Bản án số 27/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 27/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 27/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 27/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 27/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 27/2026/DS-PT
Ngày: 12-01-2026
V/v “Tranh chấp bồi thường
thiệt hại về tài sản và khắc phục
thiệt hại”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/12, 23/12/2025 và ngày 12/01/2026 tại trụ sở 1 Tòa án
nhân dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số:
611/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc: “Tranh chấp bồi
thường thiệt hại về tài sản và khắc phục thiệt hại”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 138/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu
vực 6 – Đng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 626/2025/QĐ-PT ngày
19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Trần Hữu T, sinh năm 1966.
1.2. Dương Thúy L, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Số F, đường N, phường C (Phường B, thành phố C), tỉnh
Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu T, bà Dương Thúy L: Chị
Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 (Có mặt). Địa chỉ: Số C, L, phường C, tỉnh
Đng Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 18/12/2025).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Hữu T, bà Dương
Thúy L: Luật sư Nguyễn Văn H là thành viên Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Đ (Có mặt) và Luật sư Mai T1 là thành viên Công ty L2 và Cộng sự thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
2. Bị đơn: Lê Nguyễn Bảo Y, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số D, đường Đ, Tổ A, Khóm A, phường C (Phường B, thành phố
C), tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Nguyễn Bảo Y: Anh Nguyễn
Trường T2, sinh năm 1997 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã M (xã M, huyện C), tỉnh
Đng Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 12/11/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lê Nguyễn Bảo Y: Luật
sư Phạm Hoàng Đ là thành viên Công ty L3 Luật sư chi nhánh Đ1 thuộc Đoàn
Luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
3. Ngưi có quyn li, ngha v liên quan:
3.1. Nguyễn Thị Hng N1, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số D, đường Đ, Tổ A, Khóm A, phường C (Phường B, thành phố
C), tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Hồng N1: Anh Nguyễn
Trường T2, sinh năm 1997 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã M (xã M, huyện C), tỉnh
Đng Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 12/11/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng N1:
Luật sư Phạm Hoàng Đ là thành viên Công ty L3 Luật sư chi nhánh Đ1 thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
3.2. Công ty cổ phần C.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tống Văn S, chức danh: Giám đốc
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở chính: Số B, Nguyễn Văn K, phường T (Phường H, quận
G), Thành phố H Chí Minh.
4. Ngưi kháng cáo: Ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L là nguyên
đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết v án nguyên đơn ông Trần
Hữu T và bà Dương Thúy L và ngưi đại diện theo ủy quyn trình bày:
Ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L có căn nhà cấp 3 thuộc thửa đất số
83, diện tích 97,80m
2
, tờ bản đ số 13, tọa lạc số 56, đường Đ, Phường B, thành
phố C, tỉnh Đng Tháp, được cấp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ngày
28/02/2008 (gọi tắt là nhà số E). Căn nhà của ông T và bà L sát vách với căn nhà
3
số E, đường Đ do chị Y là chủ sở hữu và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (gọi tắt là nhà số E), nhưng khi tiến hành xây dựng công trình nhà ở đối
với nhà số E thì bà Nguyễn Thị Hng N1 (mẹ ruột chị Y) là người trực tiếp quản
l và kêu thợ xây dựng để thi công công trình nhà ở tại căn nhà số E. Trong quá
trình xây dựng công trình đã đục bể, lộ cây sắt đà kiềng nhà ông T, bà L và đập
phá bỏ móng liên kết chịu lực của nhà số E làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến căn
nhà và có thể sập bất cứ lúc nào, hiện đã xuất hiện những vết nứt gãy mới trên
tường và đà, gây nguy hiểm cho tính mạng của người ở trong nhà.
Sau khi sự việc xảy ra thì bà N1 là người trực tiếp thỏa thuận với ông T và
bà L, cụ thể tại biên bản hòa giải ngày 26/12/2020 và ngày 17/10/2022 thì bà N1
tham gia hòa giải, bà N1 cũng là người tới lui trông coi công trình xây dựng nhà
số E. Tại buổi hòa giải các bên có đưa ra kiến nhưng đến nay phía chị Y và bà
N1 không thực hiện việc khắc phục thiệt hại đã gây ra cho căn nhà của ông T và
bà L.
Trong khi đó, căn nhà số E cho ông Phan Văn V thuê để kinh doanh vào
ngày 01/10/2020 với giá thuê là 30.000.000 đng/tháng (ông V đã đặt cọc 03
tháng tiền nhà với số tiền 90.000.000 đng) nhưng do chị Y làm căn nhà bị thiệt
hại nghiêm trọng và sợ ảnh hưởng tính mạng người thuê nên phải chấm dứt hợp
đng cho thuê trước thời hạn vào ngày 31/5/2022. Do chấm dứt hợp đng thuê
trước hạn nên nguyên đơn phải bi thường cho bên thuê gấp đôi số tiền đặt cọc
là 180.000.000 đng và chi phí di dời đến địa điểm kinh doanh mới 200.000.000
đng. Nhà bị thiệt hại nghiêm trọng dẫn đến việc không thể cho thuê làm ảnh
hưởng đến thu nhập của ông T và bà L mỗi tháng 30.000.000 đng (tính từ ngày
01/6/2022).
Nay ông T và bà L yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu chị Y và bà N1 phải
có trách nhiệm liên đới khôi phục lại hiện trạng đối với căn nhà cấp 3 thuộc thửa
đất số 83, diện tích 97,80m
2
, tờ bản đ số 13, tọa lạc tại số E, đường Đ, Phường
B, thành phố C, tỉnh Đng Tháp do vợ chng ông T và bà L đứng tên quyền sở
hữu nhà và quyền sử dụng đất ngày 28/02/2008 theo phương án khắc phục là
Phương án 1 tại trang 14 và 15 của Báo cáo kết quả kiểm định chất lượng công
trình nhà số 56 ngày 10/4/2023 của Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Bách
khoa Thành phố H (gọi tắt là Công ty B).
Trong trường hợp theo quy định pháp luật yêu cầu này không có cơ sở thực
hiện thì ông T và bà L yêu cầu chị Y và bà N1 có trách nhiệm liên đới bi thường
số tiền dự toán sửa chữa căn nhà số E là 845.461.137 đng theo bản dự toán xây
dựng công trình của Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X). Yêu cầu chị Y và
bà N1 phải có trách nhiệm liên đới phải bi thường thiệt hại tiền cho thuê nhà
cho ông T và bà L, tạm tính từ ngày 01/6/2022 đến ngày 12/4/2024 (là 22 tháng
11 ngày) số tiền thiệt hại tổng cộng là 671.000.000 đng, tiền thanh l thuê nhà
90.000.000 đng, tiền hỗ trợ di dời cho bên thuê là 200.000.000 đng. Yêu cầu
chị Y và bà N1 có trách nhiệm liên đới bi thường tiếp tục số tiền phát sinh trong
những tháng không cho thuê nhà được là 30.000.000 đng/tháng đến khi thực
4
hiện xong việc khắc phục căn nhà của ông T. Yêu cầu chị Y và bà N1 có trách
nhiệm liên đới trả cho ông T, bà L số tiền kiểm định và số tiền thiết kế biện pháp
gia cường sửa chữa công trình phần kết cấu và lập dự toán đối với căn nhà số E
là 127.000.000 đng và 59.000.000 đng. Tổng số tiền yêu cầu bi thường là
1.992.461.137 đng.
Tại phiên hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Sau khi trao đổi với ông T và bà L, ông T và bà L xác định không yêu cầu chị Y
và bà N1 khôi phục lại hiện trạng đối với căn nhà cấp 3 thuộc thửa đất số 83,
diện tích 97,80m
2
, tờ bản đ số 13, tọa lạc tại số E, đường Đ, Phường B, thành
phố C, tỉnh Đng Tháp bị hư hỏng.
Ông T và bà L yêu cầu chị Y và bà N1 bi thường số tiền căn nhà số E bị
thiệt hại theo Dự toán xây dựng công trình của Công ty X với số tiền 845.461.137
đng, dự toán của Công ty X là dự toán của khắc phục hậu quả thiệt hại. Ông T
và bà L thống nhất chỉ sử dụng dự toán của Công ty X để làm căn cứ yêu cầu chị
Y và bà N1 bi thường. Ông T và bà L không đng phương án hòa giải mà
phía bị đơn chị Y và bà N1 đưa ra, ông T và bà L không đng nhận số tiền
200.000.000 đng. Phía bị đơn có yêu cầu trưng cầu giám định tại Trung tâm
giám định Chất lượng Xây dựng theo Công văn số 05/TTGĐ-PKT ngày
06/01/2023 của Trung tâm giám định Chất lượng Xây dựng là quyền của bị đơn,
nguyên đơn không có kiến. Đến thời điểm hiện tại ông T và bà L không yêu
cầu cơ quan, tổ chức nào giám định lại phần thiệt hại căn nhà số E. Nguyên đơn
không yêu cầu gì đối với Công ty C, việc thực hiện hợp đng thi công công trình
căn nhà của chị Y là việc của chị Y với Công ty C nên nguyên đơn không có
kiến, yêu cầu gì đối với Công ty C.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày: Ông T và bà L là vợ chng, tất cả yêu cầu kiến của ông T đều là yêu cầu
kiến của bà L. Ông T và bà L yêu cầu chị Y và bà N1 liên đới bi thường thiệt
hại tổng số tiền 2.227.461.000 đng (Hai tỷ hai trăm hai mươi bảy triệu bốn trăm
sáu mươi mốt nghìn đng). Trong đó, chi phí sửa chữa, khôi phục lại hiện trạng
căn nhà số E bị hỏng là 845.461.137 đng theo Dự toán của Công ty X. Thiệt hại
về tiền phạt cọc do chấm dứt hợp đng thuê là 90.000.000 đng; Thiệt hại do
mất tiền cho thuê nhà mỗi tháng 30.000.000 đng trong thời tính từ ngày
01/6/2022 đến ngày 26/6/2025 là 36 tháng 26 ngày là 1.106.000.000 đng; Chi
phí thuê đơn vị chức năng kiểm định, lập dự toán sửa chữa căn nhà số 56 là
127.000.000 đng và 59.000.000 đng.
Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chị Y và bà N1 liên đới
bi thường tiền hỗ trợ di dời cho bên thuê nhà 200.000.000 đng.
Nguyên đơn xác định nguyên nhân căn nhà số E của ông T và bà L bị hư
hỏng như hiện nay là do yếu tố thời gian, môi trường và do bị đơn cắt móng liên
kết giữa hai căn nhà, dù không thể xác định được thiệt hại cụ thể, nếu không có
việc bị đơn phá bỏ móng nền liên kết thì nhà của nguyên đơn không thể bị hư
5
hỏng như hiện tại. Do nhà bị hư hỏng, không đảm bảo an toàn nên nguyên đơn
phải kết thúc hợp đng thuê nhà sớm với người thuê và phải bi thường tiền cọc
thuê nhà và không thể tiếp tục cho thuê từ ngày 01/6/2022 cho đến nay. Để chứng
minh thiệt hại nên nguyên đơn phải yêu cầu các Công ty có chức năng kiểm định
và lập dự toán sửa chữa căn nhà. Do đó, chị Y và bà N1 phải có nghĩa vụ bi
thường và trả lại các khoản tiền này cho nguyên đơn. Đối với chi phí giám định
của Trung tâm giám định Chất lượng Xây dựng thuộc Sở X1 (gọi tắt là Trung
tâm) do bị đơn yêu cầu thì bị đơn phải tự chịu. Nguyên đơn đng bi thường số
tiền phạt cọc cho người thuê nhà không phải vì nguyên đơn có lỗi mà do các bên
đã thỏa thuận trong hợp đng thuê nhà. Nguyên đơn thống nhất với báo cáo kết
luận giám định của Trung tâm, nhưng không thống nhất giá trị khắc phục thiệt hại
là 227.178.000 đng vì giá Trung tâm xác định không phải giá thị trường, nguyên
đơn không cung cấp được chứng cứ xác định giá thị trường để xác định giá trị
thiệt hại, do đó nguyên đơn chỉ thống nhất giá trị theo dự toán là 845.461.137
đng.
Bị đơn chị Lê Nguyễn Bảo Y và ngưi có quyn li, ngha v liên quan
bà Nguyễn Thị Hồng N1 có ngưi đại diện theo ủy quyn trình bày:
Chị Y không có yêu cầu gì đối với Công ty C, không có tranh chấp gì đối
với hợp đng thi công công trình nhà số E giữa Công ty C và chị Y, việc chị Y
gửi đơn đề là đơn yêu cầu độc lập là kiến của chị Y. Người đại diện theo ủy
quyền không xác định được trong đơn chị Y yêu cầu như thế nào nhưng chị Y
cũng không đng sửa đổi, bổ sung lại đơn yêu cầu do đó chấp nhận đơn hay
không sẽ do Hội đng xét xử quyết định. Trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn thì chị Y và bà N1 đng liên đới bi thường. Chị Y và bà
N1 thống nhất kết quả giám định của Trung tâm, dù chị Y không có lỗi làm cho
căn nhà số E của ông T và bà L bị hư hỏng nhưng chị Y và bà N1 tự nguyện hỗ
trợ số tiền 227.178.000 đng theo kết quả của Trung tâm.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc chị Y và bà N1 bi thường tiền phạt
cọc chấm dứt hợp đng thuê nhà và tiền thuê nhà là không có căn cứ. Đng thời
khoảng thời gian phát sinh tranh chấp chị Y cũng không thể thi công công trình
nhà chị Y. Chi phí tố tụng và chi phí thuê đơn vị chức năng kiểm định và lập dự
toán sửa chữa nguyên đơn yêu cầu thì nguyên đơn chịu, bị đơn yêu cầu bị đơn sẽ
tự chịu, đối với chi phí giám định tại Trung tâm số tiền 27.132.000 đng, bị đơn
tự nguyện chịu bị đơn đã tạm ứng và chi xong.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 138/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm
2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Tòa án nhân
dân khu vực 6 – Đồng Tháp) (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu
T và bà Dương Thúy L.
Buộc chị Lê Nguyễn Bảo Y và bà Nguyễn Thị Hng N1 liên đới bi thường
cho ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L số tiền 227.178.000 đng (Hai trăm
6
hai mươi bảy triệu một trăm bảy mươi tám nghìn đng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu T và
bà Dương Thúy L, đối với yêu cầu buộc chị Y và bà N1 liên đới bi thường thiệt
hại số tiền 2.000.283.000 đng (Hai tỷ hai trăm tám mươi ba nghìn đng).
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu T
và bà Dương Thúy L, đối với yêu cầu buộc chị Y và bà N1 bi thường thiệt hại
về khoản tiền hỗ trợ di dời cho người thuê nhà số tiền 200.000.000 đng (Hai
trăm triệu đng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T và bà L phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm số tiền 72.005.660 đng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
35.947.917 đng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011735 ngày
11/11/2022, 0000192 ngày 21/12/2023, 0012187 ngày 04/5/2023 và 0000388
ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng
Tháp. Ông T và bà L còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 36.058.000
đng.
Chị Lê Nguyễn Bảo Y và bà Nguyễn Thị Hng N1 phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm số tiền 11.359.000 đng.
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
và giám định số tiền 28.932.000 đng, các đương sự đã nộp và chi xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L là nguyên
đơn không thống nhất bản án sơ thẩm, nên đã kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc
thẩm giải quyết: Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư Mai T1 và Luật sư Nguyễn Văn H là người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L trình bày: Vẫn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi các l do như sau:
+ Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá toàn diện, bỏ sót các nội dung không
phù hợp và nội dung Báo cáo do Trung tâm giám định lập còn tn tại nhiều lỗ
hỏng, không đảm bảo tính khách quan và không đủ điều kiện trở thành chứng cứ
7
trong vụ án. Thứ nhất, không xác định nguyên nhân gây thiệt hại cho căn nhà số
E. Thứ hai, phương pháp thực hiện giám định sơ sài, không thể đảm bảo tính
chính xác của thiệt hại xảy ra tại căn nhà số E. Thứ ba, thời gian thực hiện giám
định bắt đầu vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 17/4/2025 và kết thúc vào lúc 16 giờ
00 phút cùng ngày. Việc khảo sát hiện trạng chỉ được thực hiện trong khoảng
thời gian 01 giờ 30 phút là hoàn toàn không đảm bảo ghi nhận đầy đủ thiệt hại
của căn nhà số E. Thứ tư, chi phí khắc phục, sửa chữa căn nhà số E có sự chênh
lệch giữa 03 đơn vị. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa đơn vị thi công vào
tham gia tố tụng và triệu tập 03 đơn vị giám định để làm rõ sự khác biệt trong
nội dung từng phần của các Báo cáo mà chỉ căn cứ vào Báo cáo của Trung tâm
giám định để xác định số tiền bi thường thiệt hại là 227.178.000 đng hoàn toàn
không có cơ sở.
+ Lỗi gây thiệt hại là từ phía chị Y và bà N1 làm cho căn nhà số E của ông
T, bà L bị hư hỏng, không thể tiếp tục sử dụng và cho thuê. Khi xây dựng nhà
liền kề chị Y, bà N1 đã vi phạm quy tắc xây dựng được quy định trong Luật Xây
dựng, đã để bên thi công cắt, xâm phạm một phần móng và đà chung giữa nhà
số E và nhà số E. Đây là hành vi trái pháp luật, trực tiếp xâm phạm kết cấu chịu
lực của căn nhà số E và là nguyên nhân trực tiếp gây ra các hư hỏng, nứt gãy,
mất an toàn cho công trình. Báo cáo kết quả kiểm định đánh giá chất lượng và
khả năng chịu lực của kết cấu công trình ngày 10/4/2023 (trang 14) ghi nhận việc
cắt một phần của móng, đà chung sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với
kết cấu và sự an toàn của người dân sử dụng. Do đó, chị Y và bà N1 phải có trách
nhiệm toàn bộ bi thường thiệt hại cho nguyên đơn.
+ Đối với các chi phí thuê đơn vị chức năng kiểm định, lập dự toán sửa
chữa căn nhà số E là 186.000.000 đng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đây chi phí
ngoài tố tụng là không đúng quy định pháp luật và đánh tráo bản chất vấn đề.
Các khoản chi phí này phát sinh trực tiếp từ hành vi xâm phạm tài sản của bị đơn,
nhằm mục đích xác định nguyên nhân thiệt hại, mức độ nguy hiểm của công trình
và chi phí cần thiết để khắc phục. Đây là những chi phí hợp l, cần thiết và là
thiệt hại thực tế mà nguyên đơn buộc phải gánh chịu để bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của mình nên phải được bi thường theo quy định tại Điều 589 Bộ luật Dân
sự 2015.
- Chị Nguyễn Thị Thu N là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu
T và bà Dương Thúy L trình bày: Thống nhất kiến trình bày của Luật sư Mai
T1 và Luật sư Nguyễn Văn H, không bổ sung gì thêm.
- Luật sư Phạm Hoàng Đ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
chị Lê Nguyễn Bảo Y và bà Nguyễn Thị Hng N1 trình bày: Không đng
kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bởi, căn nhà của ông T, bà L đã xuống cấp do xây dựng trên 30 năm và hiện tại
chỉ còn 40% giá trị sử dụng là phù hợp với kết luận giám định bị ảnh hưởng do
yếu tố thời gian, môi trường. Các báo cáo do nguyên đơn cung cấp là bảng báo
giá về việc thi công căn nhà số E, chị Y không đng và yêu cầu Trung tâm
8
giám định Chất lượng Xây dựng thuộc Sở Xây dựng tỉnh X1 giám định lại là phù
hợp pháp luật và chị Y, bà N1 đng hỗ trợ cho ông T, bà L số tiền 227.178.000
đng là phù hợp với kết luận. Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn không chứng minh
được thiệt hại và tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại do bị đơn gây ra.
- Anh Nguyễn Trường T2 là người đại diện theo ủy quyền của chị Lê
Nguyễn Bảo Y và bà Nguyễn Thị Hng N1 trình bày: Thống nhất kiến trình bày
của Luật sư Phạm Hoàng Đ, không bổ sung gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thủ tục kháng cáo của ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L
thực hiện đúng và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư k phiên tòa kể từ khi
thụ l vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng,
đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực
hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản
2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần
Hữu T và bà Dương Thúy L là nguyên đơn, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm
số 138/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đng Tháp) theo hướng
buộc chị Y và bà N1 bi thường tiền thuê nhà 16 tháng với số tiền 240.000.000
đng (Hai trăm bốn mươi triệu đng).
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
231/PB-VKS-P9 ngày 12/01/2026).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa
án nhân dân khu vực 6 – Đng Tháp) thụ l và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh
chấp bồi thường thiệt hại về tài sản và khắc phục thiệt hại” là đúng quy định tại
khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm d khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố
tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Việc nguyên đơn
ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L nộp đơn kháng cáo ngày 09/7/2025 là trong
thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được
xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Tống Văn S là người đại diện theo pháp luật
của Công ty cổ phần C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
9
Nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa đơn vị thi công vào
tham gia tố tụng và triệu tập 03 đơn vị giám định để làm rõ việc chênh lệch giá trị
giám định là không có căn cứ chấp nhận. Bởi, Tòa án cấp cấp sơ thẩm đưa đơn vị
thi công công trình nhà của chị Y là Công ty cổ phần C vào tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với Điều 68 Bộ luật
Tố tụng dân sự. Việc triệu tập 03 đơn vị giám định là không cần thiết bởi các đơn
vị đã thực hiện và cung cấp các tài liệu, báo cáo, kết luận, dự toán theo h sơ cho
Tòa án theo quy định.
[2] Về nội dung: Hội đng xét xử xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có một phần cơ sở chấp nhận. Bởi
các lẽ như sau:
[2.1.] Xét, yêu cầu bi thường thiệt hại số tiền dự toán sửa chữa căn nhà số
E là 845.461.137 đng.
- Các đương sự thừa nhận vào khoảng tháng 10/2020, chị Lê Nguyễn Bảo
Y có thực hiện thi công mới nhà ở riêng lẻ tại số E, đường Đ, Phường B, thành
phố C, tỉnh Đng Tháp với nhà thầu Công ty cổ phần C. Quá trình thi công chị Y
đã để đơn vị thi công phá dỡ căn nhà số E của chị Y, đng thời dỡ phần móng
chung giữa 02 căn nhà (căn nhà số E của chị Y và căn nhà số E của ông T, bà L).
Đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Báo cáo kết quả kiểm định đánh giá chất lượng và khả năng
chịu lực của kết cấu hiện trạng ngày 10/4/2023 do Công ty cổ phần Khoa học
Công nghệ Thành phố H đối với thửa đất số 83, tờ bản đ số 13, diện tích 97,8m
2
,
tọa lạc tại số E, đường Đ, Phường B, thành phố C, tỉnh Đng Tháp, xác định
nguyên nhân gây hư hỏng: “Công trình đã lâu (trên 30 năm) sẽ bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố thời gian và môi trường. Theo thời gian, việc sử dụng công trình trong
khoảng thời gian dài, các bộ phận của công trình như móng, tường, mái, cột, dầm,
sàn có thể bị ăn mòn hoặc hư hỏng, do tác động môi trường gây ảnh hưởng đến
tính an toàn và ổn định của công trình. Bên cạnh đó, sau khi bị ảnh hưởng bởi tác
động của quá trình đào đất và thi công cắt một phần móng, đà chung của công
trình liền kề (nằm trong phạm vi khu đất trống lân cận công trình số 56) làm giảm
khả năng chịu lực của móng, dẫn đến tải trọng không đồng đều, gây ra sự quá tải
ở một số móng và thiếu tải ở các móng khác. Điều này làm mất ổn định ban đầu
của kết cấu, gây ra các hư hỏng như nứt vỡ, lún nứt, biến dạng…” Theo như báo
cáo trên thể hiện có 03 yếu tố: Thời gian, môi trường và tác động của con người
dẫn đến việc thiệt hại. Việc cắt một phần móng, đà chung là có 01 phần dẫn đến
ảnh hưởng công trình không còn chịu lực, ảnh hưởng đến nứt tường. Do đó, ông
T và bà L khởi kiện yêu cầu bi thường thiệt hại là có một phần căn cứ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn không thể xác định được mức thiệt hại
cụ thể do móng nhà liên kết bị phá dỡ sẽ ảnh hưởng và thiệt hại như thế nào đối
với tổng thể căn nhà số E. Đng thời, cung cấp Bản dự toán xây dựng công trình
10
của Công ty cổ phần Khoa học Công nghệ Bách khoa Thành phố H ngày
10/4/2023 với giá trị dự toán 452.400.330 đng (Trong đó, hạng mục: Gia cường
353.618.349 đng và hạng mục: Cải tạo, hoàn thiện 98.781.981 đng) và Bản dự
toán xây dựng công trình của Công ty TNHH X (viết tắt Công ty X) với giá trị dự
toán 845.461.137 đng (Trong đó, giá về việc thi công bao gm vật tư, nhân công
và máy thi công hạng mục: Gia cường 663.108.780 đng và hạng mục: Cải tạo và
hoàn thiện 182.352.357 đng). Nguyên đơn yêu cầu bi thường số tiền dự toán
sửa chữa căn nhà số E là 845.461.137 đng theo dự toán của Công ty X là chưa
phù hợp. Bởi, bản dự toán của Công ty X không xác định nguyên nhân hư hỏng
và dự toán chi phí xây dựng.
Tại Báo cáo số 130625-1/BCGĐ-TTGĐ ngày 13/6/2025 của Trung tâm
giám định Chất lượng Xây dựng thuộc Sở Xây dựng tỉnh X1, về giám định xác
định giá trị tài sản bị thiệt hại, tính toán kiểm tra khả năng chịu lực phần móng,
đề xuất giải pháp khắc phục phần móng bị phá bỏ của căn nhà số E của ông Trần
Hữu T tại Phường B, thành phố C, tỉnh Đng Tháp. Kết luận: “Giá trị thiệt hại
và chi phí khắc phục thiệt hại các cấu kiện hư hỏng cột dầm sàn, tường, đà kiềng,
móng của căn nhà số E, đường Đ, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp là
227.178.000 đồng”. Đối với kết luận giám định của Trung tâm thì nguyên đơn
đng nhưng không thống nhất giá trị thiệt hại là 227.178.000 đng. Bị đơn cho
rằng không có lỗi trong việc căn nhà của ông T và bà L bị hư hỏng là không phù
hợp, bởi thực tế căn nhà số E của ông T, bà L bị hư hỏng là có một phần nguyên
nhân từ lỗi của chị Y, khi thi công căn nhà số E đã để đơn vị thi công phá dỡ
phần móng liên kết chung giữa hai căn nhà sẽ gây thiệt hại cho nhà liền kề, tuy
không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Hng N1 thống nhất, trường hợp
có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bà N1 đng liên đới cùng chị
Y bi thường thiệt hại cho nguyên đơn. Đây là sự tự nguyện liên đới thực hiện
nghĩa vụ của bà N1, việc tự nguyện là phù hợp quy định pháp luật, không trái
đạo đức, xã hội nên chấp nhận.
Xét thấy, Báo cáo số 130625-1/BCGĐ-TTGĐ ngày 13/6/2025 của Trung
tâm giám định Chất lượng Xây dựng thuộc Sở Xây dựng tỉnh X1 là phù hợp pháp
luật và Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, buộc chị Y và bà N1 có trách nhiệm liên đới bi thường cho ông T và bà L
số tiền 227.178.000 đng là có căn cứ chấp nhận.
[2.2.] Xét, yêu cầu bi thường thiệt hại về tiền phạt cọc do chấm dứt hợp
đng thuê là 90.000.000 đng, thiệt hại do mất tiền thuê nhà trong thời gian nhà
bị hư hỏng từ ngày 01/6/2022 đến ngày 26/6/2025 là 1.106.000.000 đng.
Tại Biên bản về việc tiếp xúc ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Hng N1
ngày 26/12/2020 của Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố C, tỉnh Đng Tháp,
thể hiện kiến ông Trần Hữu T: Ông T đề nghị bên thi công giữ nguyên hiện
trạng và đưa ra hướng khắc phục thuê bộ phận chuyên môn đến giám định, nếu
11
bên chuyên môn cho rằng khi thi công không ảnh hưởng đến nhà ông thì bên thi
công cứ việc xây dựng, nếu thi công có ảnh hưởng đến nhà ông thì phải khắc
phục trả lại hiện trạng như ban đầu. Bà N1 và đại diện đơn vị thi công thống nhất
kiến của ông T. Như vậy, các bên đã thống nhất giữ nguyên hiện trạng để chờ
kết luận của cơ quan chuyên môn. Từ ngày 26/12/2020 đến nay công trình xây
dựng nhà số 54 của chị Y đã dừng mọi hoạt động thi công để chờ kết quả giải
quyết tranh chấp.
Trong khoảng thời gian từ ngày 26/12/2020 đến 31/5/2022 căn nhà số E
của ông T và bà L vẫn hoạt động cho thuê, được thể hiện qua Hợp đng thuê nhà
ngày 01/10/2020 giữa ông Trần Hữu T và ông Phan Văn V, thời hạn thuê nhà là
03 năm kể từ ngày 01/10/2020 đến ngày 30/9/2023, giá thuê 30.000.000
đng/tháng, ông V đặt cọc 90.000.000 đng và các bên thỏa thuận nếu bên ông
T muốn chấm dứt hợp đng thì bên ông T phải báo trước cho bên ông V 02 tháng
và bi thường gấp đôi tiền cọc 180.000.000 đng. Nếu bên ông V chấm dứt hợp
đng trước thời hạn thì mất tiền đặt cọc 90.000.000 đng. Hợp đng không có
công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại
diện của nguyên đơn thừa nhận từ ngày sự việc xảy ra vẫn tiếp tục cho ông V
thuê 17 tháng cho đến ngày 31/5/2022 thì ông T và ông V tự thỏa thuận thống
nhất chấm dứt hợp đng thuê nhà trước hạn và thanh l hợp đng theo Biên bản
thanh l hợp đng thuê nhà trước thời hạn. Ông V đề nghị ông T hỗ trợ chi phí
di dời đến địa điểm kinh doanh mới 200.000.000 đng và bi thường tiền đặt cọc
do thanh l trước hạn hợp đng 180.000.000 đng.
Tại Văn bản số 210/TTGĐ-PKT ngày 08/11/2021 của Trung tâm giám
định Chất lượng Xây dựng thể hiện: “Hiện trạng nhà của bà Lê Nguyễn Bảo Y
trước khi phá dỡ nhà cũ thi công xây dựng mới là nhà ở liên kế chung với nhà
số E, Đ, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (sau đây viết tắt nhà số E).
Trung tâm có thực hiện việc khảo sát nhà số E vào ngày 22/3/2021, nhà bà Lê
Nguyễn Bảo Y đã được phá vỡ toàn bộ và đã thi công xong gia cố nền bằng cọc
khoan nhồi. Thời điểm này, khảo sát nhà số 56 công trình không có dấu hiệu bất
thường và biểu hiện nguy hiểm”.
Các giao dịch cho thuê nhà, chấm dứt hợp đng thuê nhà trước thời hạn và
bi thường tiền phạt cọc đều được thực hiện trên chí tự nguyện của ông T,
không có kết luận của cơ quan chuyên môn về sự an toàn, cũng như thiệt hại của
căn nhà số E. Xét, căn nhà số E của ông T, bà L bị hư hỏng là có một phần nguyên
nhân từ lỗi của chị Y, khi thi công căn nhà số E đã để đơn vị thi công phá dỡ
phần móng liên kết chung giữa hai căn nhà sẽ gây thiệt hại cho nhà liền kề nên
mỗi bên phải chịu ½ về lỗi của mình.
Do đó, việc tính tiền thuê nhà từ ngày 31/5/2022 đến ngày 30/9/2023 là 16
tháng x 30.000.000 đng/tháng = 480.000.000 đng : 2 (lỗi của mỗi bên) =
240.000.000 đng. Do đó, buộc chị Y và bà N1 có trách nhiệm liên đới trả tiền
thuê nhà cho ông T, bà L số tiền 240.000.000 đng.
12
[2.3.] Xét, yêu cầu trả lại chi phí thuê các Công ty kiểm định và lập dự toán
là 186.000.000 đng (gm 127.000.000 đng và 59.000.000 đng).
Nguyên đơn yêu cầu Công ty cổ phần Khoa học Công nghệ Bách khoa
Thành phố H và Công ty TNHH X lập bản dự toán. Xét thấy, đây là chi phí ngoài
tố tụng do nguyên đơn tự yêu cầu nên nguyên đơn phải tự chi trả. Việc nguyên
đơn yêu cầu chị Y và bà N1 trả lại số tiền này là không có căn cứ chấp nhận.
[2.4.] Xét, yêu cầu bi thường thiệt hại về tiền hỗ trợ di dời cho người thuê
nhà 200.000.000 đng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện này nên Tòa án
cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện này là phù hợp Điều 244 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2.5.] Về chi phí tố tụng: Gm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền
600.000 đng do nguyên đơn nộp tạm ứng và chi xong; Chi phí định giá tài sản
số tiền 1.200.000 đng và chi phí giám định số tiền 27.132.000 đng chị Y đã
nộp tạm ứng và chi xong. Các đương sự tự nguyện chịu chi phí phần các đương
sự đã yêu cầu, đã nộp tạm ứng và chi xong.
[2.6.] Đối với Công ty cổ phần C là đơn vị thi công công trình nhà số E,
các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra xem xét là
phù hợp. Trường hợp, có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện
khác.
[3] Từ những phân tích nêu trên xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là có
một phần căn cứ chấp nhận, nên được Hội đng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn và bị đơn tại phiên tòa như nêu trên. Hội đng xét xử xét thấy là có một phần
cơ sở nên được xem xét.
[5] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nêu
trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp
nhận.
[6] Về án phí: Do sửa án nên án phí dân sự sơ thẩm được tính lại cho phù
hợp pháp luật và kháng cáo của ông T và bà L được chấp nhận một phần, nên
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Cụ thể như sau: Ông T và bà L phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 64.808.490 đng; Chị Y và bà N1 phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm là 22.687.000 đng. Tuy nhiên, bà N1 do thuộc diện người cao
tuổi nên được xét miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
13
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Hữu T và bà
Dương Thúy L.
2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 138/2025/DS-ST ngày 30 tháng
6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa án
nhân dân khu vực 6 – Đng Tháp).
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu
T và bà Dương Thúy L.
Buộc chị Lê Nguyễn Bảo Y và bà Nguyễn Thị Hng N1 liên đới bi
thường cho ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L số tiền 467.178.000 đng (Bốn
trăm sáu mươi bảy triệu một trăm bảy mươi tám nghìn đng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu
T và bà Dương Thúy L, đối với yêu cầu buộc chị Y và bà N1 bi thường thiệt
hại về khoản tiền hỗ trợ di dời cho người thuê nhà số tiền 200.000.000 đng (Hai
trăm triệu đng).
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T và bà L phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm số tiền 64.808.490 đng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
35.947.917 đng theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011735
ngày 11/11/2022, số 0000192 ngày 21/12/2023, số 0012187 ngày 04/5/2023 và
số 0000388 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh,
tỉnh Đng Tháp (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Đng Tháp). Ông T và
bà L còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 28.860.573 đng (Hai
mươi tám triệu tám trăm sáu mươi nghìn năm trăm bảy mươi ba đng).
Chị Lê Nguyễn Bảo Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 11.343.500
đng (Mười một triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm đng).
Bà Nguyễn Thị Hng N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
2.4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
và giám định số tiền 28.932.000 đng, các đương sự tự nguyện chịu chi phí phần
các đương sự đã yêu cầu, đã nộp và chi xong.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
14
Ông Trần Hữu T và bà Dương Thúy L không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả cho ông T, bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đng,
theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000078 và số 0000079
cùng ngày 11/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng TT, KT & THA TAND Tỉnh;
- TAND khu vực 6 – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 6 – Đng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS
(Quang)
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm