Bản án số 241/2021/DS-ST ngày 13/07/2021 của TAND huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 241/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 241/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 241/2021/DS-ST ngày 13/07/2021 của TAND huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Pắk (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 241/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/07/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hữu M rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình đối với tổng số tiền 114.571.753,2đ (bao gồm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 241/2021/DS-ST
Ngày 13 – 7 – 2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng
giao khoán.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Tuyển
2. Bà Nguyễn Thị Lan
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Trần Hòa Bình - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk
tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Vào ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án huyện Krông Pắc, tỉnh
Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 178/2020/TLST-DS ngày 22
tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 291/2021/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2021, Quyết
định hoãn phiên tòa số 142/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2021, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn T,
xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà
phê T).
Địa chỉ: Km 17, Quốc lộ 26, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng P, chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T: Bà Võ
Thị Thu H - Có mặt.
Địa chỉ: 85 Đặng Trần C, phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. (Theo văn bản
ủy quyền ngày 19 tháng 3 năm 2021).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M, quá trình giải
quyết vụ án, ông Nguyễn Hữu M trình bày:
Vào ngày 25/8/2011, tôi có đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê
cho hộ nông trường viên gửi Công ty TNHH một thành viên cà phê T (Nay là
Công ty Cổ phần cà phê T) để nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê trồng năm
1989, loại cà phê Vối của Công ty có diện tích 12.225m
2
.
Trên cơ sở đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông
trường viên của tôi thì vào ngày 27/8/2011 giữa tôi và Công ty đã ký Hợp đồng
khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số 1405/2011/HĐ-GK.
Theo hợp thì tôi đã nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê Vối của Công ty có
diện tích 12.225m
2
, diện tích bờ lô 1.775m
2
. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội
30/4, thửa đất số 2, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất: thuộc xã H, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán có giá là: 54.722.799đ; Giá trị
vườn cây còn lại: 30.745.658đ. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%,
chủ hộ góp 49%. Thời hạn giao khoán là 05 năm, tính từ ngày ký hợp đồng, nếu
bên quản lý tốt đất đai, vườn cây, luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ với bên A và có
nhu cầu tiếp tục hợp đồng thì được ưu tiên xem xét ký hợp đồng giao khoán tiếp
theo; Mức giao khoán hằng năm tôi phải nộp sản lượng về Công ty theo thoả
thuận trong Hợp đồng giao khoán. Kể từ khi nhận khoán vườn cây cho đến niên
vụ cà phê 2017-2018, tôi đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng
quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp
đồng giao khoán vườn cây đã ký với Công ty. Tuy nhiên, đến năm 2018 thì tôi
phát hiện Công ty có sự gian lận. Cụ thể: Tôi phát hiện Công ty đã gian lận chi
phí nhân công cho diện tích 01ha của tôi trong 07 năm (từ năm 2011-2017); đã
gian lận sản phẩm cà phê quả tươi làm thành cà phê quy nhân cho diện tích 01ha
của tôi trong 07 năm (từ năm 2011-2017) và gian lận tiền thủy lợi phí tiền khấu
hao kênh mương trong 20 năm của tôi cho diện tích 01ha (từ năm 1998-2018)
mà Công ty đã thu của tôi luôn phần 51% lẽ ra Công ty phải chịu. Do đó, tôi đã
khởi kiện Công ty đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc Công ty Cổ phần cà
phê T phải trả lại chi phí đã gian lận trong tính toán chi phí nhân công của tôi
cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 86.954.753,2đ; Buộc Công
ty Cổ phần cà phê T phải trả lại số cà phê quả tươi đã gian lận của tôi cho diện
tích 01ha trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 24.304.000đ; Buộc Công ty Cổ phần
cà phê T phải trả lại cho tôi số tiền thủy lợi phí tiền khấu hao kênh mương cho
diện tích 01ha (từ năm 1998-2018) là 5.100.000đ. Tổng cộng là:
116.358.753,2đ.

3
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hữu M rút một phần yêu cầu khởi
kiện của mình đối với tổng số tiền 114.571.753,2đ (bao gồm: Chi phí nhân công
cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2017) là 86.954.753,2đ, cà phê tươi quy nhân
cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2017) là 24.304.000đ và một phần thủy lợi phí
tiền khấu hao kênh mương cho diện tích 01ha (từ năm 1998 đến năm 2010 và
năm 2018) là 3.313.000đ). Ông M không yêu cầu Công ty Cổ phần cà phê T
phải trả lại và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền này nữa.
Đối với số tiền còn lại 1.787.000đ là tiền thủy lợi phí tiền khấu hao kênh
mương của ông M cho diện tích 1ha (từ năm 2011-2017) thì đề nghị Tòa án xem
xét, giải quyết buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông M. Ngoài ra
ông M không có yêu cầu gì thêm
* Quá trình làm việc tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T), Bà Võ
Thị Thu H trình bày:
Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T)
thừa nhận là giữa Công ty với ông Nguyễn Hữu M có ký hợp đồng khoán gọn
vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên với nhau. Cụ thể theo hợp đồng khoán
gọn số 1405/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011.
Quá trình thực hiện hợp đồng từ lúc nhận khoán cho đến niên vụ 2017-
2018 thì diễn ra bình thường, ông M nộp sản lượng đầy đủ cho Công ty, các vấn
đề khác với Công ty thì ông cũng đều thực hiện tốt. Tuy nhiên, đến niên vụ thu
hoạch cà phê 2018-2019 và 2019-2020 thì ông đã không thực hiện nghĩa vụ giao
nộp sản phẩm cà phê quả tươi cho Công ty theo đúng cam kết trong Hợp đồng.
Việc làm của ông là vi phạm hợp đồng đã ký kết với Công ty. Tuy nhiên, Công
ty chưa khởi kiện ông về việc Buộc ông phải trả sản lượng và một số khoản nợ
khác cho Công ty. Nay ông Nguyễn Hữu M khởi kiện Công ty với nội dung yêu
cầu Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại chi
phí đã gian lận trong tính toán chi phí nhân công của ông cho diện tích 01ha
trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 86.954.753,2đồng; Buộc Công ty Cổ phần cà
phê T phải trả lại số cà phê quả tươi đã gian lận của ông cho diện tích 01ha trong
07 năm (từ 2011-2017) là: 24.304.000đồng; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T
phải trả lại cho bà số tiền thủy lợi phí tiền khấu hao kênh mương cho diện tích
01ha (từ năm 1998-2018) là 5.100.000đồng. Tổng cộng là 116.358.753,2đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M rút một phần
yêu cầu khởi kiện, ông không yêu cầu Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại và
không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tổng số tiền 114.571.753,2đ. Việc ông
M rút một phần yêu cầu khởi kiện thì Công ty không có ý kiến gì.

4
Đối với số tiền còn lại 1.787.000đ là tiền thủy lợi phí tiền khấu hao kênh
mương của ông cho diện tích 1ha (từ năm 2011-2017) ông M đề nghị Tòa án
xem xét, giải quyết buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông M. Với
nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M thì phía Công ty Cổ phần cà
phê T hoàn toàn không đồng ý. Vì các lý do sau:
Thứ nhất: Việc Công ty thu 100% tiền khấu hao hồ đập kênh mương của
các nguyên đơn nêu trên là đúng với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 2 của
Hợp đồng giao khoán “Khi vào mùa tưới nước cho cây cà phê, Công ty mở nước
cho bên B tưới nước diện tích tưới mương. Diện tích tưới mương Công ty sẽ thu
tiền khấu hao hồ đập kênh mương theo đơn giá quy định tại hội nghị người lao
động hàng năm”. Nhưng thực tế Công ty đã thu từ năm 2011 đến năm 2017 là
giá theo phương án được UBND tỉnh phê duyệt ngày 08/6/2011
(500.000đ/ha/năm) theo diện tích thực tế của từng nguyên đơn. Đồng thời, tại
điểm h khoản 2 Điều 3 của hợp đồng cũng nêu rõ nghĩa vụ của bên B là “Đối
với diện tích tưới nước trên hệ thống kênh mương mương của Công ty thì phải
nộp tiền khấu hao hồ đập kênh mương cho bên A theo đơn giá quy định tại hội
nghị người lao động hàng năm.
Thứ hai: Sau khi có sự thống nhất của cơ quan chủ quản tại công văn
2832/UBND-KT ngày 11/4/2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc thanh toán lại
khoản tiền khấu hao hồ đập kenh mương của Công ty TNHH MTV cà phê T.
Công ty đã tiến hành chi trả cho các nguyên đơn nêu trên vào ngày 06/5/2019
thông qua đội trưởng đội sản xuất của nguyên đơn và ngày 07/11/2020 Công ty
có thông báo số 714/TB-CT mời các nguyên đơn đến văn phòng Công ty trực
tiếp nhận. Tuy nhiên, đã qua hai lần chi trả mà nguyên đơn vẫn cố tình không
nhận tiền. Do vậy, đây là lỗi của các nguyên đơn chứ Công ty hoàn toàn muốn
chi trả, Công ty hoàn toàn không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm dân sự
theo quy định tại khoản 3 Điều 302 Bộ luật dân sự 2005, khoản 3 Điều 351 Bộ
luật dân sự 2015. Và hiện nay ông Thìn vẫn không nhận lại số tiền mà Công ty
đã thu của ông. Việc Công ty thu tiền khấu hao kênh mương của ông 100% là
đúng theo hợp đồng hai bên ký kết. Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn ông 1.787.000đ.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bà Võ Thị Thu H không có ý kiến tranh
luận gì.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh
Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ theo
5
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thành phần Hội đồng xét xử
đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 5, khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217,
Điều 218, Điều 219, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm c khoản 1
Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501,
502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 Nghị định
số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ; Thông tư số
102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày
08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M về việc:
Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí tiền
khấu hao kênh mương cho diện tích 1ha (từ năm 2011-2017) là 1.787.000đ.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M đối với
tổng số tiền là 114.571.753,2đ.
Ông Nguyễn Hữu M được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn Hữu M thì Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng giao
khoán” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây
là Công ty TNHH MTV cà phê T) có địa chỉ tại xã H, huyện K nên thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự tham gia của đương sự tại phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu M là
nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành
xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:

6
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M đối
với bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê
T).
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và
được hai bên thừa nhận, thì thấy: Vào ngày 27 tháng 8 năm 2011, giữa ông
Nguyễn Hữu M với Công ty TNHH MTV cà phê T có ký kết với nhau hợp đồng
số 1405/2011/HĐ-GK. Việc ký hợp đồng giữa các bên dựa trên đơn xin khoán
gọn vườn cây cà phê của ông Nguyễn Hữu M gửi Công ty. Kể từ khi nhận
khoán vườn cây cho đến niên vụ cà phê 2017-2018 thì ông đã thực hiện nghĩa vụ
chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với Công ty.
Qua xem xét Hợp đồng trên thì thấy: Đây là hợp đồng song vụ có thời
hạn, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng các bên đều hoàn toàn tự nguyện và có
đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, về nội dung
cũng như hình thức của hợp đồng hai bên đã ký kết không vi phạm pháp luật
nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Trong quá
trình thực hiện hợp đồng giao khoán, ông M đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc
vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp
sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký kết với Công ty kể từ ngày
ký cho đến hết niên vụ cà phê 2017-2018 và các bên không có tranh chấp gì. Và
tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn thừa nhận có ký Hợp đồng song vụ này. Do
đó xác định đây là chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xem xét nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M: Trong quá trình làm
việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông M khai: Công ty đã thu
tiền khấu hao kênh mương phần 51% của Công ty từ ông mà lẽ ra phần 51% này
Công ty phải chịu theo Bảng phương án khoán. Và căn cứ vào diện tích nhận
khoán của ông thì từ năm 2011-2017, Công ty đã thu tiền khấu hao kênh mương
của ông phần 51% của Công ty từ ông là: 255.000đ/ha x 1ha x 51% x 7 năm =
1.787.000đ. Sau đó, Công ty đã tiến hành chi trả số tiền Công ty đã thu sai cho
ông nhưng ông chưa nhận. Và ông thừa nhận ông thấy số tiền chi trả là chưa
đúng và không đủ nên vẫn khởi kiện để yêu cầu Công ty tiếp tục trả tiền khấu
hao kênh mương này.
Làm việc tại Tòa án, phía bị đơn cho rằng: Việc Công ty thu tiền khấu hao
kênh mương của ông M là theo hợp đồng tại điểm c khoản 2 Điều 2, điểm h
khoản 2 Điều 3 của các hợp đồng và tại trang 10 của Bảng phương án khoán
gọn. Và cung cấp Danh sách các hộ nhận khoán đã nhận và chưa nhận lại tiền
mương Công ty thu sai giai đoạn 2011 - 2017; Công ty chi trả là: Căn cứ vào Tờ

7
trình số 22/TTr-CTTNHH ngày 12/02/2019 của Công ty TNHH MTV cà phê T
với nội dung:“...Thực hiện phương án khoán gọn vườn cà phê cho hộ nông
trường viên đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk phê duyệt tại Quyết định số
1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011. Trong quá trình thực hiện phương án Công ty
đã thu nhầm khoản tiền thu khấu hao kênh mương, hồ, đập đối với các hộ nhận
khoán gọn vườn cà phê có tưới nước trên hệ thống kênh mương, hồ đập của
Công ty. Thời gian thu nhầm từ năm 2011-2017 (07 năm). Mức khấu hao kênh
mương, hồ đập theo phương án khoán gọn là 500.000đ/ha/năm. Theo quy định
trong phương án phần Công ty chịu 51% là 255.000đ/ha/năm. Phần hộ nhận
khoán chịu 49% là 245.000đ/ha/năm. Tổng số tiền đã thu: 2.778.638.151đ. Số
tiền thu được Công ty hoạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh theo từng
năm từ năm 2011 đến năm 2017.
Nay các hộ nhận khoán làm đơn đề nghị Công ty trả lại số tiền phần 51%
mà Công ty đã thu nhầm. Công ty đã tiến hành kiểm tra, rà soát và tính toán cụ
thể theo từng năm số tiền mà Công ty đã thu nhầm là 255.000đồng/ha/năm phải
trả cho hộ nhận khoán gọn có tưới nước trên hệ thống kênh mương, hồ đập của
Công ty 7 năm qua là 1.266.242.988đ. ....”; Căn cứ vào Công văn số
2832/UBND-KT ngày 11 tháng 4 năm 2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc
thanh toán lại khoản tiền khấu hao kênh mương, hồ đập của Công ty TNHH
MTV cà phê T thì thấy: Tại Công văn có nêu “…Đồng ý chủ trương cho Công
ty TNHH MTV cà phê T hoàn trả lại khoản tiền khấu hao kênh mương, hồ đập
mà Công ty đã thu của các hộ nhận khoán từ năm 2011-2017, số tiền
1.266.248.988đ...”; Và tại Thông báo số 72/TB-Cty ngày 24/4/2019 của Công ty
TNHH MTV cà phê T có nêu “…Công ty thanh toán khoản tiền khấu hao kênh
mương, hồ đập đã thu của các hộ nhận khoán gọn vườn cà phê (phần 51%) từ
năm 2011-2017 (có bảng kê chi tiết, cụ thể từng hộ nhận khoán gọn vườn cà phê
được nhận kèm theo)..”.
Sau đó Công ty có cung cấp chứng cứ mới là: Tờ trình ngày 06/01/2021
của Công ty Cổ phần cà phê T gửi Sở tài chính và UBND tỉnh Đắk Lắk; Công
văn số 53/2021/CV-CTCP ngày 01/3/2021 của Công ty Cổ phần cà phê T phúc
đáp Công văn số 490/STC-TCDN ngày 25-02-2021 của Sở tài chính; Báo cáo số
886/STC-BC ngày 08/4/2021 của Sở tài chính tỉnh Đắk Lắk; Công văn số
3489/UBND-KT ngày 26/4/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc thanh toán
tiền khấu hao kênh mương thủy lợi tại Công ty Cổ phần cà phê T. Xác định việc
trả lại số tiền 1.266.248.988đ khấu hao kênh mương là do tại thời điểm đó cán
bộ tham mưu hạn chế về năng lực nên đã sai sót trong tham mưu. Việc Công ty
thu tiền khấu hao kênh mương của ông 100% là đúng theo hợp đồng được nêu
tại điểm c khoản 2 Điều 2 và điểm h khoản 2 Điều 3 của hợp đồng và tại trang

8
10 của Bảng phương án khoán gọn nên không chấp nhận tiếp tục chi trả tiền
khấu hao kênh mương như danh sách đã cung cấp cho Tòa án.
Căn cứ vào Bảng phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông
trường viên đã được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt theo Quyết định số
1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011 và hợp đồng mà ông đã ký với Công ty thì:
Tại Điều 1 của hợp đồng có nêu: “1. Bên A khoán gọn vườn cây cà phê cho bên
B trực tiếp đầu tư, chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch và giao nộp sản phẩm cà phê”.
Và tại Điều 2, Điều 3 của Hợp đồng có nêu “Khi vào vụ tưới nước cho cà phê,
Công ty mở nước cho bên B tưới với diện tích tưới mương. Diện tích tưới mương
Công ty sẽ thu tiền khấu hao hồ đập kênh mương theo đơn giá quy định tại hội
nghị người lao động hằng năm” (điểm c khoản 2 Điều 2 của hợp đồng) và “Đối
với diện tích tưới nước trên hệ thống hồ đập, kênh mương của Công ty thì phải
nộp tiền khấu hao hồ đập kênh mương cho bên A theo đơn giá quy định tại hội
nghị người lao động hằng năm” (điểm h khoản 2 Điều 3 của hợp đồng). Mặt
khác, tại trang 10 của Bảng phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông
trường viên đã được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt theo Quyết định số
1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011 có nêu: Chi phí khấu hao hồ đập kênh mương
là 500.000đồng/ha/năm (chi phí 100% trên vườn cây). Như vậy, phần 51% của
Công ty là 255.000đ/ha/năm, còn lại phần 49% của người nhận khoán là
245.000đ/ha/năm.
Theo hợp đồng, thể hiện cơ sở để hai bên ký kết thực hiện hợp đồng là
dựa vào Bảng phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên
đã được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt theo Quyết định số 1399/QĐ-UBND
ngày 08/6/2011 và đơn xin nhận khoán gọn của ông M. Tại thời điểm ký hợp
đồng, việc ký kết là dựa vào Bảng phương án khoán gọn đã được UBND tỉnh
Đắk Lắk phê duyệt theo Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011 tuy
nhiên tiền khấu hao kênh mương được Công ty nêu tại Điều 2, Điều 3 của hợp
đồng so với Bảng phương án khoán đưa ra là không rõ ràng. Căn cứ khoản 1,
khoản 3, khoản 7, khoản 8 Điều 409 của Bộ luật dân sự 2005 có nêu:
“1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào
ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải
thích điều khoản đó.
3. Khi hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì
phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với tính chất của hợp đồng.
7. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với
ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải
thích hợp đồng.

9
8. Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho
bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế”.
Như vậy việc Công ty cho rằng, công ty thu 100% tiền khấu hao kênh
mương của ông Nguyễn Hữu M là đúng theo hợp đồng được nêu tại điểm c
khoản 2 Điều 2 và điểm h khoản 2 Điều 3 của hợp đồng và tại trang 10 của Bảng
phương án khoán gọn, là không có cơ sở. Bên cạnh đó, bị đơn Công ty cổ phần
cà phê T còn cung cấp cho Tòa án có Công văn số 4987/UBND-KT ngày
07/6/2021 UBND tỉnh Đắk Lắk về việc thu hồi Công văn số 3489/UBND-KT
ngày 26/4/2021 của UBND tỉnh. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để
xem xét ý kiến của bị đơn về việc từ chối chi trả tiền khấu hao kênh mương đã
thu sai của ông M từ năm 2011 đến năm 2017 với số tiền là 1.787.000đ.
Do đó căn cứ lời thừa nhận của các đương sự và căn cứ vào các Điều 388,
390, 392, 412, 414, 501, 502, 503 và 506 của Bộ luật dân sự năm 2005 và các
Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của
Chính phủ quy định về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và
đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các Nông trường quốc doanh, Lâm
trường quốc doanh; Luật đất đai năm 2003. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M.
Quá trình làm việc, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M rút một phần nội
dung yêu cầu khởi kiện đối với tổng số tiền 114.571.753,2đ. Ông M không yêu
cầu Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại và không yêu cầu Tòa án giải quyết
đối với tổng số tiền mà ông đã rút.
Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M là
hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c
khoản 1 Điều 217, 218, 219, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ một phần
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M đối với tổng số tiền 114.571.753,2đ.
Ông Nguyễn Hữu M được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo
quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Nguyễn Hữu M nên bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công
ty TNHH MTV cà phê T) phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội
đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:

10
- Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản
1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 227,
Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các
Điều 388, 390, 392, 409, 412, 414, 501, 502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm
2005; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng
11 năm 2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11
năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều
của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ;
Luật đất đai năm 2003.
- Căn cứ Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M về
việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí
tiền khấu hao kênh mương cho diện tích 1ha (từ năm 2011-2017) với số tiền là
1.787.000đ (Một triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu M đối với
tổng số tiền là 114.571.753,2đ (Một trăm mười bốn triệu năm trăm bảy mươi
mốt nghìn bảy trăm năm mươi ba phẩy hai đồng).
Ông Nguyễn Hữu M được khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định
của pháp luật.
3. Về án phí:
Bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà
phê T) phải chịu 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M số tiền 2.908.000 đồng tiền
tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Hữu M đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự
huyện Krông Pắc theo biên lai thu số AA/2019/0009784 ngày 22/6/2020.
4. Về quyền kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có mặt
tại phiên tòa được quyêng kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản
11
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7
và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện Krông Pắc;
- Chi cục THADS huyện Krông Pắc;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, V.P.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Đặng Thị Thu Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng