Bản án số 27/2021/HS-ST ngày 20/08/2021 của TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 27/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 27/2021/HS-ST ngày 20/08/2021 của TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mai Châu (TAND tỉnh Hòa Bình)
Số hiệu: 27/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MAI CHÂU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––––––––––––––
–––––––––––
Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày: 20- 8-2021.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lường Khắc Tiệp;
Ông Hà Công Toàn
- Thư phiên tòa: Khà Thị Thanh Loan Thư Tòa án nhân dân
huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Long - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hòa
Bình t x thm ng khai
vụ án hình s thẩm
thụ lý số: 27/2021/TLST - HS
ny 13 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra xét x sơ thẩm số:
27/2021/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1982
tại thành phố S, tỉnh S; nơi đăng HKTT: Tổ 7, phường L, thành phố S, tỉnh S;
nơi tạm trú: Xóm T, xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do;
trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1954 Phạm Thị B, sinh
năm 1961, bị cáo chưa vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân:
Không có án tích, chưa bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật lần nào, có sử dụng chất
ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 29/3/2021 chuyển tạm giam ngày 07/4/2021.
mặt.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1974, nơi trú: Xóm B,
xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 28/3/2021, Nguyễn Thành N mang đến bán cho Nguyễn
Thị K. Sau khi bán cá xong, K đưa cho Nam 05 viên ma túy tổng hợp. Nhận được
ma túy N mang xuống nhà phía sau và sử dụng nửa viên ma túy tổng hợp. Số ma
túy còn lại N mang về chỗ ở. Tối ngày 28/3/2021, Nam tiếp tục sử dụng thêm 02
viên ma túy một nửa viên ma túy, 02 viên ma y còn lại N để trong túi quần
2
và lên giường nằm. Trong lúc nằm viên ma túy rơi ra giường. Đến khoảng 16 giờ
ngày 29/3/2021, Công an Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình đến kiểm tra thì phát
hiện bắt quả tang N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 89/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 05/4/2021 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: 02 viên nén hình trụ màu
hồng trong phong niêm phong tổng khối lượng 0,19 gam ma túy, loại
Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS ngày 12/7/2021, Viện kiểm sát nhân
dân huyện M truy tố Nguyễn Thành N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo
điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội giữ
nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội
Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản
1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Thành N từ 12 đến
18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/3/2021.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không việc làm ổn định, không tài sản
riêng, không điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung
phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu toàn bộ số ma
túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Thành N khai nhận
được Nguyễn Thị K cho. quan điều tra đã tiến hành triệu tập lấy lời khai của
K, đồng thời tiến hành đối chất giữa K N. Tuy nhiên, K không thừa nhận việc
bán ma túy cho N, không còn chứng cứ nào khác, do đó chưa đủ căn cứ để đề
nghị xử lý hình sự đối với Nguyễn Thị K.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp
tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo không ý kiến tranh luận gì, nhất trí với lời luận tội
của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thành N về tội
Tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Thành N
nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sau sự việc xảy ra đã
thành khẩn khai báo về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xxem xét
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công
an huyện M, tỉnh Hòa Bình ; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân huyện M, tỉnh Hòa Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra tại phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định
3
của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của quan tiến hành ttụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đều hợp pháp.
[2] Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại quan điều tra phiên tòa hôm nay, bị cáo
khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng,
như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo
phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu,
chứng cứ khác trong hồ vụ án. Do đó đã đủ căn cứ để kết luận: Khoảng
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/3/2021, tại nơi tạm trú của Nguyễn Thành N, địa
chỉ xóm T, Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Công an Đ, huyện M, tỉnh Hòa
Bình đã bắt quả tang Nguyễn Thành N đang tàng trữ trái phép 0,19 gam
Methamphetamine mục đích để sdụng cho bản thân, ngoài ra không mục
đích khác. Như vậy đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội
Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
Hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành
vi của mình vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia
đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy
lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Song vì cần có chất
ma tuý để sử dụng cho bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm
tội. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính
sách quản Nhà nước về chất ma y. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với một
mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi hội trong một thời gian để cải tạo,
giáo dục bị cáo phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi xem xét hình phạt Hội đồng
xét xử cũng cân nhắc tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân người
phạm tội, bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo
thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Là tình tiết giảm nhẹ quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không việc làm ổn định, không tài
sản riêng, không điều kiện thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình
phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu toàn bộ số ma
túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thị K người N khai đã cho 05 viên ma túy, quá
trình xác minh K không thừa nhận đã cho N ma túy, không còn chứng cứ nào
khác, do đó không đủ căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành N phải nộp án phí theo quy định tại
Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sĐiều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4
[8] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332,
333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ
luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 29/3/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine còn lại sau khi giám định,
được niêm phong trong 01 phong bì.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện M, theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 32/THA ngày
12/8/2021 giữa bên giao Công an huyện M, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự
huyện M).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
- Bị cáo Nguyễn Thành N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, ktừ ngày tuyên án bị cáo quyền kháng cáo
bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xet xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh HB; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- STP tỉnh HB;
- Trại tạm giam CAT; (đã ký)
- Phòng Hồ sơ CAT;
- VKSND huyện MC;
- Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC;
- Chi cục THA dân sự MC; THAHS
- UBND phường L, TP S; Nguyễn Hồng Hưng
- UBND xã Đ ;
- Người TGTT; Lưu hồ sơ.
Tải về
Bản án số 27/2021/HS-ST Bản án số 27/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất