồng (Tám triệu một
trăm bảy mươi nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 4.493.000
đồng đã nộp theo biên lai số 0004203 ngày 12/4/2021 của Chi cục thi hành án dân
sự thị Long Mỹ. C còn phải nộp 3.677.000 đồng (Ba triệu sáu trăm sáu
mươi bảy nghìn đồng).
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan ThThu H được miễn án
phí sơ thẩm.
4. Chi phí giám định: Bị đơn Phan Thị Mộng C phải chịu 2.000.000 đồng
(Hai triệu đồng), bà C đã nộp xong.
5. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh D Phan Thị Thu H không
phải chịu. Ông Nguyễn Thanh D được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
theo biên lai số 0004297 ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân
sự thị xã Long Mỹ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 9
Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 28/02/2023.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hậu Giang;
- TAND thị xã Long Mỹ, Hậu Giang;
- Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Thị Thọ
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
……………….. ……………. Lê Thị Thọ
Tải về
Bản án số 28/2013/DS Bản án số 28/2013/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất