Bản án số 19/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 19/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 19/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phi-Phúc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 19/2026/DS-PT
Ngày 12 01 2026
V/v tranh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.
Các Thẩm phán:
1. Ông Phan Thanh Hải.
2. Bà Tăng Trần Quỳnh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Công Hậu Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Từ Thanh Thuỳ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 529/2025/TLPT-
DS ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 139/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 573/2025/QĐ-PT ngày
10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1966.
Căn cước công dân số: 096066008369; cấp ngày: 24/6/2022; nơi cấp: Cục
cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội.
Địa chỉ: Số B, đường K Bạc Liêu, Khóm A, Phường F, thành phố C, tỉnh
Cà Mau (Nay là số B, đường K Bạc Liêu, phường H, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chị Trần Thùy N, sinh ngày
07/3/1985. Địa chỉ: Khóm A, phường H, tỉnh Mau (Văn bản uỷ quyền ngày
29/12/2025)(có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Văn P1, sinh năm 1978 (có mặt).
Căn cước công dân số: 096078012162; cấp ngày: 28/6/2021; nơi cấp: Cục
cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội.
2
Địa chỉ: Khóm A, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là khòm A,
phường H, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P trình bày: Năm 2024, ông Trần
Văn P1 cho máy xúc đất đổ lên phần đất bảo lưu ven sông của ông P. Ông P
đã nhiều lần nhắc nhở và yêu cầu ông P1 di dời phần đất đã múc ra khỏi phần đất
của ông, nhưng ông P1 không thực hiện. Sau đó, ông đã thuê người dọn dẹp phần
đất trên. Bản thân ông P thấy uy tín, danh dự của ông bị ông P1 xâm phạm do ông
P1 vu khống chiếm đất. Do đó, ông P yêu cầu ông P1 bồi thường các khoản như
sau:
- Tiền tổn thất tinh thần do uy tín, danh dự bị xâm hại 6.000.000 đồng.
- Tiền thuê người dọn dẹp phần đất mà ông P1 đã đổ 600.000 đồng.
- Buộc ông P1 phải di dời hai cột bằng cây dừa cặm dưới sông thuộc phần
đất của ông.
- Buộc ông P1 công khai xin lỗi tại Trụ sở sinh hoạt văn hoá khóm A, Phường
F, TP ., tỉnh Cà Mau (nay là phường H, tỉnh Cà Mau).
* Theo bị đơn ông Trần Văn P1 trình bày: Vào năm 2024, ông thuê máy
xúc đào đất bỏ lên phần đất bảo lưu ven sông của ông (ngay từ phần đất của ông
đi thẳng xuống sông C - Bạc Liêu). Phần đất này, ông đã sử dụng tnăm 2016
đến nay, nhưng ông Nguyễn Hoàng P ngang nhiên cho người đào đất của ông đổ
xuống sông. Nay, ông P1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P về việc
phải bồi thường tổng cộng số tiền 6.600.000 đồng, buộc phải di dời hai cột bằng
cây dừa công khai xin lỗi. Đồng thời, ông P1 đơn phản tố yêu cầu buộc
nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P bồi thường thiệt hại cụ thể:
- Tiền đất do ông P đổ xuống sông 560.000 đồng.
- Yêu cầu ông P xin lỗi trước Toà án khu vực 1 – Cà Mau.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 139/2025/DS-ST ngày 16
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
ông Trần Văn P1 bồi thường thiệt hại và tổn thất tinh thần 6.600.000 đồng và yêu
cầu công khai xin lỗi; yêu cầu di dời 02 trụ cây dừa dưới sông.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Buộc ông Nguyễn
Hoàng P bồi thường cho ông P1 số tiền 560.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu
công khai xin lỗi của ông P1.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất trong giai đoạn thi hành án, án phí,
quyền thoả thuận thi hành án, quyền kháng cáo.
3
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
sửa Bản án dân sthẩm số: 139/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Cà Mau, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Vviệc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ đến khi xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán Hội đồng xét xử; Tcác đương sự thực hiện đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng o của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P; Áp dụng khoản 1
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
139/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh
Cà Mau. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến pt
biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị án,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P
hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc
thẩm, quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 280 Điều
285 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P yêu cầu ông Trần
Văn P1 bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 600.000 đồng, bù đắp tổn thất tinh
thần 6.000.000 đồng, di dời 02 trụ cây dừa dưới mé sông và công khai xin lỗi. Bị
đơn ông Trần Văn P1 phản tố yêu cầu nguyên đơn bồi thường số tiền 560.000
đồng và công khai xin lỗi.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P về việc yêu cầu
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Ông Nguyễn Hoàng P ông Trần Văn P1 mẫu thuẫn trong việc
xác định quyền sử dụng đất thuộc đất bảo lưu kênh ngay trước nhà của ông Trần
Văn P2. Tuy nhiên, sự việc tranh chấp quyền sử dụng đất các bên đương sự chưa
yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn cho rằng bị đơn
đã nói xấu làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dcủa nguyên đơn, nên yêu cầu
đấp tổn thất tinh thần 6.000.000 đồng và công khai xin lỗi. Song, đây chỉ lời
trình bày của nguyên đơn không chứng cứ chứng minh mối quan hệ trực
tiếp giữa việc nguyên đơn nghỉ việc do bị nói xấu. Trong khi tại phiên toà, nguyên
đơn thừa nhận việc nguyên đơn nghỉ việc là tự xin nghỉ.
4
Trong năm 2024, bị đơn ông P1 đã múc đất từ dưới sông để lên phần đất
bảo lưu sông mà các bên đang tranh chấp. Ông P2 đã yêu cầu ông P1 di dời nhiều
lần, ông P1 không di dời, nên ông P2 đã thuê người múc đổ lại xuống sông với
chi phí 600.000 đồng, di dời 02 trụ cây dừa dưới mé sông. Các đương sự đều thừa
nhận vị trí bđơn đổ đất để trụ cây dừa thuộc đất bảo lưu kênh do Nhà nước
quản lý. Do đó, nguyên đơn không có quyền yêu cầu ông P1 di dời những tài sản
này. Trong trường hợp, đương sự nào vi phạm việc sử dụng đất bảo lưu kênh sẽ
do quan Nhà nước được giao thẩm quyền xử theo quy định (xử hành
chính, khắc phục hậu quả,…thậm chí là xử lý hình sự).
[3.3] Từ những phân tích trên, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo, nhưng không có sở
để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu không chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn:
[4.1] Bị đơn yêu cầu nguyên đơn bồi thường chi phí thuê múc đất 560.000
đồng. Mặc dù, các đương skhông chứng cứ chứng minh bỏ ra chi phí này,
nhưng đều thừa nhận có việc bị đơn đã múc đổ đất lên trên phạm vi đất thuộc bảo
lưu kênh và nguyên đơn đã thuê người lấp lại và số tiền bị đơn yêu cầu còn thấp
hơn của nguyên đơn yêu cầu, nên căn cứ xác định số tiền bỏ ra thuê múc đất
560.000 đổng là có trên thực tế.
[4.2] Như phân tích tại đoạn 2 tiểu mục [3.2] của phần nhận định này:
Nguyên đơn không quyền nhưng đã tự ý múc đất của bị đơn đem đổ, nên bị
đơn u cầu hoàn trả lại chi phí với số tiền 560.000 đổng sở. vậy,
nguyên đơn kháng cáo, nhưng không có chứng cứ chứng minh, nên không có căn
cứ chấp nhận.
[5] t toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn không căn cứ chấp nhận, giữ
nguyên nguyên Bản án dân sự thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[6] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P không
được chấp nhận kháng cáo, nên phải chịu 300.000 đồng, theo quy định tại khoản
1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí
và lệ phí Tòa án.
[8] Các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ, nên
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
5
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản
2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Điu 584, 589 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3, khoản 5 Điều 26, khoản
1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 139/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Hoàng P về việc buộc ông Trần Văn P1 bồi thường thiệt hại và tổn thất tinh thần
với tổng số tiền 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm ngàn đồng); yêu cầu xin lỗi
công khai tại Trụ sở sinh hoạt văn hkhóm A, Phường F, thành phố C, tỉnh
Mau (nay là phường H, tỉnh Cà Mau) và yêu cầu di dời hai cầy dừa dưới sông.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn P1. Buộc
ông Nguyễn Hoàng P bồi thường thiệt hại cho ông Trần Văn P1 số tiền 560.000
đồng (Năm trăm sáu mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc ktừ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn P1
về việc buộc ông Nguyễn Hoàng P xin lỗi tại Toà án nhân dân khu vực 1
Mau.
4. Về án phí dân sự:
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P phải chịu án phí gngạch
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 22/5/2025, nguyên đơn có nộp tạm
ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu số
0010896, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ.
- Bị đơn ông Trần Văn P1 không phải chịu án phí thẩm. Ngày 14/8/2025,
ông Trần Văn P1 đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tại biên lai số 0011938 được nhận lại khi bản án có hiệu lực.
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P phải chịu án phí phúc thẩm
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Hoàng P đã nộp tạm ứng án
phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số
0000356 ngày 18/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Mau được chuyển thu
án phí.
5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
6
người phải thi hành án dân scó quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TPT -TANDTC tại TP. HCM
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- TAND khu vực 1 - Cà Mau;
- THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Phan Công Trí
Tải về
Bản án số 19/2026/DS-PT Bản án số 19/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 19/2026/DS-PT Bản án số 19/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất