Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 230/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 230/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế C - Nguyễn Thị M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Bản án số: 230/2026/HNGĐ-ST
Ngày 29/9/2026
“V/v tranh chấp xác định không có
quan hệ cha con giữa ông Cổ và bà
Mến”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Ngô Hồng Hiếu;
2.Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 8 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên
toà: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 405/2026/TLST- HNGĐ
ngày 17
tháng 7 năm 2026, về việc “Tranh chấp xác định không có quan hệ cha con”,
theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212A/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07
tháng 9 năm 2026 và quyết định hoãn phiên toà số 115/2026/QĐST-HNGĐ ngày
23 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế C, sinh năm 1951
Căn cước công dân số ************, Cục Cảnh sát cấp ngày 14/8/2021
Nơi cư trú: Số B đường L, tổ C, phường T, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969
Căn cước công dân số ************, Cục Cảnh sát cấp ngày 13/8/2021
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Thị Phương
L, sinh ngày 30/4/2009; Căn cước công dân số ************; Cục Cảnh sát
cấp ngày 20/5/2023
Người đại diện hợp pháp cho cháu L: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969
– Là mẹ đẻ
Cùng nơi cư trú: Thôn G, xã Q, tỉnh Hưng Yên.
(Tại phiên tòa có mặt ông C; bà M và cháu L vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn
Thế C trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị M có quan hệ yêu đương nam nữ, có quan hệ sinh lý
với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn, ngày 30/4/2009 bà M sinh cháu
Nguyễn Thế L1. Ngày 15/5/2009, ông và bà M đến Uỷ ban nhân dân (UBND) xã
A, huyện Q, tỉnh Thái Bình nay là xã Q tỉnh Hưng Yên làm giấy khai sinh cho
cháu L1. Giấy khai sinh của cháu L1 thể hiện “Họ và tên cha Nguyễn Thế C; H
tên mẹ Nguyễn Thị M”. Do cháu L1 giới tính nữ nên tên Nguyễn Thế L1 có thể
gây nhầm lẫn về giới tính nên bà M đã làm thủ tục thay đổi họ tên cho cháu L1 từ
Nguyễn Thế L1 thành Nguyễn Thị Phương L. Thời gian sau ông nghi ngờ cháu L
không phải là con đẻ của ông nên năm 2018 – 2019 đã 02 lần ông cùng với cháu
L đi xét nghiệm ADN ở Trung tâm xét nghiệm LOCI ADN để xác định quan hệ
huyết thống giữa ông và cháu L, cả 02 lần đề có kết quả là ông và cháu Nguyễn
Thị Phương L không có quan hệ huyết thống cha con. Từ sau khi sinh cháu L
thỉnh thoảng ông có phụ giúp bà M nuôi cháu L nhưng không nhiều.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Thị Phương Lâm
S ngày 30/4/2009 không phải là con đẻ của ông, ông không có quan hệ cha con
với cháu L, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông và cháu L theo quy
định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/7/2026 bị đơn bà Nguyễn Thị M trình
bày:
Bà xác nhận quan hệ giữa bà và ông Nguyễn Thế C như ông C đã trình bày.
Sau khi sinh con Nguyễn Thị Phương L bà và ông C đã đi làm giấy khai sinh cho
cháu L. Theo giấy khai sinh số 75/2009 ngày 15/5/2009 thì bà và ông C là cha mẹ
của cháu Nguyễn Thị Phương L. Hiện tại, cháu L đang ở cùng với bà và đang học
lớp 12 Trường THPT P1, ông C không liên lạc gì và cũng không phụ giúp bà để
nuôi con L.
Nay ông C khởi kiện xác định cháu L không phải là con của ông C, ông C
không có quan hệ cha con với cháu L bà có ý kiến như sau: Bà không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông C, bà cũng không đồng ý kết quả giám định mà ông C
đã cung cấp cho Toà án, do con L đang học lớp 12 là năm học cuối cấp nên ông
C khởi kiện ảnh hưởng đến tâm lý và kết quả học tập của cháu, bà đề nghị không
tiếp xúc với cháu L, do đó nếu Toà án ra quyết định trưng cầu giám định ADN để
xác định quan hệ huyết thống giữa cháu L và ông C thì bà không đưa cháu L để
lấy mẫu giám định, không đồng ý cho Toà án lấy mẫu giám định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị Phương L
không có ý kiến trình bày.
Kết quả xác minh với cơ sở thôn G, xã Q, tỉnh Hưng Yên thấy: Bà Nguyễn
Thị M là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Thị Phương Lâm S ngày 30/4/2009, cháu Lâm
học lớp 12 Trường THPT P1. Cháu L ở cùng bà M, đang do bà M nuôi dưỡng.
Nay ông C đề nghị Toà án xác định cháu L không phải là con của ông C, cơ sở
thôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
3
Kết quả xác minh với Ủy ban nhân dân xã Q thấy: Theo sổ đăng ký khai
sinh trang 108, số 75 ngày 15/5/2009 thể hiện “Phần ghi về người được đăng ký
khai sinh: Họ và tên Nguyễn Thế L1, giới tính: Nữ; ngày tháng năm sinh
30/4/2009; Phần ghi về cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ và tên cha:
Nguyễn Thế Cổ sinh năm 1951; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M; Phần ghi về người đi
đăng ký khai sinh: Họ và tên Nguyễn Thị M 1969 là mẹ đẻ; Phần ghi chú: Con
ngoài giá thú ghi tên cha theo QĐ số 03 ngày 19/5/2009”. Ngày 04/10/2013,
UBND huyện Q, tỉnh Thái Bình đã cấp lại giấy khai sinh cho cháu L1, theo đó
thay đổi tên đệm từ Nguyễn Thế L1 thành Nguyễn Thị Phương L theo quyết định
số 2842 ngày 02/10/2013. Do đó, Giấy khai sinh (Bản chính) thể hiện: Họ và tên
Nguyễn Thị Phương L; giới tính N; H và tên cha: Nguyễn Thế Cổ sinh năm 1951;
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M sinh năm 1969”. UBND xã không còn lưu trữ tài
liệu nào khác liên quan đến việc cấp giấy khai sinh cho cháu Nguyễn Thị Phương
L (Nguyễn Thế L1).
Nay ông Nguyễn Thế C khởi kiện đề nghị Toà án xác định cháu Nguyễn
Thị Phương Lâm S ngày 30/4/2009 không phải là con đẻ của ông C, UBND xã đề
nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên
về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng: Điều 88, Điều 89, Điều 101 và Điều
102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; điểm b, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Toà án: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn
Thế C xác định cháu Nguyễn Thị Phương Lâm S ngày 30/4/2009 không có quan
hệ cha con với ông C. Bà Nguyễn Thị M liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cải
chính hộ tịch liên quan đến giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Phương L theo
quy định của pháp luật. Miễn án phí xác định không có quan hệ con cho cha cho
ông C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Thế C khởi kiện bà Nguyễn Thị M để xác định
cháu Nguyễn Thị Phương Lâm S ngày 30/4/2009 không có quan hệ cha con với
ông C, bà M có nơi cư trú tại xã Q, tỉnh Hưng Yên nên Tòa án nhân dân Khu vực
4
8 – Hưng Yên, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4
Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn
bà Nguyễn Thị M, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị
Phương L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt do đó
Toà án vẫn xét xử là phù hợp với khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu
thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy
định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về xác định không có quan hệ cha con: Ông Nguyễn Thế C khởi kiện yêu
cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Thị Phương Lâm S ngày 30/4/2009 không phải
là con của ông C, ông C không có quan hệ cha con với cháu L. Bà M không đồng
ý với yêu cầu khởi kiện của ông C, bà cho rằng cháu L đang học lớp 12 việc ông
C khởi kiện làm ảnh hưởng đến tâm lý và học tập của cháu L.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông C và ý kiến của bà M thấy: Ông Nguyễn Thế
C và bà Nguyễn Thị M có quan hệ yêu đương nam nữ nhưng không phải là vợ
chồng. Ngày 30/4/2009 bà M sinh cháu Nguyễn Thế P giới tính nữ, ông C và bà
M xác định cháu L là con chung của ông bà, do họ tên của cháu L dễ dẫn đến hiểu
lầm về giới tính nên bà M đã làm thủ tục cải chính họ tên của cháu Nguyễn Thế
L1 thành Nguyễn Thị Phương L. Theo giấy khai sinh số 75 ngày 15/5/2009 của
UBND xã A nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên thể hiện “Phần ghi về người được đăng
ký khai sinh: Họ và tên Nguyễn Thế L1, giới tính: Nữ; ngày tháng năm sinh
30/4/2009; Phần ghi về cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ và tên cha:
Nguyễn Thế Cổ sinh năm 1951; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M; Phần ghi về người đi
đăng ký khai sinh: Họ và tên Nguyễn Thị M 1969 là mẹ đẻ; Phần ghi chú: Con
ngoài giá thú ghi tên cha theo QĐ số 03 ngày 19/5/2009”. Ngày 04/10/2013,
UBND huyện Q, tỉnh Thái Bình đã cấp lại giấy khai sinh cho cháu L1, theo đó
thay đổi tên đệm từ Nguyễn Thế L1 thành Nguyễn Thị Phương L theo quyết định
số 2842 ngày 02/10/2013”. Do đó, Giấy khai sinh (Bản chính) thể hiện: Họ và tên
Nguyễn Thị Phương L; giới tính N; H và tên cha: Nguyễn Thế Cổ sinh năm 1951;
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M sinh năm 1969”.
Đến năm 2018, ông C nghi ngờ cháu L không phải là con đẻ của mình nên
đã đưa cháu L đi xét nghiệm. Theo kết quản xét nghiệm ADN ngày 05/10/2018
và 21/10/2019 đều của Trung tâm xét nghiệm LOCI ADN nay là Công ty TNHH
L2 đều kết luận ông Nguyễn Thế C và Nguyễn Thị Phương L không có quan hệ
huyết thống cha con. Toà án đã ra quyết định trưng cầu giám định để xác định
quan hệ huyết thống cha con giữa ông C và cháu Nguyễn Thị Phương L nhưng bà
M không đưa cháu L đến để lấy mẫu xét nghiệm, không có thiện chí hợp tác, ông
C đề nghị Toà án sử dụng kết quả xét nghiệm của Công ty L2 làm căn cứ để quyết
vụ án. Tại công văn số 189/2026CV-LOCI ADN ngày 14/9/2026 của Công ty L2
cung cấp như sau “Sau khi tiến hành lấy mẫu và làm các thủ tục phân tích, hội
đồng khoa học Trung tâm P2 kết luận “Người có mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Thế
C và người có mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Phương L không cùng quan hệ huyết
5
thống cha - con”. Việc lấy mẫu cũng như quá trình phân tích ADN được tiến hành
theo đúng quy trình do Nhà nước quy định”. Bà M không công nhận kết quả này
nhưng bà M không đưa ra được căn cứ nào để chứng minh kết quả này là không
đúng. Quy trình lấy mẫu cũng như quá trình phân tích ADN đảm bảo đúng trình
tự của pháp luật nên có căn cứ xác định ông Nguyễn Thế C không có quan hệ cha
con với cháu Nguyễn Thị Phương Lâm S ngày 30/4/2009, theo giấy khai sinh số
75 ngày 15/5/2009 của UBND xã A nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên được UBND
huyện Q, tỉnh Thái Bình cấp lại ngày 04/10/2013 là phù hợp với quy định tại Điều
88 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cải chính
hộ tịch liên quan đến giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Phương L theo quy định
của pháp luật.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Thế C là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí
nên miễn án phí cho ông C là phù hợp với theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật
Tố tụng dân sự và điểm b, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật là phù hợp với Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 88, Điều 89, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân
và gia đình; khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm
b, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế C: xác định ông
Nguyễn Thế C không có quan hệ cha con với cháu Nguyễn Thị Phương Lâm S
ngày 30/4/2009, theo giấy khai sinh số 75 ngày 15/5/2009 của UBND xã A nay
là xã Q, tỉnh Hưng Yên, được UBND huyện Q, tỉnh Thái Bình cấp lại ngày
04/10/2013.
Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cải chính
hộ tịch liên quan đến giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Phương L theo quy định
của pháp luật.
2.Về án phí: Miễn án phí xác định không có quan hệ cha con cho ông
Nguyễn Thế C.
3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thế C1 có mặt tại phiên
toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà
Nguyễn Thị M, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị
Phương L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
6
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp
luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên;
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THA dân sự Khu vực 8 – Hưng Yên;
- UBND xã Quỳnh An, tỉnh Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Văn phòng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Duyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST Bản án số 230/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất