Bản án số 25/2021/HSPT ngày 05/03/2021 của TAND tỉnh Hà Tĩnh về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2021/HSPT

Tên Bản án: Bản án số 25/2021/HSPT ngày 05/03/2021 của TAND tỉnh Hà Tĩnh về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 139.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hà Tĩnh
Số hiệu: 25/2021/HSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/03/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 25/2021/HSPT
Ngày 05-3-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
- Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang
Bà Trương Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông
Quang Phiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tĩnh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý s150/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 12
năm 2020 đối với bị cáo Trần Thị Kim O do kháng cáo của bcáo đối với Bản
án hình sự thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân
huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo kháng cáo:
Trần Thị Kim O. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Sinh ngày:
10/11/1963. Nơi sinh: tại Q, huyện Đ, tỉnh Tĩnh. Nơi trú: Thôn Đ, Q,
huyện Đ, tỉnh Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Hưu trí. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông: Trần Văn S, sinh
năm 1924 (Đã chết) bà: Trần Thị X, sinh năm 1936 (Đã chết). Anh chị em ruột
04 người, bị cáo con thứ ba. Họ tên chồng: Chu Đình T, sinh năm 1962.
Nghề nghiệp: Làm ruộng. Hiện trú tại thôn Đ, Q, huyện Đ, tỉnh Tĩnh.
Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1994. Nhân thân,
tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo đang báp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam
từ ngày 17/7/2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tĩnh. Có mặt tại
phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Nguyễn Hoàng T ông Nông Văn N Luật văn phòng luật Đ
thuộc đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số 150, Q, quận B, thành phố H.
(Ông Nông Văn N-có mặt; ông Nguyễn Hoàng T có đơn xin vắng mặt)
2
Vụ án còn bị hại, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không
kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa
phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Kim O nguyên là Phó hiệu trưởng Trường mầm non Đ, huyện
Đ, tỉnh H. Mặc không khả năng xin việc làm và cũng không liên kết với tổ
chức, nhân nào để xin việc làm nhưng Trần Thị Kim O đã lợi dụng lòng tin của
một số người, nói dối là có khả năng xin việc làm cho con cái của họ để chiếm đoạt
tài sản. Trong khoảng thời gian tnăm 2014 đến năm 2017, Trần Thị Kim O đã
nhiều lần thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của bà Bùi Thị P, ông Trần
Đình L, cùng trú tại thôn Y, Q, huyện C, tỉnh Tĩnh Thị H, ông
Nguyễn Công L, cùng trú tại xóm 3, xã Phúc Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với tổng số
tiền chiếm đoạt là 450.000.000 đồng. Cụ thể :
* Lần thứ nhất: Vào năm 2014, Bùi Thị P ông Trần Đình L, cùng trú
tại thôn Y, Q, huyện C, tỉnh Tĩnh, con trai anh Trần Đình H đang đi
nghĩa vụ quân sự. Lợi dụng quen biết với gia đình Bùi Thị P, Trần Thị Kim O
đã đặt vấn đề xin cho anh H vào học tại trường Trung cấp Biên Phòng để sau này
vào bộ đội chuyên nghiệp, chi phí hết 300.000.000 đồng. Ph, ông L đồng ý
đã nhiều lần đưa tiền cho Trần Thị Kim O. Đến ngày 18/9/2014, tổng số tiền bà P,
ông L đã đưa cho Trần Thị Kim O là 250.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền,
Trần Thị Kim O đã sử dụng vào mục đích nhân không bất kỳ hành động
nào để xin cho anh Trần Đình Hưng vào học tại trường Trung cấp Biên Phòng.
* Lần thứ hai : Năm 2015, chị Trần Thị M con gái Bùi Thị P ông
Trần Đình L, tốt nghiệp trường Cao đẳng Y , nhưng đang làm hợp đồng tại phòng
khám thành phố H. Đến tháng 3/2017 biết được thông tin này, Trần Thị Kim O
tiếp tục đặt vấn đề với bà P, ông L để xin cho chị M vào làm tại Bệnh viện đa khoa
thị H hoặc Bệnh viện đa khoa thành phố H, chi phí hết 150.000.000 đồng thì
P, ông L đồng ý. Trong tháng 3/2017, P, ông L đã đưa cho Trần Thị Kim O số
tiền 50.000.000 đồng và một bộ hồ sơ xin việc của chị M. Sau đó, Trần Thị Kim O
liên hệ với ông Lê Triều H, trú tại phường T, thành phố H, tỉnh H, là cán bộ trường
Cao đẳng Y và gửi hồ xin việc của chị Trần Thị M để nhờ ông Hải nộp khi
đợt tuyển dụng. Ngoài ra, Trần Thị Kim O không hành động nào khác để xin
việc cho chị Trần Thị M. Đến nay, Trần Thị Kim O không xin được việc làm cho
chị Trần Thị như đã hứa hẹn. P đã yêu cầu trả lại toàn bộ số tiền nói trên (tiền
xin việc cho H M). Trần Thị Kim O chỉ mới trả được 70.000.000 đồng, số tiền
còn lại chưa trả.
Như vậy, Trần Thị Kim O đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin với bà Bùi
Thị P ông Trần Đình L, hứa hẹn sẽ xin việc cho anh Trần Đình H chị Trần
Thị M (con của P, ông L) đP, ông L tin tưởng, giao tiền cho Trần Thị Kim
O. Biết mình không khả năng xin việc như đã hứa hẹn, nhưng Trần Thị Kim O
3
vẫn nhận tiền, sdụng vào mục đích nhân. Tổng stiền Trần Thị Kim O nhận
của bà Bùi Thị Phượng và ông Trần Đình L 300.000.000 đồng. Số tiền đã chiếm
đoạt được, bị cáo đã sử dụng vào mục đích cá nhân khác.
* Lần thứ ba: Thị H ông Nguyễn Công L, cùng trú tại xóm 3,
Phúc Đ, huyện H, tỉnh T, chị Phan Thị Mai A con dâu, đã tốt nghiệp đại
học nhưng chưa xin được việc làm. Lợi dụng mối quan hệ quen biết từ trước,
khoảng tháng 7/2017 qua trao đổi, nói chuyện, Trần Thị Kim O đặt vấn đề xin việc
cho chị Phan Thị Mai A vào làm kế toán trong ngành Công an tại tỉnh Hà Tĩnh, chi
phí hết 500.000.000 đồng và yêu cầu bà H, ông L đưa trước 300.000.000 đồng, khi
nào quyết định đi làm sđưa số tiền còn lại. H, ông L đồng ý. Đến ngày
27/7/2017, ông L chuyển 50.000.000 đồng cho Trần Thị Kim qua số chứng minh
nhân dân 183846792 mang tên Chu Thị Hương G, trú tại thôn Quang Đ, Đức Q
(nay Q), huyện Đ, tỉnh H (là con gái Trần Thị Kim O). Tiếp đó, ngày
31/7/2017, H, ông L đến nhà đưa cho Trần Thị Kim O s tiền 100.000.000
đồng. Khoảng hai ngày sau, nghi ngờ về việc Trần Thị Kim O không khả năng
xin việc, nên Hồng, ông Lợi đã yêu cầu trả lại tiền nhưng Trần Thị Kim O
không trả. Sau nhiều lần hứa hẹn, Trần Thị Kim O mới chỉ trả lại cho H, ông L
100.000.000 đồng, số tiền còn lại Trần Thị Kim O tiếp tục hứa hẹn nhưng đến nay
vẫn chưa trả.
Như vậy, Trần Thị Kim O đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin với
Thị H và ông Nguyễn Công L hứa hẹn sẽ xin việc cho chị Phan Thị Mai A đ
H, ông L tin tưởng, giao tiền cho Trần Thị Kim O. Biết mình không khả năng
xin việc như đã hứa hẹn, Trần Thị Kim O vẫn nhận tiền sử dụng hết vào mục
đích nhân. Tổng số tiền Trần Thị Kim O đã chiếm đoạt của H, ông L
150.000.000 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:
- 01 giấy biên nhận vay tiền giữa Bùi Thị P và Trần Thị Kim O đề ngày
18/4/2014 và 16/02/2017;
- 01 giấy xin hẹn trả tiền của Trần Thị Kim O đề ngày 01/3/2017;
- 01 giấy biên nhận tiền giữa ông Trần Đình L Trần Thị Kim O đề ngày
12/3/2017. Mặt sau giấy hẹn trả tiền đề ngày 08/4/2018 của Trần Thị Kim O;
- 01 giấy cam kết lo việc vào sân bay cho Trần Đình H giữa Trần Thị Kim
O, Bùi Thị P và Trần Đình H;
- 01 giấy hợp đồng xin cháu Trần Đình H làm việc tại sân bay đề ngày
09/7/2018, ký tên Trần Thị Kim O;
- 01 giấy xin trả tiền đề ngày 03/2/2019, ký tên Trần Thị Kim O;
- 01 giấy xin trả tiền đề ngày 03/6/2019, ký tên Trần Thị Kim Oanh (Đều thu
giữ từ bà Bùi Thị Phượng);
- 01 giấy biên nhận tiền đề ngày 01/9/2020, tên Chu Thị Hương G, Chu
Thị Huyền T, Bùi Thị P và Trần Đình L (Thu giữ từ ông Trần Đình L);
4
- 01 hồ xin việc của Trần Thị M, bên trong 01 yếu lịch, giấy
khám sức khỏe (bản gốc); bằng tốt nghiệp cao đẳng, giấy khai sinh, CMND, sổ hổ
khẩu (bản photo) (Thu giữ từ ông Lê Triều H);
- 04 giấy hẹn trả tiền giữa Trần Thị Kim O với Tô Thị H (không đề ngày);
- 01 giấy hẹn trả tiền giữa Trần Thị Kim O với Tô Thị H đề ngày 3/12/2017;
- 01 giấy hẹn trả tiền giữa Trần Thị Kim O với Thị H đề ngày 09/5/2018
(Đều thu giữ từ bà Tô Thị H).
- 01 giấy giao nhận tiền giữa Nguyễn Sỹ T và Chu Thị Hương G đề ngày
05/8/2015.
- 01 giấy biên nhận tiền giữa Trần Thị Kim O với Bùi Thị P (không đề
ngày).
- 01 xe 2 bánh nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, màu sơn đỏ-đen, biển
kiểm soát 38D1-053.89, số khung: RLCN1DB10DY18040, số máy: 1DB1138053
đăng chủ sở hữu chị Chu Thị Huyền T, trú tại khối 13, phường T, thị H,
tỉnh Hà Tĩnh (thu giữ từ bị cáo).
* Về dân sự:
Quá trình điều tra, bcáo đã trả lại cho những người bị hại với tổng số tiền
170.000.000 đồng. Trong đó, bcáo đã trả cho Bùi Thị P ông Trần Đình
L70.000.000 đồng; Thị H và ông Nguyễn Công L100.000.000 đồng. Hiện
nay, bà Bùi Thị P ông Trần Đình L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền
230.000.000 đồng; Thị H ông Nguyễn Công L yêu cầu bị cáo bồi thường
số tiền 50.000.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà T đã Quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g
khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim O phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xphạt: Bị cáo Trần Thị Kim O 11 (Mười một) năm tù; thời hạn tính từ
ngày bắt tạm giam 17/7/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 604, 605, 606 608 Bộ luật dân
sự năm 2005; Điều 584, 585, 586, 587 589 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1
Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) buộc bị cáo Trần
Thị Kim O phải trả lại cho bị hại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt bao gồm:
- Trả lại cho Bùi Thị P ông Trần Đình L số tiền: 230.000.000 đồng
(Hai trăm ba mươi triệu đồng);
- Trả lại cho Thị H ông Nguyễn Công L số tiền: 50.000.000 đồng
(Năm mươi triệu đồng).
Án thẩm còn tuyên xử vật chứng, án phí quyền kháng cáo của
những người tham gia tố tụng.
5
Ngày 04/11/2020 bị cáo Trần Thị Kim O kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Kim O đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 52, Điều 54 BLHS năm 2015 và căn cứ Điều 357 BLTTHS sửa bản
án thẩm, xử bị cáo Trần Thị Kim O 36 tháng nhằm tạo điều kiện cho bị cáo
sớm hòa nhập cuộc sống.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên
tòa, sau khi phân tích nhân thân, hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình s đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều
355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo
Trần Thị Kim O, sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm b, p
khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS năm 1999, xử phạt bị
cáo Trần Thị Kim O 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2020.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc
thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn
diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Thị Kim O thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản án sơ thẩm, các
tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội.
Vì vậy, đủ căn cứ khẳng định: Trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2017,
bị cáo Trần Thị Kim O đã đưa ra thông tin gian dối vviệc khả năng xin việc
làm, để tạo niềm tin cho những người bị hại những người liên quan, đã 03 lần
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của i Thị P, ông Trần Đình L và
Thị H, ông Nguyễn Công L, với tổng số tiền đã chiếm đoạt là 450.000.000 đồng.
Trong đó, bị can đã chiếm đoạt của Bùi Thị P ông Trần Đình L số tiền
300.000.000 đồng; chiếm đoạt của Tô Thị H ông Nguyễn Công L số tiền
150.000.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2] . Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Thị Kim O, Hội đồng xét xử
nhận định: Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Thị Kim O rất nguy hiểm
cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo
vệ, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an hội, gây hoang mang, bất bình trong
quần chúng nhân dân. Vì vậy cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt và xử phạt đối
với bị cáo như vậy là nghiêm minh.
[3]. Tuy nhiên, qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét
thấy bị cáo Trần Thị Kim O nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt như thành khẩn
6
khai báo; bị cáo đã trả lại một phần số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại; tại phiên
tòa thẩm các bhại đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo
bố đẻ ông Trần Văn S được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huy
chương chiến giải phóng đã thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước; quá trình công tác, bị cáo được tặng thưởng giấy khen trong công tác
giáo dục công tác xây dựng Đảng được quy định tại Điểm p Khoản 1 Khoản 2
Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009). Sau khi xét xử thẩm bị
cáo đã tác động gia đình bồi thường cho Thị Hồng đủ số tiền còn thiếu
50.000.000 triệu đồng. Mặt khác, tại cấp phúc thẩm bị cáo có xuất trình hồ sơ bệnh
án vchấn thương sau tai nạn ngã xe máy đơn xin bãi nại của Thị H cho
bị cáo. Như vậy, về trách nhiệm bồi thường dân sự bị cáo đã bồi thường xong cho
bà Tô Thị H, ông Nguyễn Công L. Nay buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền
còn thiếu 230.000.000 đồng cho bà Bùi Thị P và ông Trần Đình L.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần sửa bản án sơ thẩm số 40/2020/HS-ST
ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức T, tỉnh H, giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước và cũng
tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo làm người có ích cho xã hội.
[4] Về án phí: Căn cứ vào B luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi, kháng
cáo ca b cáo Trn Th Kim O đưc chp nhn nên b cáo không phi chu án phí
hình s phúc thm.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ đim b khon 1 Điu 355, điểm c khoản 1 Điều 357 B lut t
tng hình s năm 2015, xử:
Chấp nhận kháng cáo ca b cáo Trn Th Kim O. Sa Bn án hình s sơ
thm s 40/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tnh H
Tuyên b b cáo Trn Th Kim O phm ti Lừa đảo chiếm đoạt tài sn.
Áp dng đim a khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g
khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009),
x pht b cáo Trn Th Kim O 09 (Chín) năm . Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm
giam 17/7/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 604, 605, 606 608 Bộ luật
dân sự năm 2005; Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản
1 Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) buộc bị cáo Trần
Thị Kim O phải bồi thường cho bà Bùi Thị P và ông Trần Đình L số tiền
230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng);
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, bên được thi hành đơn yêu cầu
thi hành án, nếu bên thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trong bản án thì
hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi, theo mức lãi
suất quy định tại Điều 305; khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357;
7
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền thời gian
chưa thi hành án.
2. V án phí: Áp dng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 B lut T
tng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 3, Điều 5; khoản 1 Điu 6, khoản 1 Điều 21;
đim a khoản 1 Điu 23; đim b khoản 1 Điu 24 Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi quy
định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý s dng án phí và l phí Tòa án
buc b cáo Trn Th Kim O phi nộp 200.000 đng án phí hình s thm
11.500.000 đồng án phí dân s thm giá ngch. B cáo Trn Th Kim Oanh
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác ca bản án thẩm không kháng cáo, không b
kháng ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vin kim sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (x2);
- PV06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
- S Tư pháp;
- CA; VKSND; TAND; THA cấp sơ thẩm;
- B cáo;
- Lưu HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Th Thương Huyền
Tải về
Bản án số 25/2021/HSPT Bản án số 25/2021/HSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất