Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 24/06/2022 của TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 26/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 26/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 24/06/2022 của TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tam Nông (TAND tỉnh Đồng Tháp) |
| Số hiệu: | 26/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/06/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 26/2022/HS-ST
Ngày 24-6-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Bé
- Ông Nguyễn Văn Sĩ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân
huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng
Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày
13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
29/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với:
- Bị cáo Đổ Anh K, sinh ngày 15/7/1986; tên gọi khác: T; nơi sinh: tỉnh
Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán;
trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957
(chết); có vợ Nguyễn Thị Thoại M, sinh năm 1997 (chưa đăng ký kết hôn) và 01
người con sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày
09/9/2002, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định số: 1059/QĐUB
đưa vào Trường giáo dưỡng 12 tháng do có hành vi gây rối trật tự công cộng;
Ngày 01/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm
tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 27/10/2005 (đã xóa
án tích); Ngày 13/3/2007, bị Tòa án nhân dân huyện T, xử phạt 02 năm 09 tháng
tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 30/11/2010 (đã xóa
án tích); Ngày 06/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang xử phạt
01 năm 03 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày
2
30/11/2010 (đã xóa án tích); Ngày 27/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện H xử
phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày
19/7/2013 (đã xóa án tích); Ngày 28/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện H, xử
phạt 02 năm tù (Theo Bản án số: 276/2015/HSPT ngày 31/7/2015 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp đình chỉ phúc thẩm), về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp
hành xong ngày 24/01/2017 (đã xóa án tích); tạm giữ: Ngày 14/3/2022; tạm giam:
Ngày 17/3/2022.
Bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại
phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Trần Thanh T, sinh năm 1991, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Huỳnh Trường Giang, sinh năm 1980, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đổ Anh K là người nghiện ma túy. Vào ngày 13/3/2022, bị cáo
liên lạc bằng điện thoại với một người thanh niên tên B ở thành phố Hồ Chí M
(không rõ nhân thân, lý lịch) hỏi mua ma túy với giá 1.000.000 đồng nhằm mục
đích để sử dụng một mình. B đồng ý bán và hướng dẫn cách thức giao dịch như
sau: Bị cáo K mua 02 card game mạng Viettel giá 500.000 đồng/card, cào lấy mã
số gửi tin nhắn cho B, sau khi B nhận được mã số thẻ cào B điện thoại cho bị cáo
K thông báo đã nhận được tiền, khi nào B gửi ma túy cho bị cáo K hay. Đến
khoảng 13 giờ ngày 14/3/2022, B giấu ma túy vào gói hàng gửi xe khách, rồi
điện thoại thông báo cho bị cáo K hay. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi xe
khách (không xác định được nhà xe nào) về đến ngã ba A điện thoại bị cáo K
đến nhận gói hàng có chất ma túy, bị cáo K kiểm tra có 01 hộp nhỏ bên trong có
nhiều giấy vụng và 01 túi nylon ma túy. Bị cáo K cất giấu gói ma túy trong bao
thuốc lá hiệu HERO, rồi để trên ba ga xe mô tô biển số 66H1 - 337.73, loại xe
YAMAHA, nhãn hiệu Sirius, sau đó bị cáo K điều khiển xe lưu thông trên Quốc
lộ 30 hướng từ xã A đến xã P, mục đích là tìm chổ vắng để sử dụng ma túy.
Khi bị cáo K điều khiển xe mô tô đến địa phận ấp K, xã P, huyện T, lúc
này Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Đồng Tháp
phối họp cùng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự ma túy Công an huyện
T tiến hành dừng xe để kiểm tra phát hiện trên ba ga xe mô tô có một bao thuốc
lá nhãn hiệu HERO, kiểm tra bên trong có 01 túi nylon màu trắng có chứa nhiều
tinh thể rắn màu trắng, bị cáo K thừa nhận là chất ma túy.
3
Lực lượng công an đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ và
niêm phong theo quy định gồm: 01 túi nylon màu trắng hàn kín bên trong có
chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 bao thuộc lá hiệu HERO; 01 điện thoại di động
nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, có 06 số IMEL cuối là 550934, bên trong có gắn
sim số 0797.037.795; 01 xe mô tô biển số 66H1 - 337.73, loại xe YAMAHA,
nhãn hiệu Sirius.
Tại Bản kết luận giám định số: 212 ngày 16/3/2022 của Phòng kỹ thuật
hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon
màu trắng hàn kín hai đầu, được niêm phong trong phong bì thu giữ của bị cáo
Đổ Anh Kiệt là chất ma túy, có khối lượng 3,125 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKSTN ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Viện Kiểm
sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Đổ Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định
cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1
Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đổ Anh K, phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Tình tiết tăng
nặng: Không. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Giữ nguyên theo Cáo trạng.
- Bị cáo Đổ Anh K khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát
viên. Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T,
Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định
trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo
không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ
quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội
quả tang ngày 14/3/2022 của Công an huyện T; Kết luận giám định số: 212/KL-
KTHS ngày 16/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp; Tờ
tự khai ngày 14/3/2022 và bản tự khai ngày 18/3/2022 của bị cáo; Lời khai người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu
khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đổ Anh K là người nghiện
ma tuý, bị cáo mua ma tuý về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Đến 17 giờ 10
phút ngày 14/3/2022, bị cáo bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ
01 túi nylon có chứa chất ma túy theo Kết luận giám định, tinh thể rắn chứa
trong 01 túi nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong cùng phong bì gửi
giám định là chất ma túy, có khối lượng 3,125 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà
nước về chất ma túy, là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy
có khối lượng 3,125gam, loại Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự mà
Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức
hình phạt theo điều luật quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm
trọng, bị xã hội lên án. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức rõ hành vi của
mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý gây hậu quả rất lớn đối với
bản thân, gia đình và xã hội cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh
các loại tội phạm khác, bị cáo biết rõ điều đó vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm
tội nên áp dụng hình phạt với một mức án tương xứng với tính chất, mức độ
hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không.
[4] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy
bản thân bị cáo nghề nghiệp mua bán nhỏ thu nhập thấp nên không áp dụng.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với chất ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, khối
lượng 3,016 gam, được niêm phong trong phong bì ghi số: 208 ngày 14/3/2022,
có đóng dấu tròn màu đỏ “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp”;
01 bao thuốc lá hiệu HERO. Xét thấy, các vật chứng trên là chất ma túy là vật cấm
tàng trữ và không còn giá trị do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu
hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.

5
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, có 06 số
IMEL cuối là 550934, bên trong có gắn sim số 0797.037.795. Xét thấy, vật chứng
trên bị cáo dùng vào việc phạm tội liên lạc mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách
nhà nước là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô biển số 66H1 - 337.73, loại xe YAMAHA, nhãn hiệu
Sirius. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chứng minh bị cáo Kiệt mượn
xe mô tô của Trần Thanh T để đi công việc, T không biết bị cáo dùng xe mô tô
trên tàng trữ trai phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe mô tô cho
Tuấn nhận lại xong nên không xem xét.
[6] Đối với người thanh niên tên B bán ma túy cho bị cáo Kiệt, chưa xác
định được nhân thân, lý lịch. Cơ quan điều tra chưa làm việc được, đề nghị Cơ quan
cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục xác minh làm rõ khi nào
làm việc được sẽ xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị
quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1
Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đổ Anh K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đổ Anh K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 14 tháng 3 năm 2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: Chất ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau
giám định, khối lượng 3,016 gam, được niêm phong trong phong bì ghi số: 208
ngày 14/3/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an
tỉnh Đồng Tháp”; 01 (một) bao thuốc lá hiệu HERO.
2.2. Tịch thu nộp nhân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu NOKIA, màu xanh, có 06 số IMEL cuối là 550934, bên trong có gắn sim số
0797.037.795.
(Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng
Tháp đang quản lý).
6
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm
a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đổ Anh K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND huyện T;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện T;
- Cơ quan THAHS Công an huyện T;
- Nhà tạm giữ Công an huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm