Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 07/03/2023 của TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 26/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 26/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 07/03/2023 của TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về tội mua bán trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Sìn Hồ (TAND tỉnh Lai Châu) |
| Số hiệu: | 26/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 07 tháng 3 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Cao C1 và ông Lường Văn Quý
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn
Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên tòa: Ông
Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ,
tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2022/TLST-
HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
19/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo: Chang A C;
sinh năm: 1998, tại: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản NT, xã CC,
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:
09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con
ông Chang A Đ (sinh năm 1957) và bà Phàn Thị C1 (sinh năm 1962); có vợ là
Tẩn Thị D (sinh năm 1996) và 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh
năm 2018); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2022 đến
ngày 21/3/2/22, tạm giam từ ngày 21/3/2022 đến ngày 02 tháng 12 năm 2022 bị
cáo được tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh Hùng; là trợ giúp viên pháp lý
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Lai Châu; có mặt tại phiên
tòa.
Người làm chứng:
Chang Mạnh C1; sinh năm 1982; nơi cư trú: bản NT, xã CC, huyện Sìn Hồ,
tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
2
Vàng A C2; sinh năm: 1992; nơi cư trú: bản CC, xã CC, huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu; vắng mặt.
Chang A D1; tên gọi khác là Chang A Thanh; sinh năm 2002.; nơi cư trú:
bản NT, xã CC, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
Phàn A T; sinh năm: 1995; nơi cư trú: bản NT, xã CC, huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu; có mặt.
Tẩn A B; sinh năm: 2001; nơi cư trú: bản NT, xã CC, huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 10/3/2022, Chang A C gọi điện thoại cho Chang A L, sinh năm
2001, đều trú tại bản Ngài Thầu, xã Căn Co, huyện Sìn Hồ, C rủ L đi mua ma
túy về để sử dụng và bán kiếm lời, L đồng ý. Sau đó, C, L đi gặp hai người đàn
ông, một người tên “Thanh”, một người tên “Hằng” (trước đó Thanh có gọi điện
thoại thỏa thuận bán Heroine cho C). C, L, Thanh, Hằng cùng đi đến bản Huổi
Lóng, xã Huổi Xó, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Khi đến nơi, Thanh, Hằng
đi vào trong bản Huổi Lóng mua ma túy, còn C, L đứng đợi ở dọc đường. Một
lúc sau, Thanh, Hằng quay lại nói đã mua được Heroine. C lấy số tiền 500.000
đồng đưa cho Thanh, Thanh nhận tiền rồi bảo Hằng lấy 01 gói Heroine được gói
bằng mảnh nilon màu hồng bán cho C. Mua được Heroine, C đưa gói Heroine
cho L cất giấu rồi cùng đi về. Khi đi đến xã Căn Co, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai
Châu, C và L chia gói Heroine thành 13 gói nhỏ, mỗi gói đều được gói bằng
mảnh nilon màu trắng. C giữ 08 gói Heroine, C đưa cho L giữ 05 gói Heroine và
nói: nếu có ai hỏi thì bán lấy tiền. Từ chiều ngày 10/3/2022 đến sáng ngày
11/3/2022, C, L cùng nhau sử dụng hết 07 gói Heroine. Chiều ngày 11/3/2022,
C bán 01 Heroine giá 90.000 đồng cho Chang Mạnh C1 (SN: 1982, trú tại: bản
Ngài Thầu, xã Căn Co, huyện Sìn Hồ) nhưng chưa lấy tiền. Mua được Heroine
của C, C1 mang đi sử dụng hết.
Đối với Chang A L, sau khi nhận 05 gói Heroine do C đưa, L đã bán trái
phép 04 lần, cụ thể như sau:
- Lần 1: khoảng 20 giờ ngày 10/3/2022, Chang A L nhận được điện thoại
của Vàng A C2 hỏi mua Heroine. Sau đó, L đi đến gần cây xăng xã Căn Co,
huyện Sìn Hồ gặp C2 và bán cho C2 02 gói Heroine lấy số tiền 200.000 đồng.
Mua được Heroine của L, C2 mang đi sử dụng hết.
- Lần 2: khoảng 08 giờ ngày 11/3/2022, Chang A L nhận được điện thoại
của Chang Mạnh C1 hỏi mua 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, L đồng ý. C1
nhờ D1 đến nhà L lấy gói Heroine, C1 nói là lấy gói thuốc nhưng không nói
thuốc gì. Mua được Heroine của L, C1 lấy ra sử dụng hết.
3
- Lần 3: khoảng 19 giờ ngày 11/3/2022, tại bản Ngài Thầu, xã Căn Co,
huyện Sìn Hồ, Chang A L gặp Phàn A T và Tẩn A B. Qua nói chuyện, L bán
cho T, B 01 gói Heroine giá 100.000 đồng nhưng chưa lấy tiền.
- Lần 4: khoảng 21 giờ ngày 11/3/2022, bản Ngài Thầu, xã Căn Co, huyện
Sìn Hồ, Chang A L bán cho Chang Mạnh C1 01 gói Heroine lấy số tiền 100.000
đồng.
Sau khi bán trái phép ma túy, Chang A L nhắn tin qua phần mềm Facebook
Messenger cho Chang A C biết thông tin về người mua ma túy và số tiền bán ma
túy mà có. Đối với Chang Mạnh C1, sau khi mua được ma túy của Chang A L
vào tối ngày 11/3/2022, C1 chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã Căn Có phát
hiện, bắt quả tang. Căn cứ lời khai của C1, ngày 12/3/2022 Cơ quan điều tra đã
ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Chang A L, quá trình giữ
người thu giữ của L số tiền 400.000 đồng do bán ma túy mà có và 01 điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone (L dùng để trao đổi mua bán ma túy). Cùng ngày,
Chang A C đến Công an xã Căn Co huyện Sìn Hồ đầu thú về hành vi mua bán
trái phép chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 04 ngày 13/3/2022 của người giám
định theo vụ việc, kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Chang Mạnh
Cượng có khối lượng 0,02 gam. Tại bản Kết luận giám định số 260 ngày
15/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: mẫu
chất, bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKSSH ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã truy tố bị cáo Chang A C về tội: “Mua bán
trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật
Hình sự.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm
tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Sìn Hồ đã truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ quyền công tố rút một phần nội dung bản
cáo trạng đối với bị cáo (rút việc truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 251
của Bộ luật Hình sự và giữ nguyên việc truy tố bị cáo để ra trước Tòa án nhân
dân huyện Sìn Hồ để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b
khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự). Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm
b khoản 2 Điều 251, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều
58 của Bộ luật Hình sự: tuyên bố bị cáo Chang A C phạm tội “Mua bán trái
phép chất ma tuý”; xử phạt bị cáo Chang A C từ 07 đến 08 năm tù; không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ
luật Hình sự; Về vật chứng: đối với 0,02 gam Heroine thu giữ của Chang Mạnh
C1, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật. Đối với số
4
tiền 400.000 đồng thu giữ của Chang A L, tại bản Kết luận giám định số 331
ngày 20/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số
tiền 400.000 đồng gửi giám định là tiền thật, là số tiền do hành thực hiện hành vi
phạm tội mà có, nên bị tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước; đối với 01 chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu Itel thu giữ của Chang A C; 01 chiếc điện thoại di
động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Chang A L là phương tiện được sử dụng để
thực hiện hành vi phạm tội, nên bị tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước; vật
chứng còn lại của vụ án gồm: 01 mảnh nilon màu trắng thu giữ của Chang Mạnh
C1 đã được sử dụng để gói Heroine, hiện nay mảnh nilon này không có giá trị,
không sử dụng được, nên bị tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại Điều 46, điểm
a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật
Tố tụng Hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm
đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị
cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận
đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin miễn
nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa: Về tội danh như Kiểm sát
viên đã trình bày, người bào chữa không có ý kiến gì. Trong quá trình điều tra,
truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội
của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn; trong các lần L mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo
không trực tiếp bán mà chỉ trao đổi về việc mua, bán ma túy với L qua điện
thoại, bị cáo chưa được hưởng lợi gì. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1,
5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 và Điều 38 của
Bộ luật Hình sự và các tình tiết về mục đích phạm tội, hậu quả của tội phạm,
nhân thân bị cáo để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, quyết
định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị
cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do hoàn cảnh kinh tế của
gia đình bị cáo khó khăn; áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 để xem xét, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: trong
5
quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Người
bào chữa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo
quy định tại Điều 73 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ được
thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên
các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào
chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa cho bị cáo:
Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa
là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo, với mức độ nghiêm
trọng, nguy hại cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nên đề nghị
của Kiểm sát viên được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa về việc tội danh, các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân than
của bị cáo, nên được chấp nhận; đối với đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 54 của
Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
(khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự) là chưa tương xứng với mức độ nghiêm
trọng của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, không phục vụ tốt công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai
Châu, nên đề nghị này không được chấp nhận.
Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với
lời khai nhận tội tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi
phạm tội như sau: Ngày 10/3/2022, tại bản Huổi Lóng, xã Huổi Xó, huyện Tủa
Chùa, tỉnh Điện Biên, Chang A C đã mua 01 gói Heroine giá 500.000 đồng, mục
đích để bán kiếm lời. Mua được ma túy, trong các ngày 10,11/3/2022 tại xã Căn
Co, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, C đã 05 lần thực hiện hành vi bán trái phép
chất ma túy cho Chang Mạnh C1, Vàng A C2, Phàn A T, Tẩn A B. Bị cáo
Chang A C là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo đã phạm
vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến
tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo nhận
thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Vì không có
ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và cũng vì ham khoản lợi có được từ việc
6
mua bán trái phép chất ma túy, mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành phạm tội. Hành
vi phạm tội của bị cáo và Chang A L thuộc trường hợp đồng phạm. Bị cáo là
người rủ L cùng thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy. Sau khi mua được
ma túy, bị cáo là người “phân chia” số ma túy mua được, theo đó bị cáo tự cầm
08 gói, đưa cho L 05 gói và nói với L: nếu có ai hỏi mua thì bán lấy tiền. Những
ngày sau đó, bị cáo và L nhiều lần cùng nhau sử dụng Heroine, nhưng chỉ sử
dụng phần Heroine mà bị cáo đã cầm (bị cáo và L sử dụng hết 07 gói, còn 01 gói
bị cáo bán cho Chang Mạnh C1). Trong 4 lần L bán trái phép Heroine, bị cáo là
người tham gia tích cực vào việc mua bán qua việc trao đổi thông tin qua phần
mềm Facebook Messenger, trong đó bị cáo là người quyết định giá bán
Heroine). Cần áp dụng Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để quyết định một
hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ tham gia phạm tội, để giáo dục,
cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội; đồng thời giáo dục ý thức
tuân thủ pháp luật; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
[3] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra,
truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú tại
Công an xã Căn Co, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; bị cáo là người dân tộc thiểu
số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo chỉ
học đến lớp 09, nhận thức xã hội, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Nên bị
cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt
cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.
[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập định
ổn định; hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành
hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; bị cáo không lao động trong các ngành,
nghề hoặc đảm nhiệm công việc cần phải cấm; nên không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của Chang A L, tại bản Kết luận giám
định số 331 ngày 20/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu
kết luận: số tiền 400.000 đồng gửi giám định là tiền thật, là số tiền do hành thực
hiện hành vi phạm tội mà có, nên bị tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước; đối
với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel thu giữ của Chang A C; 01 chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Chang A L là phương tiện được
sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên bị tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà
nước theo quy định tại Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; vật chứng còn lại
7
của vụ án gồm: 01 mảnh nilon màu trắng thu giữ của Chang Mạnh C1 đã được
sử dụng để gói Heroine, hiện nay mảnh nilon này không có giá trị, không sử
dụng được, nên bị tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47
của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tại phiên tòa bị cáo xin được miễn nộp tiền án
phí sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình
sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ
thẩm.
[8] Quyền kháng cáo: theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày tuyên án.
[9] Về nguồn gốc ma túy, trách nhiệm của người có liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị can Chang A C khai mua của hai người đàn ông
tên Thanh, Hằng. C không biết lai lịch của Thanh, Hằng. Cơ quan điều tra có
Công văn số 279/CV ngày 20/7/2022 đề nghị Tập đoàn Công nghiệp - Viễn
thông cung cấp thông tin số thuê bao Thanh sử dụng liên lạc với C nhưng chưa
có kết quả. Do thời hạn điều tra đã hết, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách
hành vi, tài liệu liên quan để xử lý trong một vụ việc khác.
Đối với Chang Mạnh C1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine để
sử dụng. Khối lượng ma túy C1 tàng trữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự, C1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép
chất ma túy và chưa bị kết án về các tội quy định tại Điều 248, 249, 250, 251 và
252 Bộ luật Hình sự. Đối với Vàng A C2, Phàn A T, Tẩn A B có hành vi sử
dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy hành vi của C1, C2, T, B là hành vi vi
phạm hành chính, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan cho Công an xã
Căn Co, huyện Sìn Hồ để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với Chang A D1 (tên gọi khác là Chang A Thanh) có hành vi nhận gói
ma túy giúp Chang Mạnh C1. Quá trình điều tra xác định, D1 không biết gói đưa
cho C1 là ma túy, C1 cũng đã sử dụng hết số ma túy mua được. Do vậy, Cơ
quan điều tra không đề cập xử lý đối với Chang A D1 là đúng quy định.
Đối với Chang A L là đồng phạm với Chang A C trong vụ án. Quá trình
điều tra đến ngày 14/5/2022 L chết do bệnh lý tại Trung tâm y tế huyện Sìn Hồ.
Ngày 15/5/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối
với bị can, đình chỉ điều tra bị can, Viện kiểm sát đã ra quyết định hủy bỏ biện
pháp tạm giam đối với Chang A L.
Vì các lẽ trên,

8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 46; điểm a, b
khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình
sự; điểm a, b, c khoản 2, Điều 106, các Điều 135, 136, 331 và Điều 333 của Bộ
luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố: bị cáo Chang A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Chang A C 07 (bảy) năm tù, được trừ
08 tháng 20 ngày bị tạm giữ, tạm giam; còn phải chấp hành 06 năm 03 tháng 10
ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Xử lý vật chứng:
Tịch thu và tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng.
Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước vật chứng trong vụ án gồm:
400.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel thu giữ của Chang A
C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Chang A L.
5. Án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 3 năm 2023).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lai Châu;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
- VKSND huyện Sìn Hồ;
- CQCSĐT CA huyện Sìn Hồ;
- CQTHAHS CA huyện Sìn Hồ;
- CCTHADS huyện Sìn Hồ;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Hằng Hải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng