Bản án số 26/2023/HS-PT ngày 28-02-2023 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 26/2023/HS-PT Đắk Lắk
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 26/2023/HS-PT Đắk Lắk
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 26/2023/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 26/2023/HS-PT ngày 28-02-2023 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 173.Tội trộm cắp tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 26/2023/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Trần Văn H tội trộm cắp tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Tú và bà Nguyễn Thị Hạnh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hiền - Thư k Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê
Thị Bích Thủy - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số: 02/2023/TLHS-PT ngày 05/01/2023,
đối với bị cáo Trần Văn H, về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo
và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ
thẩm số 316/2022/HS-ST ngày 24/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn H (tên gọi khác: Đ); sinh ngày 28/8/1992, tại tỉnh Đắk
Lắk; nơi cư trú: Xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học
vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Trần Văn P, sinh năm 1955 và bà Đậu Thị Minh S, sinh năm 1962; bị cáo
chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: 04 tiền án: Ngày 18/5/2010, bị Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản
án số 128/2010/HSPT), ngày 31/8/2011 chấp hành xong hình phạt; Ngày 26/4/2012,
bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài
sản” (Bản án số 16/2012/HSST), ngày 10/01/2013 chấp hành xong hình phạt; Ngày
10/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 09 tháng tù
về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 05/2015/HSST); Ngày 10/02/2015, bị Tòa án
nhân dân huyện L, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án
số 02/2015/HSST). Tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án này là 06 năm 09 tháng
tù, chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/9/2019.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 26/2023/HS-PT
Ngày: 28 - 02 - 2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ GHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/4/2020 đến ngày
10/9/2020; từ ngày 11/9/2020 bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; đến ngày
18/02/2022, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm cho đến nay. Bị cáo có mặt
tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Trần Văn P và bà Đậu Thị Minh
S (là cha mẹ đẻ của bị cáo); địa chỉ: Xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; ông Phúc, bà Sơn
đều có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đức Du - Luật sư thuộc Công
ty Luật trách nhiệm hữu hạn Đ, Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Đường L, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
NỘI DUNG V N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trần Văn H, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T và đối tượng tên T1 (chưa xác định
lai lịch) là bạn quen biết với nhau. Để có tiền tiêu xài cá nhân, H1, H, Nguyễn Văn
T và đối tượng T1 rủ nhau đi trộm cắp tài sản là xe Mô tô tại các tỉnh Gia Lai, Lâm
Đồng và Đắk Lắk đem đến tỉnh Bình Phước bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. H1, H,
Nguyễn Văn T và đối tượng T1 thỏa thuận thống nhất với nhau để thực hiện việc
trộm cắp tài sản, sử dụng xe Mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter gắn biển số 47B1-
537.xx của Phạm Văn H1 và xe Mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter biển số 93G1-
225.xx của Nguyễn Văn T chở nhau đi dọc các tuyến đường tìm tài sản là xe Mô tô
của người dân sơ hở thì trộm cắp, khi phát hiện xe Mô tô của người dân sơ hở, H1
và H thay phiên nhau dùng vam phá khóa (do H1 và H tự làm) để phá khóa xe Mô
tô và lấy trộm xe, còn đối tượng T1 cảnh giới. Sau khi lấy được xe, sẽ thay biển số
giả do đối tượng T1 chuẩn bị sẵn, giao cho Nguyễn Văn T canh giữ xe trộm cắp
được và cùng chạy xe đi tiêu thụ. Khi cần thêm người, H gọi thêm Nguyễn Văn T2
đến thành phố B cùng chạy các xe trộm cắp đi tiêu thụ và trả tiền công cho T2 từ
2.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng một xe. Ngoài ra, H1 còn trộm cắp xe mô tô
cùng với đối tượng tên Nguyễn Như H2 (sinh năm: 1990, hộ khẩu thường trú: Xã
K, huyện C, tỉnh Đắk Lắk). Trong năm 2020, tại địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai
và Lâm Đồng, các đối tượng trên cùng đồng bọn đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài
sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 25/02/2020, Trần Văn H và Phạm
Văn H1 chở nhau bằng xe Mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 47B1-537.xx của
H1 đi từ thành phố B đến thành phố Đ theo tuyến Quốc lộ 27 để trộm cắp xe Mô tô.
Khi đi qua xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, thì H và H1 thấy chiếc xe Mô tô hiệu
Yamaha, loại MXKING, biển số: 49C1-106.xx của anh Nguyễn Hữu C (sinh năm
1998, hộ khẩu thường trú: xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) dựng trong sân nhà ông
3
Nguyễn Văn Đ (hộ khẩu thường trú: xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) không có người
trông coi. Lúc này, H đứng ngoài cảnh giới, H1 vào trong sân nhà dắt xe xuống
đường Quốc lộ 27 rồi dắt ra xa khoảng 100m. Sau đó, H1 dùng van chữ L để bẻ ổ
khóa nhưng ổ khóa bị vỡ mà xe vẫn không nổ máy được, nên H dùng tay giật dây
điện ổ khóa dưới mặt nạ xe máy nối lại với nhau, rồi H1 nổ máy cùng với H chạy
thoát. Đi được một đoạn, thì H1 thay biển số xe rồi cùng H đến thành phố Đ, tỉnh
Lâm Đồng với mục đích tiếp tục tìm xe để trộm cắp. Tại thành phố Đ, H và H1 giấu
xe mô tô vừa trộm cắp được trong đồi thông gần hồ Tuyền Lâm và đi đến nhà nghỉ
gần đó ngủ. Đến sáng ngày 26/02/2020, H1 gửi xe Mô tô của H1 tại bến xe P rồi
cùng H điều khiển xe mô tô trộm cắp được tại huyện Đam Rông chạy khắp các
tuyến đường trên thành phố Đ để tiếp tục trộm cắp xe mô tô. Đến chiều ngày
26/02/2020, thì bị Công an thành phố Đ phát hiện nghi vấn và truy đuổi. Cả hai chở
nhau bỏ chạy về huyện Lvà bỏ xe tại một vườn cây tại huyện L, tỉnh Lâm Đồng rồi
trốn thoát. Công an huyện L đã phát hiện và trao trả lại chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha,
loại MXKING, biển số 49C1-106.xx cho anh Nguyễn Hữu C.
Tại bản Kết luận định giá số 17, ngày 09/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha, loại
MXKING, biển số 49C1-016.xx, trị giá 25.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Ngày 19/3/2020, Trần Văn H cùng đối tượng T1 chuẩn bị vam
phá khóa, rủ nhau đi theo tuyến Quốc lộ 14 từ thành phố B hướng về tỉnh Gia Lai
tìm xe mô tô để sơ hở thì lấy trộm, T điều khiển xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter
(không rõ biển số) chở H ngồi sau. Khi đi đến địa bàn thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, cả hai
phát hiện chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng - đen - bạc,
biển số 47C1-320.xx của chị Phạm Thị Mỹ L đang để trong sân nhà chị Nguyễn Thị
Thu H ở tổ dân phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, không có người trông coi.
Lúc này, T1 dừng xe quan sát để H tiếp cận dùng vam phá khóa, bẻ khóa ổ điện, nổ
máy lấy xe tẩu thoát. Sau đó, H giao chiếc xe vừa trộm cắp được cho T1 đem đi tiêu
thụ và được T1 chia cho số tiền 3.000.000 đồng và H đã tiêu xài hết toàn bộ số tiền
trên.
Tại bản Kết luận định giá số 1276a, ngày 29/5/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chiếc xe Mô tô nhãn hiệu
Honda, loại Wave, màu sơn trắng - đen - bạc, biển số 47C1-320.xx, trị giá
16.020.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 18/4/2020, Trần Văn H, Phạm
Văn H1, Nguyễn Văn T và đối tượng tên T1 chở nhau bằng xe Mô tô hiệu Yamaha
Exciter, biển số 93G1-225.xx của Nguyễn Văn T và xe Mô tô hiệu Yamaha Exciter,
biển số 47B1-537.xx của Phạm Văn H1 đi từ thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến thành
phố P, tỉnh Gia Lai để trộm cắp xe mô tô. Khi đến thành phố P, Nguyễn Văn T vào
quán nước gần ngã ba Hàm Rồng ngồi đợi, còn T chở H, H1 đi xe mô tô một mình
vào trung tâm thành phố P tìm xe mô tô của người dân sơ hở để trộm cắp. Khi đi
4
ngang qua nhà phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì H1, T1, H thấy chiếc xe Mô
tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 81B2-545.xx của anh Lê Văn L (sinh
năm: 1993, trú tại tổ H, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai) để trên vỉa hè không
có người trông coi. Lúc này, H1 và T1 đứng ngoài cảnh giới, H đến dùng vam phá
khóa chiếc xe mô tô trên lấy trộm xe rồi cùng nhau chạy thoát đến rừng tràm cất
giấu chiếc xe vừa trộm được.
Tại bản Kết luận định giá số 50, ngày 12/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha loại
Exciter, biển số 81B2-545.xx trị giá 32.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Sau khi cất giấu chiếc xe máy vừa trộm được (vụ thứ ba), T1 chở
H1, còn H điều khiển xe một mình vào trung tâm thành phố P tiếp tục trộm cắp xe
mô tô. Khi đi ngang qua nhà ở phường Đ, thành phố P, H1, T, H thấy chiếc xe Mô
tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 81U1-156.xx của anh Dương Ngọc H (sinh
năm 1990, trú tại hẻm phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) để trên vỉa hè không
có người trông coi. Lúc này, H và T1 đứng ngoài cảnh giới, H1 đến dùng vam phá
khóa chiếc xe mô tô trên lấy trộm xe rồi cùng nhau chạy thoát đến rừng Tràm cất
giấu chiếc xe vừa trộm được. Sau đó, H điều khiển xe đi một mình quay lại chở
Nguyễn Văn T đến rừng Tràm để Nguyễn Văn T canh giữ hai chiếc xe do H, H1,
T1 trộm cắp được, sau đó, H, H1, T1 tiếp tục vào thành phố P trộm cắp xe mô tô.
Khi vào thành phố P, H1, H, T1 trộm cắp được một xe Mô tô hiệu Yamaha loại
Exciter (chưa xác định biển số xe, người bị hại và địa điểm mất xe) rồi cùng nhau
chạy thoát lại khu vực rừng Tràm cất giấu chiếc xe vừa trộm cắp được. Sau khi cất
giấu xe, H1 và H đi gửi lại chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha Exciter, gắn biển số 47B1-
537.xx của H1 tại một Bệnh viện thuộc thành phố P, rồi quay lại rừng tràm cùng
đồng bọn điều khiển 03 chiếc xe trộm cắp được cùng với xe của Nguyễn Văn T về
huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, Nguyễn Văn T đi gửi lại xe Mô tô hiệu Yamaha
Exciter biển số 93G1-225.xx của Nguyễn Văn T ở Bệnh viện đa khoa huyện E rồi
cùng đồng bọn đi cất giấu 03 chiếc xe đã trộm cắp được tại một nghĩa trang ở xã E,
huyện E. Sau khi cất giấu xe, H1, H, Nguyễn Văn T và T1 thuê nhà nghỉ ngủ lại,
đến sáng ngày 19/4/2020 thì cùng nhau điều khiển các xe trộm cắp được về thành
phố B.
Tại bản Kết luận định giá số 50, ngày 12/6/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha, loại
Exciter, biển số 81U1-156.xx trị giá 26.000.000 đồng.
Vụ thứ năm: Sau khi thực hiện vụ thứ tư, H cùng đồng bọn đi đến địa bàn
tỉnh Đắk Lắk, khi đến thành phố B, H rủ cả bọn trộm cắp thêm xe mô tô. Lúc này,
Nguyễn Văn T điều khiển một xe mô tô đến khu vực nghĩa trang đường S, thành
phố B đứng đợi, H chở H1, T1 đi một mình vào trung tâm thành phố B. Khi đi
ngang qua nhà ở phường T, thành phố B, thì H1, T1, H thấy chiếc xe Mô tô hiệu
Yamaha, loại Exciter, biển số 35B-797.xx của anh Nguyễn Văn V (sinh năm: 1996,
5
trú tại: Đường C, phường T, thành phố B) để trên vỉa hè, không có người trông coi.
Lúc này, H và T1 đứng ngoài cảnh giới, H1 đến dùng vam phá khóa chiếc xe mô tô
trên lấy trộm xe rồi cùng nhau chạy thoát về khu vực nghĩa trang đường S cùng
Nguyễn Văn T điều khiển 04 xe mô tô trộm cắp được đến tỉnh Bình Phước. Tại đây,
các đối tượng giao xe cho đối tượng T3 bán lấy tiền chia nhau tiêu xài hết. Cơ quan
điều tra chưa làm việc được đối với đối tượng T3, nên chưa xác định được những
chiếc xe do chiếm đoạt nêu trên bán cho ai và đang ở đâu, nên chưa thu giữ được.
Tại bản Kết luận định giá số 108, ngày 28/5/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu
Yamaha, loại Exciter, biển số 35B1-797.xx trị giá 30.200.000 đồng.
Vụ thứ sáu: Vào khoảng 7 giờ 00 phút ngày 26/4/2020, Trần Văn H chở
Nguyễn Văn T bằng xe Mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 47B1-537.xx của Phạm
Văn H1, còn đối tượng T1 chở H1 bằng xe Mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số
93G1-225.xx của Nguyễn Văn T đi từ thành phố B đến thành phố P để trộm cắp xe
mô tô. Đối tượng T mang theo các biển số xe gồm: 47S1-19179, 47D1-62532,
48B1-72653. Khi đi ngang qua thôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. T, H1 thấy
chiếc xe Mô tô hiệu Honda, loại Winner, biển số 47M1-518.xx của anh Phạm Minh
T (sinh năm: 1992, Hộ khẩu thường trú: Xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) dựng trong
sân nhà ông Đặng Thanh M, trú tại: Thôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, không
có người trông coi. Lúc này, T1 dừng xe đứng ngoài cảnh giới, H1 đến dùng vam
phá khóa chiếc xe mô tô trên lấy trộm xe rồi cùng đồng bọn tẩu thoát. Khi đến một
lô cao su thuộc xã E, huyện E, H1 cùng đồng bọn vào trong lô cao su tháo biển số
47M1-518.xx vứt bỏ và gắn biển số 47S1-19179 vào xe vừa trộm được thì thấy xe
gần hết xăng, nên Nguyễn Văn T đi mua xăng đổ vào chiếc xe trên và xe của Nguyễn
Văn T. Sau đó, H điều khiển xe Honda Winner vừa trộm được, Nguyễn Văn T điều
khiển xe của H1, còn đối tượng T1 chở H1 bằng xe của Nguyễn Văn T tiếp tục đi
về hướng tỉnh Gia Lai để trộm cắp xe mô tô.
Tại bản Kết luận định giá số 526, ngày 16/6/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Honda, loại Winner,
biển số 47M1-518.xx trị giá 26.000.000 đồng.
Vụ thứ bảy: Sau khi thực hiện vụ thứ sáu, Nguyễn Văn T đi một xe Mô tô, H
đi xe Mô tô vừa trộm cắp được, còn đối tượng T1 chở H1 đi một xe Mô tô. Khi đi
ngang qua xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, T1, H1 thấy chiếc xe Mô tô hiệu Honda, loại
PCX, biển số 81S1-085.xx, số máy: JF56E0011056, số khung: 5604EY006772 của
ông Trần Đình T (sinh năm: 1958, Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh
Gia Lai) có gắn chìa khóa xe dựng trước nhà bà Hoàng Thị H, trú tại: Xã I, huyện
C, tỉnh Gia Lai) không có người trông coi. Lúc này, T1 dừng xe đứng ngoài cảnh
giới, H1 mở khóa chiếc xe mô tô trên lấy trộm xe rồi cùng đồng bọn tẩu thoát. Khi
đến huyện C, T1 và Nguyễn Văn T đi gửi lại xe mô tô của H1 ở Trung tâm y tế
huyện C, H và H1 đi vào một rẫy cà phê thuộc xã G, huyện C cất giấu và tháo biển
6
số 81S1-085.xx của xe Mô tô hiệu Honda PCX rồi thay vào biển số 47D1-62532.
Sau đó, H chở H1 bằng xe mô tô hiệu Honda Winner (trộm được ở vụ thứ sáu), T1
chở Nguyễn Văn T bằng xe mô tô hiệu Yamaha Exciter của Nguyễn Văn T tiếp tục
đi về hướng thành phố P để trộm cắp xe mô tô.
Tại bản Kết luận định giá số 22, ngày 27/5/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Honda, loại PCX,
biển số 81S1-085.xx trị giá 27.000.000 đồng.
Vụ thứ tám: Sau khi thực hiện vụ thứ bảy, H cùng đồng bọn tiếp tục đi, khi
đến một quán nước ở ngã ba Hàm Rồng, thành phố P, tỉnh Gia Lai, đối tượng T1 để
Nguyễn Văn T ngồi lại quán nước đợi, rồi cùng H, H1 đi vào trung tâm thành phố
P, tỉnh Gia Lai để trộm cắp xe mô tô. Khi đến hẻm phường H, thành phố P, tỉnh Gia
Lai, T1, H, H1 thấy trước một dãy trọ có dựng một xe Mô tô hiệu Yamaha Exciter
biển số 77H1-196.xx, số máy: G3D4E021391, số khung: 0610FY021384 của chị
Trần Thị H (sinh năm: 1991, Hộ khẩu thường trú: phường H, thành phố P, tỉnh Gia
Lai) không có người trông coi. T1 đứng ngoài cảnh giới, H chở H1 đến gần để H1
dùng vam phá khóa chiếc xe trên lấy trộm xe rồi cùng đồng bọn tẩu thoát đến ngã
ba Hàm Rồng đón Nguyễn Văn T vào khu vực rừng tràm tháo biển số 77H1-196.xx
và thay vào biển số 48B1-72653. Sau đó, T1 và H đi gửi xe của Nguyễn Văn T ở
Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, rồi cả nhóm điều khiển 03 xe trộm cắp được về
huyện E cất giấu tại một nghĩa trang thuộc xã N, huyện E và thuê phòng nghỉ lại.
Sáng ngày 27/4/2020, H1 điều khiển xe Yamaha Exciter (trộm cắp được tại thành
phố P) chở H, T1 điều khiển xe Honda Winner (trộm cắp được tại huyện E), Nguyễn
Văn T điều khiển xe Honda PCX (trộm cắp được tại huyện C) đi về hướng thành
phố B tiếp tục trộm cắp xe mô tô.
Tại bản Kết luận định giá số 52, ngày 18/6/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha, loại
Exciter, biển số 77H1-196.xx trị giá 23.500.000 đồng.
Vụ thứ chín: Khi Nguyễn Văn T, H, H1 và đối tượng tên T1 đi từ huyện E
về thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến phường A, thị xã B, thì H và H1 thấy trên đường
có dựng một xe Mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu sơn xanh - đen - bạc, biển số
47C1-322.xx, số máy: JA39E0899469, số khung: 3911KY043426 của chị Nguyễn
Thị N (sinh năm: 1995, trú tại phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk) không có người
trông coi. H1 dừng xe đứng cảnh giới cho H dùng vam phá khóa chiếc xe trên lấy
trộm xe rồi cùng đồng bọn tẩu thoát về hướng thành phố B để tiếp tục trộm cắp xe
mô tô. Trên đường đi các bị cáo tháo biển số 47C1-322.xx vứt bỏ và thay bằng biển
số 81S1-08569.
Tại bản Kết luận định giá số 10, ngày 05/5/2020 của Hội đồng định giá 1276a
UBND thị xã B kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 47C1-
322.xx trị giá 15.779.700 đồng.
7
Khi gần đến thành phố B, H gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T2 đến thành
phố B cùng H điều khiển các xe do H và đồng bọn trộm cắp được đi tiêu thụ, thì T2
đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán nước ở rừng thông, đường N thuộc xã H, thành
phố B. Khi đến địa điểm trên, H giao chiếc xe Honda Wave cho T, để T ngồi đợi
cùng Nguyễn Văn T2, rồi H cùng H1 và T1 đi vào thành phố B tiếp tục trộm cắp xe
mô tô.
Vụ thứ mười: Sau khi đi vào thành phố B, khi đi đến trước nhà phường T,
thành phố B. H1, T1 và H thấy một xe Mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu trắng
đỏ đen, biển số 47B2-480.xx (trong cốp có một giấy chứng minh nhân dân mang
tên Vương Hoàng Nữ U, một giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe đều
mang tên Nguyễn Hoàng V) của anh Nguyễn Hoàng V (sinh năm: 1998, trú tại:
phường T, thành phố B), để ở vỉa hè không có người trông coi. Lúc này, H xuống
xe đi bộ lại gần chiếc xe mô tô của anh V lấy vam phá khóa bẻ khóa xe mô tô của
anh V lấy trộm xe rồi cùng đồng bọn điều khiển xe tẩu thoát. Trên đường đi H gọi
cho T1 nói T1 chở Nguyễn Văn T đến Bệnh viện Vùng Tây Nguyên. Sau đó cả
nhóm gặp nhau tại Bệnh viện Vùng Tây Nguyên rồi cùng nhau điều khiển 05 xe đã
trộm cắp được đến tỉnh Bình Phước tiêu thụ. Khi đến huyện C, tỉnh Đắk Nông, H1
và H đổi xe cho nhau rồi H đi trước tìm chỗ rút tiền. H1, T1, Nguyễn Văn T và đối
tượng T2 điều khiển 04 xe mô tô trộm cắp được đi sau đến huyện M thì bị Công an
huyện M phát hiện truy đuổi nên bỏ lại 04 xe mô tô rồi chạy thoát. Đối với H, sau
khi gọi điện thoại cho H1 và được H1 cho biết đã bị phát hiện và bỏ lại xe, nên H
điều khiển xe Yamaha Exciter (trộm cắp được ở thành phố P) quay về chỗ ở của H
tại phường T, thành phố B thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn
Ma Thuột mời về làm việc.
Tại bản Kết luận định giá số 85, ngày 29/4/2020 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Chiếc xe Mô tô hiệu Yamaha, loại
Exciter, biển số 47B2-480.xx trị giá 38.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, ngoài 01 vụ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
nêu trên, Nguyễn Văn T2 còn khai nhận đã được H thuê thực hiện 01 lần vận chuyển
xe mô tô do H trộm cắp có với giá 3.000.000 đồng/01 xe, cụ thể: Vào khoảng giữa
tháng 4/2020, H thuê T2 chạy xe từ thành phố B đến tỉnh Bình Phước với tiền công
là 3.000.000 đồng, thì T2 đồng . Sau đó, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha
Exciter (chưa xác định biển số) đến xã B, huyện K đón T2 đến khu vực nghĩa trang
đường S, thành phố B. Tại đây, H giao cho T2 điều khiển một xe mô tô hiệu Yamaha
Exciter (chưa xác định biển số) đang dựng ở gần nghĩa trang V. Sau đó, H và T2
điều khiển hai xe mô tô nói trên đến tỉnh Bình Phước. Tại đây, H để lại hai chiếc xe
trên tại một đường nhánh (không rõ địa chỉ) đưa cho T2 số tiền 3.000.000 đồng, rồi
cả hai đón xe khách về lại thành phố B. Tuy nhiên hiện chưa xác định được xe do
H đã trộm cắp, mà T2 mang đi tiêu thụ, cũng như chưa xác định được bị hại.
8
Trong vụ án này, đối với các đối tượng Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T và
Nguyễn Văn T2, đã được Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử tại Bản
án số 417/2020/HS-ST ngày 24/12/2020.
Đối với bị cáo Trần Văn H: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công
an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 6624 ngày
08/6/2020, về giám định tình trạng tâm thần của Trần Văn H và tại bản Kết luận
giám định pháp y tâm thần số 118/KLGĐ, ngày 21/8/2020 của Trung tâm pháp y
tâm thần khu vực Tây Nguyên, đã kết luận đối với Trần Văn H như sau:
Về y học: Trước, trong khi gây án (ngày 27/4/2020) Trần Văn H bị bệnh: Rối
loạn nhân cách không biệt định (F60.9-ICD.10), hiện tại bị can bị bệnh: Rối loạn
cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn
thần/Rối loạn nhân cách không biệt định (F31.5/F60.9 - ICD.10); Về khả năng nhận
thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong khi gây án (ngày 27/4/2020) Trần
Văn H: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, hiện
tại: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi; đề nghị áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 02/QĐ-VKS, ngày
10/9/2020, đối với Trần Văn H.
Ngày 21/11/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma
Thuột đã ban hành Quyết định số 2270, trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của
Trần Văn H; Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc
số 13/KLBB-VPYTW, ngày 11/01/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên
Hòa đã kết luận đối với Trần Văn H: Bị bệnh: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại
giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần/Rối loạn nhân cách không
biệt định (F31.5/F60.9 - ICD.10); Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị
bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm
việc với cơ quan pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột đã ra Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 03/QĐ-
VKS, ngày 11/02/2022 và ngày 18/02/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và
Quyết định phục hồi điều tra bị can đối với Trần Văn H.
Tại Bản án sơ thẩm số 316/2022/HS-ST ngày 24/11/2022 của Tòa án nhân
dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đk Lk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm a, b,
g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Văn H 09 năm tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 18/02/2022. Được khấu trừ thời gian
đã bị tạm giam từ ngày 28/4/2020 đến ngày 10/9/2020 và thời gian bắt buộc chữa
bệnh từ ngày 11/9/2020 đến ngày 18/02/2022.
9
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp, án phí và
tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/11/2022 và ngày 06/12/2022, bị cáo Trần
Văn H và người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Đậu Thị Minh S có đơn kháng
cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo giữ
nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị
cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh
giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm
đã xét xử bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều
173 Bộ luật hình sự, là đảm bảo đúng người, đúng tội. Về mức hình phạt 09 năm tù
mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính
chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo là người bị bệnh hạn chế khả năng
nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình
phạt cho bị cáo, là phù hợp. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người đại diện hợp
pháp của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm a, b,
g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn H mức án từ 08 năm
đến 08 năm 06 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến bào chữa: Không có ý kiến gì về
tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Tuy nhiên về mức hình
phạt mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ
khi phạm tội và hiện nay bị cáo là người bị bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận
thức và điều khiển hành vi của bản thân; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải; bị cáo có bố là người có công với Cách mạng và hiện nay hoàn cảnh gia đình
rất khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng và chữa
trị bệnh.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với ý kiến của người
bào chữa và không tranh luận, bào chữa gì thêm. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
10
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ
án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo Trần Văn H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với
lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác
đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong thời
gian từ ngày 25/02/2020 đến ngày 27/4/2020 tại các địa bàn thành phố B và thị xã
B của tỉnh Đắk Lắk; thành phố P, huyện C của tỉnh Gia Lai và huyện Đ, tỉnh Lâm
Đồng, bị cáo Trần Văn H cùng đồng bọn đã thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản là xe
mô tô các loại, tổng tài sản mà bị cáo và các đối tượng đã chiếm đoạt có trị giá là
259.499.700 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm
cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có
căn cứ và đảm bảo đúng người, đúng tội.
[2] Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và ý kiến
của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và của người đại
diện hợp pháp của bị cáo, xét thấy: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi
phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của
các bị hại; đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an chung của xã hội; bị
cáo cùng với các đối tượng phạm tội có sự bàn bạc, phân công vai trò và cấu kết
chặt chẽ; bị cáo không có việc làm, chỉ trong thời gian ngắn đã liên tục thực hiện
10 vụ trộm cắp tài sản và lấy đó làm nguồn sống chính; bản thân bị cáo đã “Tái
phạm” chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị
cáo đã phạm tội với các tình tiết tăng nặng là “Phạm tội có tổ chức”, “Phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp”, “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm”, theo
quy định tại các điểm a, b, g và h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, bị
cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực
hiện. Tuy nhiên, về mức hình phạt 09 năm tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với
bị cáo là có phần nghiêm khắc, bỡi lẽ: Bị cáo là người có bệnh, bị hạn chế khả năng
nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải; bố bị cáo là thương binh, có công với Cách mạng và bị nhiễm chất độc màu
da cam, hiện tại điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên cần xem xét giảm nhẹ
một phần hình phạt cho bị cáo, là phù hợp và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan
hồng của pháp luật Nhà nước ta. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và
kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
11
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H và kháng cáo của người đại diện
hợp pháp của bị cáo; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 316/2022/HS-ST ngày
24/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình
phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt:
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm q, s khoản 1 Điều 51; các điểm
a, b, g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Đ) 08 (tám) năm tù, thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 18/02/2022; bị cáo được
khấu trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 28/4/2020 đến ngày 10/9/2020 và thời
gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 11/9/2020 đến ngày 18/02/2022.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao (Vụ 1); THẨM PHN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Tp. Buôn Ma Thuột;
- Công an Tp. Buôn Ma Thuột; (Đã ký)
- VKSND Tp. Buôn Ma Thuột;
- Sở Tư Pháp tỉnh Đ;
- THA hình sự Tp. Buôn Ma Thuột;
- CCTHADS Tp. B; Trương Công Bình
- Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ.
- Cổng thông tin điện tử Tòa án.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 19/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 24/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 19/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 19/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 16/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 09/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 03/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 28/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 28/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 20/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm