Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về tội cướp giật tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 24/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 24/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về tội cướp giật tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Thế (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 24/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 24/2022/HS-ST
Ngày 28- 7- 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hải Đăng.
2. Bà Nguyễn Thị Cƣơng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Thảo- Thƣ ký Tòa án của Tòa án nhân dân
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại phòng xét xử trực tuyến của Tòa án nhân
dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử công khai vụ án hình sự
sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đƣa
vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Minh G, sinh ngày tháng năm 2001 tại xã T, huyện Y,
tỉnh B; Nơi cƣ trú: B, xã T, huyện Y, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ
văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1974 và bà: Đàm Thị U, sinh năm 1967; vợ:
Đoàn Thị Lan A, sinh năm 2001(chƣa đăng ký kết hôn), con: Có 02 con, con lớn sinh
năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 09/7/2021,
Giang bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, chƣa chấp hành phần bồi thƣờng dân sự; tiền sự: Ngày 14/12/2020, bị Công an
huyện Yên Thế ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi Trộm
cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân:
Ngày 29/12/2016, bị Chủ tịch UBND xã T, huyện Y áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã
thời hạn 03 tháng về hành vi chiếm đoạt tài sản; Ngày 01/6/2017, bị Tòa án nhân dân
huyện Yên Thế ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đƣa vào trƣờng
giáo dƣỡng, thời hạn 18 tháng về hành vi chiếm đoạt tài sản; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ
từ ngày 23/4/2022, tạm giam từ ngày 29/4/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại
tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang- Có mặt.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Bản D, xã C, huyện Y, tỉnh
B- Có đơn xin vắng mặt
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Quyết C, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện
Y, tỉnh B- Vắng mặt.
2. Chị Phùng Thị H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T,
tỉnh B- Vắng mặt
3. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1985; Địa chỉ: Bản Q, xã T, huyện Y, tỉnh B-
Vắng mặt
4. Bà Đàm Thị U, sinh năm 1967; Địa chỉ: B, xã T, huyện Y, tỉnh B- Vắng mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố
C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh B- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 9 giờ ngày 22/4/2022, Nguyễn Minh G, sinh năm 2001 ở B, xã T,
huyện Y điều khiển xe mô tô Sirius (không gắn biển kiểm soát) đi từ thôn Hoàng
Long, xã Tân Hiệp lên xã Canh Nậu, huyện Yên Thế chơi. Khi đi đến đoạn đƣờng
thuộc bản Dốc Đơ, xã Canh Nậu, huyện Yên Thế, Giang thấy chị Hoàng Thị N, sinh
năm 1991 ở bản Dốc Đơ, xã Canh Nậu điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía trƣớc,
túi quần phía sau bên trái đút điện thoại di động nhƣng một nửa chiếc điện thoại thò ra
ngoài nên Giang nảy sinh ý định cƣớp giật chiếc điện thoại của chị N. Giang điều
khiển xe bám theo sau xe chị N khoảng hơn 200m, khi đến đoạn đƣờng vắng, Giang
tăng ga xe áp sát bên trái xe mô tô của chị N. Khi hai xe ở gần vị trí song song và
khoảng cách giữa 2 xe mô tô khoảng hơn 30cm, Giang dùng tay phải giật điện thoại
nhãn hiệu Xiaomi note 9 màu xanh của chị N rồi chuyển sang tay trái, đU vào túi quần
phía trƣớc bên trái của Giang và điều khiển xe bỏ chạy, lúc này khoảng 10 giờ 30 phút
cùng ngày. Phát hiện bị Giang giật điện thoại, chị N chỉ kêu lên “ơ, ơ”, sau đó đuổi
theo một đoạn nhƣng không kịp nên chị N đã đến Công an xã Canh Nậu trình báo sự
việc.
Đối với Giang, sau khi cƣớp giật đƣợc điện thoại của chị N, Giang điều khiển xe
mô tô bỏ chạy đến quán điện thoại của anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1985 ở tổ dân
phố Cả Trọng, thị trấn Phồn Xƣơng để bán điện thoại nhƣng anh Sáng không mua nên
Giang đi đến quán điện thoại của anh Đào Quyết C, sinh năm 1981 ở tổ dân phố
Hoàng Hoa Thám, thị trấn Phồn Xƣơng, huyện Yên Thế. Tại đây, Giang nói dối anh C
là điện thoại của Giang nhƣng quên mật khẩu, anh C đã mua điện thoại này và trả cho
Giang số tiền 300.000đồng, sau đó anh C đã tháo bỏ 02 sim trong điện thoại ra khỏi
máy.
Sau khi bán điện thoại xong, Giang điều khiển xe mô tô xuống thị trấn Nhã Nam,
huyện Tân Yên chơi và chi tiêu hết số tiền trên, đến chiều cùng ngày thì đi về nhƣng
khi đến khu vực xã Tam Hiệp, Giang gặp một số đồng chí Công an đi làm nhiệm vụ
3
nên Giang quay xe lại, đi xuống huyện Tân Yên chơi và tháo 02 yếm, tháo mặt nạ xe ra
vứt đi. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Giang đi xe mô tô đến bán cho chị Phùng Thị H,
sinh năm 1975 ở tổ dân phố Tiến Thắng, thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên đƣợc
1.000.000đồng (Giang có viết giấy mua bán xe), sau đó Giang đi xe ôm về đến B rồi đi
xe taxi của ngƣời không quen biết về bản Đồng Gián, xã Xuân Lƣơng thăm vợ, con.
Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, Giang đến Công an xã Xuân Lƣơng đầu thú, khai nhận
toàn bộ hành vi cƣớp giật điện thoại của chị N và giao nộp 01 áo khoác phao, 01 quần
dài, 01 mũ lƣỡi trai (là trang phục Giang sử dụng khi thực hiện hành vi cƣớp giật điện
thoại của chị N).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trƣờng, thu thập hình ảnh camera
an ninh. Anh C đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại di động đã mua của
Giang. Chị H giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 giấy biên nhận vay tiền có chữ ký của
ngƣời vay tiền Nguyễn Minh G; 01 xe mô tô kiểu dáng Sirius không gắn biển kiểm
soát, ổ khóa cốp xe có cắm 01 chìa khóa, trong cốp xe có 01 biển kiểm soát 98N3-
2507.
Ngày 23/4/2022, tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Giang, kết quả dƣơng
tính.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2022 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thế kết luận: 01 chiếc điện thoại di
động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi note 9 màu xanh, trị giá 2.500.000 đồng
(hai triệu năm trăm nghìn đồng); chi phí cấp lại 02 sim Viettel là 50.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 827/KL-KTHS ngày 18/5/2022 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên tài liệu
cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Minh G trên các tài liệu
mẫu (ký hiệu từ M1 đến M10) là do cùng một ngƣời ký, viết ra.
Tại Kết luận giám định số 861/KL-KTHS ngày 22/5/2022 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép nội
dung hình ảnh trong các file video gửi giám định.
Tiến hành thực nghiệm điều tra, Giang thực hiện thuần thục động tác cƣớp giật
điện thoại của chị N.
Đối với 02 sim lắp trong điện thoại, do anh C đã tháo vứt đi, Cơ quan điều tra
tiến hành truy tìm nhƣng không thấy.
Từ hành vi Cƣớp giật tài sản nêu trên của Nguyễn Minh G, tại bản cáo trạng số
22/CT-VKS-YT ngày 27/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc
Giang đã tuy tố bị cáo ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Yên Thế để xét xử về tội “Cƣớp
giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa công khai sơ thẩm, bị cáo thừa nhận đã có hành vi cƣớp giật tài sản,
nhƣ cáo trạng truy tố và nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên, rất hối hận về việc làm của
mình nên đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi dùng xe máy của mình để
cƣớp giật chiếc điện thoại của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt tù cho bị cáo.
4
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế giữ nguyên quan
điểm nhƣ cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều
171 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm
nhẹ và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt:
Nguyễn Minh G từ 04 (Bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội
“Cƣớp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 23/4/2022.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình
sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 chìa khóa màu đen đã cũ, han rỉ, trên chìa khóa có chữ
XiaoBoSni, đƣợc niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín niêm phong bằng
giấy niên phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế có chữ ký của các thành
phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế ký hiệu “Quần áo”-
là vật chứng của vụ án.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Minh G các đồ vật của bị cáo gồm: 01 áo khoác phao mặt
ngoài màu trắng sữa, mặt trong màu cam, áo cũ bẩn đã qua sử dụng; 01 quần bò dài
màu đen size 31, ở mác cạp quần bên ngoài phía sau có chữ “New York”, hai bên đầu
gối quần bị rách thủng, quần cũ đã qua sử dụng; 01 mũ lƣỡi trai màu đen cũ bẩn đã
qua sử dụng, đƣợc niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín niêm phong bằng
giấy niên phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế có chữ ký của các thành
phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế ký hiệu “Quần áo”.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị
cáo Nguyễn Minh G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện theo các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo và mức án do kiểm sát viên đề nghị
là có căn cứ và đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và
nhân thân của bị cáo.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan
điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực
hiện hành vi dùng xe mô tô để cƣớp giật 01 chiếc điện thoại của ngƣời bị hại đang đi
trên đƣờng là dùng thủ đoạn nguy hiểm. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết
5
luận cho bị cáo Nguyễn Minh G phạm tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2
Điều 171 của Bộ luật hình sự.
[2]. 1. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức
khỏe và quyền sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang dao động và làm bất
bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo để có tác dụng
giáo dục riêng và góp phần ngăn đe phòng ngừa chung.
[2]. 2. Xét về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ thành phần dân lao động, có trình
độ văn hóa lớp 9/12, có đầy đủ nhận thức và ý thức pháp luật về hành vi dùng thủ đoạn
nguy hiểm để chiếm đoạt tài sản, nhƣng vẫn thực hiện hành vi phạm tội; đáng chú ý bị
cáo đã có tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có tiền sự và nhân thân xấu. Vì
vậy, cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải tạo trở thành
công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú, khai
báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thƣờng khắc phục hậu quả, vì
vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi lƣợng hình.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng
"tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự: đầu thú, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tác động gia
đình bồi thƣờng khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2]. 2. Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị N là bị hại đã đƣợc trả lại chiếc
điện thoại, không có yêu cầu bồi thƣờng gì. Bà Đàm Thị U (là mẹ bị cáo Giang) đã
thay mặt bị cáo bồi thƣờng cho anh C 300.000 đồng, bồi thƣờng cho chị H
1.000.000đồng; bà U không yêu cầu bị cáo Giang trả lại số tiền đã bỏ ra bồi thƣờng. Vì
vậy, không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự của bị cáo trong vụ án.
[2]. 3. Về vật chứng của vụ án:
Chiếc điện thoại di động là tài sản của chị N. Ngày 09/5/2022, Cơ quan điều tra
ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị N. Vì vậy. không cần xem xét xử lày tại
bản án.
+ 01 chìa khóa màu đen đã cũ, han rỉ, trên chìa khóa có chữ XiaoBoSni, đƣợc
niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín niêm phong bằng giấy niên phong của
Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu
của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế ký hiệu “Quần áo” do bị cáo Giang nhặt
đƣợc, do bị cáo không có đề nghị gì và là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử
dụng- cần tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 áo khoác phao mặt ngoài màu trắng sữa, mặt trong màu cam, áo cũ bẩn đã
qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen size 31, ở mác cạp quần bên ngoài phía sau có
chữ “New York”, hai bên đầu gối quần bị rách thủng, quần cũ đã qua sử dụng; 01 mũ
lƣỡi trai màu đen cũ bẩn đã qua sử dụng, đƣợc niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông
dán kín niêm phong bằng giấy niên phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế
có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên
6
Thế ký hiệu “Quần áo”, là đồ vật thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo Giang đề nghị đƣợc
trả lại, vì vậy cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh G:
[2]. 4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
- Đối với chiếc xe mô tô (không gắn biển kiểm soát), bị cáo Giang khai mua lại
của anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1985 ở Bản Q, xã T, huyện Y. Anh Q khai mua xe
này của ngƣời không quen biết qua mạng xã hội. Tại Phiếu trả lời xác minh phƣơng
tiện ngày 31/5/2022 của Công an huyện Yên Thế xác định xe có biển kiểm soát 14T6-
0805, chủ xe là CTYTNHHHTVTM&ĐTPTCNC THÁI BÌNH DƢƠNG, địa chỉ 231,
Trƣng Vƣơng, Uông Bí, Quảng Ninh. Tiến hành xác minh tại phƣờng Trƣng Vƣơng -
Uông Bí - Quảng Ninh xác định Công ty này không còn hoạt động trên địa bàn từ lâu.
Kết quả tra cứu ngày 31/5/2022 của Công an huyện Yên Thế xác định xe mô biển kiểm
soát 14T6-0805 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do chƣa làm việc
đƣợc với chủ xe mô tô nên Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe mô tô này ra để xác minh,
xử lý sau. Vì vậy, không xem xét xử lý trong vụ án này.
- Đối với chiếc biển kiểm soát 98N3-2507: Giang khai khi mua xe của anh Q thì
xe đã gắn biển kiểm soát này, do biển cũ nên Giang tháo ra để vào trong cốp xe. Tại
phiếu trả lời xác minh ngày 06/5/2022 của Công an huyện Yên Thế xác định: Chiếc
biển kiểm soát này mang tên chủ xe là Phạm Thị Lƣơng ở bản Cây Vối, xã Đồng Tiến,
huyện Yên Thế. Chị Lƣơng xác định là biển kiểm soát xe của chị Lƣơng đã bán xe
kèm theo biển kiểm soát cho ngƣời không quen biết, chị Lƣơng không đề nghị gì. Do
chƣa xác định đƣợc lý do chiếc biển kiểm soát này đƣợc gắn với xe mô tô nêu trên nên
Cơ quan điều tra đã tách biển kiểm soát 98N3-2507 ra để xác minh, xử lý sau. Vì vậy,
không xem xét xử lý trong vụ án này.
Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo bản
án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt:
Nguyễn Minh G 04 (Bốn) năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ
ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 23/4/2022.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình
sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 chìa khóa màu đen đã cũ, han rỉ, trên chìa khóa có chữ
XiaoBoSni, đƣợc niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín niêm phong bằng
giấy niên phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế có chữ ký của các thành
phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế ký hiệu “Quần áo”-
là vật chứng của vụ án.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Minh G các đồ vật của bị cáo gồm: 01 áo khoác phao
mặt ngoài màu trắng sữa, mặt trong màu cam, áo cũ bẩn đã qua sử dụng; 01 quần bò

7
dài màu đen size 31, ở mác cạp quần bên ngoài phía sau có chữ “New York”, hai bên
đầu gối quần bị rách thủng, quần cũ đã qua sử dụng; 01 mũ lƣỡi trai màu đen cũ bẩn
đã qua sử dụng, đƣợc niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông dán kín niêm phong
bằng giấy niên phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế có chữ ký của các
thành phần tham gia và dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thế ký hiệu
“Quần áo”.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị
cáo Nguyễn Minh G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ
thẩm.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh Bắc Giang.
- VKSND tỉnh Bắc Giang.
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Yên Thế;
- CQCSĐT-Công an h.Yên Thế.
- Chi cục THADS huyện Yên Thế;
- UBND xã T;
- Bị cáo.
- Những người TGTT khác;
- Lưu HS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Toàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng