Bản án số 233/2020/HS-ST ngày 20/08/2020 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 233/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 233/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 233/2020/HS-ST ngày 20/08/2020 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tội mua bán trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Buôn Ma Thuột (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 233/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/08/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 233/2020/HS-ST
Ngày: 20 – 8 - 2020
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lập Tiến;
2. Bà Nguyễn Thị Tạc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk
Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thủy – C/v Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 216/2020/TLST-
HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
225/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: K; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/4/1997. Tại: Tỉnh Đắk
Lắk;
Nơi ĐKHK và chỗ ở hiện nay: Buôn E, xã E1, huyện A, tỉnh Đắk Lắk; Quốc
tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ xăm; Trình độ
học vấn: 7/12; Con ông: S, sinh năm 1952; và con bà: N, sinh năm: 1954. Hiện đều
trú tại: Buôn E, xã E1, huyện A, tỉnh Đắk Lắk;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án.
Tại bản án số: 201/2018/HS-PT, ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk, xử phạt bị cáo là 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”,
theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày
18/01/2020 bị cáo chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2020 đến ngày 09/7/2020 được
hủy bỏ tạm giam cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên
tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh T – Sinh năm 1994 (vắng mặt)
2
Trú tại: Thôn T, xã E1, huyện A, tỉnh Đắk Lắk.
- Người làm chứng:
1/ Ông H – Sinh năm 1967 (vắng mặt)
Trú tại: Số A đường T, phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2/ Ông Đ – Sinh năm 1968 (vắng mặt)
Trú tại: Số B đường S, phường T2, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
K là người sử dụng chất ma túy, loại MDMA và Ketamine. Do không có
công việc làm ổn định nên K nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. Qua bạn bè
ngoài xã hội, K quen biết với một nam giới tên M, là người bán ma túy. K hỏi mua
ma túy của M và M đồng ý bán với giá tiền 200.000 đồng/01 viên ma túy thuốc lắc
và 800.000 đồng/ 01 chấm ma túy khay. Sau khi mua được ma túy, K bán lại cho
người mua với giá tiền 300.000 đồng/ 01 viên ma túy thuốc lắc và 1.100.000 đồng/
01 chấm ma túy khay. Khoảng 09 giờ ngày 01/4/2020, có một người phụ nữ tên A
sử dụng số điện thoại Y gọi điện thoại cho K hỏi mua 03 viên ma túy thuốc lắc và
03 chấm ma túy khay thì K đồng ý bán với giá tiền là 4.200.000 đồng và hẹn đến
Hẻm X đường L, phường T2, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để giao nhận ma túy. Sau
đó, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda-SH 150I, màu trắng đen, mang biển số
O đến khu vực nghĩa địa C, phường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk gặp M mua 03
viên ma túy thuốc lắc và 03 chấm ma túy khay với tổng số tiền 3.000.000 đồng và
đi đến điểm hẹn. Khi K đang chờ bán ma túy cho A thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Công an phường Tân
Thành, thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang về hành vi Mua bán trái
phép chất ma túy, thu giữ 03 viên nén hình tam giác màu vàng và 03 gói nylon
chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định của pháp
luật).
Tại bản kết luận giám định số: 296/GĐMT-PC09 ngày 10/4/2020 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
+ 03 viên nén hình tam giác màu vàng đựng trong 01 gói nylon được niêm
phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,9808 gam, loại: MDMA.
+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong 03 gói nylon được niêm phong gửi
giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,1324 gam, loại: Ketamine.
Tại bản cáo trạng số: 221/CT-VKS ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo K về tội: “Mua bán trái
phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa và quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thành phố Buôn
Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với
hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung
bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
3
Áp dụng
khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; đ
iểm s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
.
Tuyên bố bị cáo K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo K mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng
đến 03 (ba) năm tù.
Các biện pháp tƣ pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 0,8990 gam ma túy, loại MDMA; 1,003 gam ma túy, loại
Ketamine mẫu vật còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu vật giám định được
niêm phong tại gói số 296/GĐMT-PC09 ngày 10/4/2020.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số Z là tài sản của bị cáo K, phương tiện bị cáo
dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma
Thuột trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150I, màu trắng đen,
mang biển số O, số máy: P, số khung: K cho anh T là chủ sở hữu hợp pháp.
Bị cáo K không bào chữa và tham gia tranh luận gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng
xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
người làm chứng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định
pháp luật.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo K tại phiên tòa là phù hợp với lời khai
của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được
thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút
ngày 01/4/2020, tại Hẻm X đường L, phường T2, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, K có
hành vi mua bán trái phép 0,9808 gam ma túy, loại MDMA và 1,1324 gam ma túy,
loại Ketamine thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Công an phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo K đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm
và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

4
Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến
07 năm.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm
trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo K là công dân có đủ khả năng nhận thức và
điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo phải biết được rằng ma túy
là chất gây nghiện thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, mọi hành vi mua bán,
tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm
khắc. Song do ý thức coi thường pháp luật, động cơ thu lợi bất chính, bị cáo đã cố
ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét thấy tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính
sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Tuy nhiên bị cáo K có 01 tiền án nhưng chưa được xóa án tích mà vẫn tái
phạm, nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h
khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy
cần phiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định có
như vậy mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết
tôn trọng pháp luật và nhằm răn đe phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng
chống tội phạm.
[5] Các biện pháp tƣ pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 0,8990 gam ma túy, loại MDMA; 1,003 gam ma túy, loại
Ketamine là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số
296/GĐMT-PC09 ngày 10/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk
Lắk;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số Z là tài sản của bị cáo K, là phương tiện bị
cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150I, màu trắng đen,
mang biển số O, số máy: P, số khung: K, đây là tài sản của anh T cho bị cáo mượn.
Anh T không biết được bị cáo sử dụng tài sản trên làm phương tiện phạm tội. Do
đó, ngày 25/6/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột
ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh T là chủ sở
hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp
luật.

5
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.
Tuyên bố: Bị cáo K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51;
điểm h khoản 1
Điều 52
Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo K
02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được
khấu trừ thời hạn bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2020 đến ngày 09/7/2020.
+ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 0,8990 gam ma túy, loại MDMA; 1,003 gam ma túy, loại
Ketamine là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số
296/GĐMT-PC09 ngày 10/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk
Lắk.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số Z là tài sản của bị cáo K, là phương tiện bị
cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra
Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda
SH 150I, màu trắng đen, mang biển số O, số máy: P, số khung: K cho anh T là chủ
sở hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 21/7/2020 lưu tại hồ sơ vụ án).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23
Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy
định án phí, lệ phí Tòa án.
B
ị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản
án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
luật thi hành án dân sự”.
6
Nơi nhận:
- P.NV&THA TAND tỉnh; VKSND tỉnh;
- VKSND TP. BMT; Công an TP. BMT;
- CCTHA DSTP, THA phạt tù (để thi hành);
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- Chánh án
- Bị cáo, các đương sự;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Duy Dƣơng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của TAND tỉnh Hà Nam về về tội mua bán trái phép chất ma túy
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm