Bản án số 27/2026/HS-ST ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 27/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 27/2026/HS-ST ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
Tội danh: 224.Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lai Châu
Số hiệu: 27/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Cuối năm 2024, Ủy ban nhân dân xã HL, huyện P (cũ), tỉnh Lai Châu được giao làm chủ đầu tư công trình duy tu, bảo dưỡng đường giao thông nông thôn nội bản L, xã HL với nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho hạng mục thi công xây dựng là 467.588.987 đồng. Để công trình được triển khai đáp ứng điều kiện của công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, bị cáo Hoàng A D - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo bị cáo Lý Hùng T - công chức địa chính xã lập hồ sơ nhà thầu là Tổ thợ thuộc địa bàn xã, còn thực tiễn thi công giao cho Công ty TNHH MTV TP, do bị cáo Trần Minh P là Giám đốc thực hiện. Sau đó, đến ngày 29/12/2024 để công trình được nghiệm thu, quyết toán trước ngày 31/12/2024 nhằm đạt 100% vốn đầu tư công nên dù biết rõ công trình thi công còn thiếu khối lượng nhưng Hoàng A D - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã vẫn chỉ đạo các bị cáo Xè A G - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, bị cáo Lý Hùng T - công chức địa chính xã, bị cáo Giàng A H1 - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã cùng bị cáo Trần Minh P tiến hành nghiệm thu đối với 100% khối lượng công trình và quyết toán. Sau khi nhận thanh toán toàn bộ số tiền thi công công trình, bị cáo P không tiếp tục tiến hành thi công phần công trình còn thiếu theo hồ sơ thiết kế dẫn đến công trình không được hoàn thành. Hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 124.670.774 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 27/2026/HS-ST Bản án số 27/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 27/2026/HS-ST Bản án số 27/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 27/2026/HS-ST
Ngày: 22-6-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Tuyến
Ông Nguyễn Văn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Kháng A Thành-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà
Lê Thị Lệ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2026/TLST-HS ngày 13
tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HS
ngày 05 tháng 6 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Hoàng A D; Sinh năm 1981 tại tỉnh Lai Châu; Số CCCD: ************
cấp ngày 24/9/2021; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Bản H, xã
P, tỉnh Lai Châu; Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đã bị khai trừ ra khỏi
Đảng; Nghề nghiệp: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã P, tỉnh Lai Châu, hiện
đang bị tạm đình chỉ công tác (Nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HL, huyện P,
tỉnh Lai Châu); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng A D1 (đã chết) và bà Chu Mì
N, sinh năm 1961; Vợ: Lỳ Mì C, sinh năm 1985; Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh
năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/01/2026 cho đến nay (Có
mặt).
2. Lý Hùng T; Sinh năm 1990 tại tỉnh Lai Châu; Số CCCD: ************
cấp ngày 28/6/2022; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Tổ dân phố
HN, xã P, tỉnh Lai Châu; Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đã bị khai trừ
ra khỏi Đảng; Nghề nghiệp: Công chức phòng Kinh tế xã P, tỉnh Lai Châu, hiện
đang bị tạm đình chỉ công tác (Nguyên công chức địa chính xã HL, huyện P, tỉnh
Lai Châu); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Quang M, sinh năm 1962 và bà Lý Lở
M1, sinh năm 1960; Vợ: Bùi Minh Th, sinh năm 1993; Con: Có 03 con, con lớn
nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/01/2026 cho đến
nay (Có mặt).
2
3. Xè A G; Sinh năm 1980 tại tỉnh Lai Châu; Số CCCD: ************ cấp
ngày 24/7/2023; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Bản HL1, xã P,
tỉnh Lai Châu; Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đã bị khai trừ ra khỏi
Đảng; Nghề nghiệp: Phó trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã P, hiện đang bị tạm đình
chỉ công tác (Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HL, huyện P, tỉnh Lai Châu);
Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; Con ông: Xè A Đ (đã chết) và bà Chang Mỳ D2, sinh năm 1959;
Vợ: Cao Mì D3, sinh năm 1984; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ
sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/01/2026 cho đến nay (Có mặt).
4. Trần Minh P; Sinh năm 1985 tại tỉnh Lai Châu; Số CCCD: ************
cấp ngày 12/10/2022; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Thôn T,
xã P, tỉnh Lai Châu; Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đã bị khai trừ ra
khỏi Đảng; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV TP; Trình độ học vấn:
12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con
ông: Trần Văn C, sinh năm 1930 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1947; Vợ: Cù Thị Th,
sinh năm 1989; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm
2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi
nơi cư trú từ ngày 27/01/2026 cho đến nay (Có mặt).
5. Giàng A H1; Sinh năm 1986 tại tỉnh Lai Châu; Số CCCD: ************
cấp ngày 11/8/2021; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Bản PT, xã
P, tỉnh Lai Châu; Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đã bị khai trừ ra khỏi
Đảng; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã
HL, huyện P, tỉnh Lai Châu); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng A C1, sinh năm 1958
và bà Ma Mỳ X, sinh năm 1960; Vợ: Lừu Mỳ T1, sinh năm 1989; Con: Có 02 con,
con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/4/2026 cho đến nay
(Có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng A D, Xè A G và Giàng A H1: Bà
Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước
tỉnh Lai Châu (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu; Người đại diện theo ủy quyền: Bà
Sùng Ngọc Th1, sinh năm 1978 - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Tổ dân phố HB, xã P, tỉnh Lai Châu (Có
mặt).
2. Ông Nguyễn Châu S, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Bản H2, xã DS, tỉnh Lai
Châu (Vắng mặt).
3. Ông Chu A N, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Bản H, xã P, tỉnh Lai Châu
(Vắng mặt).
4. Ông Trần Văn H, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn ĐC1, xã A, tỉnh Hưng
Yên (Vắng mặt).
3
5. Ông Lý A D4, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Bản L, xã P, tỉnh Lai Châu
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Công trình duy tu, bảo dưỡng đường
giao thông nông thôn nội bản L, xã HL, huyện P (cũ), tỉnh Lai Châu (viết tắt là
Công trình) được đầu tư theo Quyết định số 2357/QĐ-UBND ngày 14/11/2024 của
Ủy ban nhân dân huyện P. Công trình sử dụng nguồn vốn sự nghiệp thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia với dự toán ngân sách Nhà nước giao là
495.000.000 đồng, trong đó: Chi phí xây dựng 468.588.987 đồng (vốn Nhà nước
hỗ trợ 467.588.987 đồng, nhân dân đóng góp 1.000.000 đồng); chi phí hỗ trợ chuẩn
bị đầu tư 8.893.246 đồng; chi phí hỗ trợ quản lý, thực hiện dự án 17.517.767 đồng.
Theo cơ chế đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia thì công
trình trên phải do nhà thầu là cộng đồng dân cư, tổ, nhóm thợ tại địa bàn xã HL
thực hiện. Do tại xã HL không có nhà thầu nào nên để triển khai công trình, bị cáo
Lý Hùng T - Công chức địa chính xã HL đã tham mưu cho bị cáo Hoàng A D -
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HL giao công trình trên cho Công ty TNHH MTV
TP do bị cáo Trần Minh P làm Giám đốc thực hiện. Bị cáo D đồng ý với đề xuất
của bị cáo T nhưng để hợp lý hóa, yêu cầu bị cáo T lập hồ sơ nhà thầu công trình
là tổ thợ duy tu, bảo dưỡng các công trình trên địa bàn xã HL do ông Lý A D4 là
trưởng bản L, xã HL đứng tên đại diện. Bản thân bị cáo P được bị cáo D và bị cáo
T liên hệ, trao đổi giao công trình cho thi công mà không phải làm hồ sơ thầu. P
biết rõ chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân xã HL phải dùng nhà thầu khác để lập hồ sơ
hợp lý hóa.
Khi công trình được triển khai, người được Ủy ban nhân dân xã giao nhiệm
vụ kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo về tiến độ thực hiện, kích thước hình học cơ
bản (chiều dày, bề rộng, chiều dài tuyến đường) và chất lượng thi công công trình
là bị cáo Giàng A H1 - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã HL, Trưởng ban pháp
chế Hội đồng nhân dân xã, thành viên Ban quản lý xã HL.
Do nhận thức công trình sử dụng vốn đầu tư công thực hiện chương trình
mục tiêu quốc gia phải được nghiệm thu, quyết toán trước ngày 31/12/2024 nên bị
cáo D với vai trò là đại diện chủ đầu tư, lo lắng nếu không giải ngân vốn đầu tư
công trình đạt 100% thì sẽ ảnh hưởng đến Ủy ban nhân dân xã HL. Đồng thời,
cũng do một phần tin tưởng bị cáo P sẽ thi công nốt phần khối lượng còn lại nên
ngày 29/12/2024, bị cáo D biết rõ công trình thi công còn thiếu 54,8m Nhánh 01
và thiếu 215,7m Nhánh 02 so với hồ sơ thi công xây dựng nhưng bị cáo D vẫn chỉ
đạo bị cáo Xè A G - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HL cùng các bị cáo Lý
Hùng T, Giàng A H1 và thống nhất với bị cáo Trần Minh P nghiệm thu toàn bộ
100% khối lượng công trình để đưa vào sử dụng, cụ thể: Nhánh 01 nghiệm thu đủ
510m, Nhánh 02 nghiệm thu đủ 315m tương đương giá trị theo hợp đồng là
467.588.987 đồng. Bị cáo P biết rõ việc nghiệm thu thiếu khối lượng công trình
theo chỉ đạo của bị cáo D là sai nhưng vẫn đồng ý cùng thực hiện việc nghiệm thu.
4
Ngày 21/01/2025, bị cáo D chỉ đạo kế toán của Ủy ban nhân dân xã HL rút
và thanh toán toàn bộ số tiền 467.588.000 đồng là chi phí xây dựng thuộc vốn Nhà
nước hỗ trợ cho hạng mục thi công xây dựng công trình trên cho bị cáo Trần Minh
P. Thời gian sau đó, bị cáo D đã nhiều lần yêu cầu bị cáo P tiếp tục thi công khối
lượng công trình còn thiếu và đã được nghiệm thu, thanh toán khống nhưng P
không thực hiện.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về các vấn đề khác của vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo trình bày, các bị cáo
đã tự nguyện nộp để khắc phục toàn bộ hậu quả, cụ thể: Các bị cáo Hoàng A D,
Lý Hùng T, Xè A G và Giàng A H1 mỗi bị cáo nộp 5.000.000 đồng, bị cáo Trần
Minh P nộp 104.936.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã P tại phiên tòa trình bày:
Đề nghị các bị cáo bồi thường thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã với tổng số tiền
các bị cáo đã nộp là 124.936.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lý A D4 trong quá
trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Ông là trưởng bản L, vào
khoảng cuối năm 2024, bị cáo Lý Hùng T có điện thoại cho ông nói quá trình thi
công mở đường ông có trách nhiệm giám sát, giúp đơn vị thi công giải phóng mặt
bằng, nếu có gì vướng mắc giữa người dân và đơn vị thi công thì đứng ra giải quyết
và đại diện để lấy tiền thanh toán cho đơn vị thi công. Ngày 20/01/2025, bị cáo Lý
Hùng T điện thoại cho ông và bảo ngày 21/01/2025 đi cùng Chu A N là thủ quỹ xã
HL đến ngân hàng rút tiền thanh toán công trình về đưa cho kế toán xã. Sau khi rút
được tiền, ông và N mang về đưa cho kế toán xã là Nguyễn Châu S, S có cho ông
và ông N mỗi người 500.000 đồng xăng xe. Ngoài ra, ông không biết nội dung gì
khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Chu A N trong quá
trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Ông được giao nhiệm vụ kiêm
thủ quỹ xã nên ngày 21/01/2025, ông đi cùng Lý A D4 ra ngân hàng rút tiền về
đưa cho Nguyễn Châu S để trả cho đơn vị thi công, S có cho ông và D4 mỗi người
500.000 đồng xăng xe. Ngoài ra, ông không biết nội dung gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Châu S
trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Ông là kế toán xã
nên ngày 21/01/2025 ông được Lý A D4 và Chu A N đưa cho ông 467.588.000
đồng để trả cho đơn vị thi công, sau khi nhận tiền ông có lấy tiền cá nhân cho Lý
A D4 và Chu A N mỗi người 500.000 đồng tiền xăng. Khoảng 02 ngày sau, Trần
Minh P lên gặp ông và ông đã làm thủ tục thanh toán toàn bộ số tiền trên cho P.
Ngoài ra, ông không biết nội dung gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Trần Văn H trong
quá trình điều tra trình bày: Ông và bị cáo Trần Minh P là anh em họ nên thỉnh
thoảng P có nhờ ông trông vật liệu hộ. Cuối năm 2024, P bận nên nhờ ông đến Ủy
ban nhân dân xã HL gặp bị cáo Lý Hùng T để đi nhận bàn giao mặt bằng, sau đó
về báo cáo lại cho P. Khoảng 01 tháng sau, P nhờ ông đến công trình chỉ các vị trí
5
đã thi công cho đoàn nghiệm thu, ông không biết việc nghiệm thu, thanh toán như
thế nào.
Đối với Lý A D4 là người có tên trong hồ sơ xây dựng với vai trò Tổ trưởng
tổ thợ duy tu, bảo dưỡng các công trình trên địa bàn xã HL. Kết quả điều tra xác
định, D4 bị mượn danh để lập khống hồ sơ xây dựng. Ngoài ra, ngày 20/01/2025
D4 được bị cáo Lý Hùng T điện thoại yêu cầu trong ngày 21/01/2025 D4 là người
đại diện dân bản L đi cùng Chu A N là thủ quỹ xã HL đến ngân hàng rút tiền về
thanh toán cho đơn vị thi công, D4 không biết vi phạm về thanh toán công trình
nên Cơ quan điều tra không xử lý D4 là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Châu S là kế toán Ủy ban nhân dân xã HL, là người thực
hiện các thủ tục quyết toán, thanh toán tiền cho công trình. Kết quả điều tra xác
định S không biết việc công trình được nghiệm thu khống khối lượng. S chỉ là
người thực hiện nghiệp vụ kế toán tại các cơ quan chức năng trên cơ sở hồ sơ công
trình do các bị cáo lập. Hành vi của S không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại
cho ngân sách Nhà nước nên Cơ quan điều tra không xử lý S là có căn cứ.
Đối với Chu A N là thủ quỹ Ủy ban nhân dân xã HL, là người đi rút tiền
công trình cùng Lý A D4. N không biết vi phạm về thanh toán công trình nên Cơ
quan điều tra không xử lý N là có căn cứ.
Đối với Trần Văn H là người được bị cáo Trần Minh P nhờ dẫn các bị cáo
Lý Hùng T, Xè A G, Giàng A H1 đi kiểm tra thực tế để nghiệm thu công trình vào
ngày 29/12/2024. Kết quả điều tra xác định H không biết việc các bị cáo thực hiện
các thủ tục nghiệm thu công trình theo khối lượng như thế nào nên Cơ quan điều
tra không đủ căn cứ để xử lý H.
Đối với hành vi ký giả các chữ ký của Lý A D4 vào hồ sơ công trình của bị
cáo Lý Hùng T. D4 không phải là người có chức vụ quyền hạn theo quy định của
pháp luật. Ngoài ra, Tổ thợ duy tu, bảo dưỡng các công trình trên địa bàn xã HL
cũng không phải là tổ chức có tư cách pháp nhân nên hành vi của T nêu trên không
cấu thành tội phạm khác mà nằm trong cấu thành tội bị cáo đang bị xử lý trong vụ
án.
Theo dự toán kinh phí đầu tư, tổng mức chi phí xây dựng là 468.588.987
đồng, trong đó vốn Nhà nước hỗ trợ là 467.588.987 đồng, nhân dân đóng góp là
1.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định nhân dân không đóng góp 1.000.000
đồng tiền mặt mà đóng góp bằng công sức theo khối lượng thi công thực tế. Do
đó, đối với khối lượng công trình được nghiệm thu khống chưa có phần vốn nhân
dân đóng góp, tương ứng với thiệt hại là 266.116 đồng chưa xảy ra. Do đó, thiệt
hại xảy ra trong vụ án này chỉ là số tiền từ ngân sách Nhà nước.
Tại kết luận giám định số 684/KL-GĐTP ngày 02/12/2025 của Trung tâm
giám định chất lượng xây dựng - Sở X tỉnh Lai Châu kết luận:
1. Kết quả kiểm tra đo đạc thực tế: Công trình duy tu, bảo dưỡng đường giao
thông nông thôn nội bản L, xã HL huyện P (cũ), tỉnh Lai Châu năm 2024 thi công
thực tế thiếu 54,8m Nhánh 01 và thiếu 215,7m Nhánh 02 so với hồ sơ nghiệm thu
thanh toán.
2. Kết quả xác định giá trị xây dựng thực tế tại thời điểm công trình hoàn
thành và so sánh với hồ sơ thanh toán: Giá trị theo hồ sơ thanh toán: 468.588.000
6
đồng; giá trị giám định: 343.652.098 đồng; chênh lệch 124.935.902 đồng (trong
đó: Vốn Nhà nước là 124.670.774 đồng; nhân dân đóng góp là 266.116 đồng).
3. Kết luận các vi phạm pháp luật về xây dựng: Công trình đã vi phạm quy
định của pháp luật về xây dựng cụ thể như sau:
Về giám sát: Vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 120 Luật xây dựng;
Về nghiệm thu: Vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật xây dựng: Vi
phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 17 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày
26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng,
thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng; Vi phạm quy định tại khoản 2
Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ xây
dựng; Chưa đảm bảo các thành phần tham gia (thiếu đại diện cộng đồng dân cư)
quy định tại điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19/4/2022
của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục
tiêu quốc gia.
Tại kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 16/12/2025 của Phòng K
Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Chữ ký mang tên Lý A D4 trên các tài liệu cần
giám định (Đơn đăng ký thực hiện; Hợp đồng thi công xây dựng; Phụ lục hợp
đồng; Biên bản nghiệm thu vật liệu xây dựng; Phiếu yêu cầu nghiệm thu; Biên bản
nghiệm thu hoàn thành xây dựng công trình bàn giao đưa vào sử dụng; Giấy đề
nghị thanh toán; Biên bản thanh lý hợp đồng; Bảng xác định giá trị khối lượng
công việc hoàn thành) so với chữ ký của Lý A D4 trên các tài liệu so sánh không
phải do cùng một người ký ra.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSLCU-P1 ngày 12/5/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G,
Trần Minh P và Giàng A H1 về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây
dựng gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm b khoản 1 Điều 224 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội
đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G, Trần Minh P và
Giàng A H1 phạm tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu
quả nghiêm trọng”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 224; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 58; Điều 48 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng
T, Xè A G, Trần Minh P và Giàng A H1. Áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51;
Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng A D. Áp dụng thêm Điều 36 Bộ luật
hình sự đối với các bị cáo Lý Hùng T, Xè A G, Trần Minh P và Giàng A H1:
- Xử phạt bị cáo Hoàng A D từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 36 tháng đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
(22/6/2026). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo
dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Lý Hùng T từ 16 tháng đến 22 tháng cải tạo không giam
giữ; Xử phạt bị cáo Xè A G, Trần Minh P mỗi bị cáo từ 14 tháng đến 20 tháng cải
tạo không giam giữ; Xử phạt bị cáo Giàng A H1 từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo
không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo tính từ ngày
7
Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành
án và bản sao bản án. Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu
giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập
cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585;
586; 587; 589 Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại cho
Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu tổng số tiền 124.936.000 đồng, cụ thể: Các bị
cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G, Giàng A H1 mỗi bị cáo bồi thường 5.000.000
đồng, bị cáo Trần Minh P bồi thường 104.936.000 đồng. Xác nhận các bị cáo đã nộp
đủ, hiện đang lưu tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo Hoàng A D, Xè A G và Giàng
A H1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 224; điểm b, s khoản
1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo mức
hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48
Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 586; 587; 589 Bộ luật dân sự: Công nhận sự
thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa các bị cáo, các bị cáo phải liên đới bồi thường
thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu, các bị cáo đã nộp đủ, hiện đang
lưu tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu. Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị Hội
đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Hoàng A D, Xè A G và Giàng A H1 nhất trí với lời bào chữa và
không bổ sung gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều ăn năn, hối cải về hành vi
phạm tội của mình, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức
án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lai
Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa,
các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tại
phiên tòa, lời khai của các bị cáo hoàn toàn thống nhất, phù hợp lời khai của các bị
cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp
pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Cuối năm 2024, Ủy ban nhân
dân xã HL, huyện P (cũ), tỉnh Lai Châu được giao làm chủ đầu tư công trình duy tu,
bảo dưỡng đường giao thông nông thôn nội bản L, xã HL với nguồn ngân sách Nhà
nước hỗ trợ cho hạng mục thi công xây dựng là 467.588.987 đồng. Để công trình
8
được triển khai đáp ứng điều kiện của công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc
gia, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, bị cáo Hoàng A D - Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã đã chỉ đạo bị cáo Lý Hùng T - công chức địa chính xã lập hồ sơ nhà
thầu là Tổ thợ thuộc địa bàn xã, còn thực tiễn thi công giao cho Công ty TNHH
MTV TP, do bị cáo Trần Minh P là Giám đốc thực hiện. Sau đó, đến ngày
29/12/2024 để công trình được nghiệm thu, quyết toán trước ngày 31/12/2024 nhằm
đạt 100% vốn đầu tư công nên dù biết rõ công trình thi công còn thiếu khối lượng
nhưng Hoàng A D - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã vẫn chỉ đạo các bị cáo Xè A G -
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, bị cáo Lý Hùng T - công chức địa chính xã, bị
cáo Giàng A H1 - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã cùng bị cáo Trần Minh P
tiến hành nghiệm thu đối với 100% khối lượng công trình và quyết toán. Sau khi
nhận thanh toán toàn bộ số tiền thi công công trình, bị cáo P không tiếp tục tiến hành
thi công phần công trình còn thiếu theo hồ sơ thiết kế dẫn đến công trình không được
hoàn thành. Hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền
124.670.774 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ
quản lý kinh tế của Nhà nước về đầu tư công trình xây dựng, ảnh hưởng xấu đến
trị an trên địa bàn. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng
vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của
các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây
dựng gây hậu quả nghiêm trọng" theo điểm b khoản 1 Điều 224 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án
đồng phạm giản đơn, bị cáo Hoàng A D là người giữ vai trò chính, là người khởi
xướng việc thực hiện hành vi phạm tội; Các bị cáo Lý Hùng T, Xè A G, Giàng A
H1 và Trần Minh P đều là những người thực hành, trong đó các bị cáo T, G và H1
là cấp dưới của bị cáo D. Vì vậy, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với
tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố
và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội của mình; Trong quá trình điều tra, các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G
và Giàng A H1 mỗi bị cáo nộp 5.000.000 đồng, bị cáo Trần Minh P nộp
104.936.000 đồng để khắc phục hậu quả; Các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè
A G, Giàng A H1 được Ủy ban nhân dân xã HL công nhân danh hiệu Lao động
tiên tiến năm 2022, 2023, 2024; Ngoài ra:
Bị cáo Hoàng A D được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen
năm 2020, 2021, 2024; Tập đoàn Đ Việt Nam tặng Bằng khen năm 2022; Bộ
trưởng Bộ C tặng Kỷ niệm chương năm 2021; Ngân hàng CS vinh danh năm 2025.
Bị cáo Lý Hùng T có bố đẻ là ông Lý Quang M được Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh L tặng Bằng khen năm 2009, 2011, 2012, 2014, 2015, 2016, 2018, 2019;
Ban chấp hành Đ tỉnh Lai Châu tặng Bằng khen năm 2010; Ban chấp hành T tặng
kỷ niệm chương năm 2016; Chánh án Tòa án nhân dân T1 tặng Bằng khen năm
9
2011; Ban chấp hành T2 tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng năm 2018; vợ bị cáo là Bùi
Minh Th được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng bằng khen năm 2022.
Bị cáo Xè A G được Chủ tịch và Ủy ban nhân dân huyện P tặng Giấy khen
năm 2007, 2018, 2022, 2024; Ban chấp hành H tỉnh L tặng Giấy khen năm 2009,
2012; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HL tặng Giấy khen năm 2011, 2012, 2020; Ban
chấp hành H huyện P tặng Giấy khen năm 2014.
Bị cáo Trần Minh P có bố đẻ là ông Trần Văn C được Hội đồng N tặng Huân
chương kháng chiến hạng Nhất; mẹ đẻ là bà Bùi Thị H được Đoàn TN tặng kỷ niệm
chương thanh niên xung phong và Ban C huyện P tặng Giấy khen năm 2025; Ủy
ban nhân dân xã M chứng nhận Công ty TNHH MTV TP đã tham gia công tác xã
hội hóa giáo dục năm 2019; vợ bị cáo là Cù Thị Th được Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh L tặng Bằng khen năm 2017, 2018 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P tặng
Giấy khen năm 2023.
Do đó các
bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng A D được hưởng
thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của
các bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội
đồng xét xử xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự mà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ
ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ để
răn đe, giáo dục các bị cáo. Trong vụ án, bị cáo Hoàng A D là người giữ vai trò
chính, là người khởi xướng, đã chỉ đạo cấp dưới là bị cáo Lý Hùng T hoàn thiện hồ
sơ nhà thầu là Tổ thợ và chỉ đạo các bị cáo Lý Hùng T, Xè A G, Giàng A H1 cùng
bị cáo Trần Minh P là đơn vị thi công nghiệm thu thiếu khối lượng so với hồ sơ thiết
kế nên cần cho bị cáo D hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử
thách đối với bị cáo; Đối với các bị cáo T, G, P, H1 cần cho các bị cáo được hưởng
hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là cải tạo không giam giữ để các bị cáo thấy
được tính nhân đạo của Nhà nước ta mà cố gắng cải tạo thành người công dân có
ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần có sự phân hóa vai trò đối
với các bị cáo, bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo G và P, sau cùng
là bị cáo H1. Căn cứ khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự, cần miễn khấu trừ thu nhập
cho các bị cáo T, G, P, H1 vì xét thấy điều kiện kinh tế của các bị cáo còn khó khăn.
Do đó quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa
là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật.
Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo Hoàng A
D hình phạt cải tạo không giam giữ vì bị cáo là người giữ vai trò chính, là người
chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 224 Bộ luật hình sự quy định
“Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định
từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, điều
kiện kinh tế của các bị cáo còn khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Ủy
ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại với tổng
10
số tiền là 124.936.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo tự nguyện thỏa thuận: Bị cáo
Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G và Giàng A H1 mỗi bị cáo bồi thường 5.000.000
đồng, bị cáo Trần Minh P bồi thường 104.936.000 đồng, hiện các bị cáo đã nộp đủ
số tiền trên tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu. Người đại diện hợp pháp của Ủy
ban nhân dân xã P nhất trí yêu cầu bồi thường đúng với số tiền các bị cáo đã nộp.
Xét thấy việc thỏa thuận trên là có căn cứ, không trái đạo đức xã hội nên buộc các
bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền trên theo Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều
584; 585; 586; 587; 589 Bộ luật dân sự.
[6]. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo
khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 224; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584; 585; 586; 587; 589 Bộ luật dân
sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G, Trần Minh
P và Giàng A H1.
Căn cứ thêm điểm v khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo
Hoàng A D. Căn cứ thêm Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lý Hùng T, Xè
A G, Trần Minh P và Giàng A H1.
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng A D, Lý Hùng T, Xè A G, Trần Minh P và
Giàng A H1 phạm tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu
quả nghiêm trọng”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Hoàng A D 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử
thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/6/2026). Giao bị cáo cho Ủy
ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Hoàng A D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy
định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án
hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.2. Xử phạt bị cáo Lý Hùng T 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn
cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai
Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Uỷ ban
nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình
phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
2.3. Xử phạt bị cáo Xè A G 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải
tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai
11
Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Uỷ ban
nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình
phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
2.4. Xử phạt bị cáo Trần Minh P 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn
cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai
Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Uỷ ban
nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình
phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
2.5. Xử phạt bị cáo Giàng A H1 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn
cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai
Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Uỷ ban
nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình
phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã P,
tỉnh Lai Châu tổng số tiền là 124.936.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Hoàng A D là
5.000.000 đồng; bị cáo Lý Hùng T là 5.000.000 đồng; bị cáo Xè A G là 5.000.000
đồng; bị cáo Giàng A H1 là 5.000.000 đồng; bị cáo Trần Minh P là 104.936.000
đồng. Xác nhận các bị cáo đã nộp đủ, hiện đang lưu tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai
Châu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Lai Châu và Thi
hành án dân sự tỉnh Lai Châu vào hồi 14 giờ 05 phút ngày 21/5/2026).
4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo; Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai
Châu được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa
được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm 1, TAND Tối cao;
- Viện phúc thẩm 1, VKSNDTC;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Công an tỉnh Lai Châu (PV06, PC03);
- THADS tỉnh Lai Châu;
- Các bị cáo; Người có QLNVLQ;
- THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
- UBND xã Phong Thổ;
- Lưu.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 27/2026/HS-ST Bản án số 27/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 27/2026/HS-ST Bản án số 27/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất