Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST ngày 28/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 227/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST ngày 28/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 227/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị S - Bùi Văn L ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Bản án số: 227/2026/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 9 - 2026
“V/v ly hôn và nuôi con chung giữa chị Sâm
và anh Lĩnh”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Trần Thị Thuỷ;
2.Bà Nguyễn Thị Tú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 8 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia
phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
451/2026/TLST- HNGĐ
ngày 10 tháng 8 năm 2026, về việc “Tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
208/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990
Căn cước công dân số 03419000 5175, Cục Cảnh sát cấp ngày 09/5/2021
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đồng Lệ, xã Quỳnh An, tỉnh Hưng Yên
Nơi ở: Thôn Xuân La, xã Quỳnh An, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1985
Căn cước công dân số ************, Cục Cảnh sát cấp ngày 09/5/2021
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Q, tỉnh Hưng Yên
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T1, Thành phố Hà Nội.
(Tại phiên toà có mặt chị S, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị
Nguyễn Thị S bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn L tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn
đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái
Bình nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên vào ngày 24/4/2008. Sau khi kết hôn, vợ
chồng chung sống tại gia đình anh L. Quá trình chung sống đến năm 2023 thì vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng
không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, anh L không tu chí
2
làm ăn. Mâu thuẫn căng thẳng vào ngày 24/01/2024 thì anh L bị bắt tạm giam
sau đó bị kết án 04 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, vợ chồng ly thân
từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh L không
còn, chị xin ly hôn anh L.
Về con chung: Chị và anh Bùi Văn L có 04 con chung là Bùi Phương T
sinh ngày 02/7/2009, Bùi Trung P sinh ngày 21/6/2011, Bùi Thị Mai H sinh
ngày 27/10/2016 và Bùi Hải Đ sinh ngày 14/3/2023. Ly hôn, chị nhận trách
nhiệm nuôi dưỡng cả 04 con chung, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho các
con chung. Hiện tại, chị không có thai nghén gì.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hiện tại làm công nhân tự do thu nhập khoảng 13.000.000 đồng/tháng
(Mười ba triệu đồng một tháng).
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn
anh Bì Văn L1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định thời gian, điều kiện hoàn cảnh kết
hôn và thời gian nguyên nhân mâu thuẫn như chị Nguyễn Thị S đã trình bày.
Theo ngày 24/01/2024, anh bị bắt tạm giam sau đó bị kết án 04 năm 09 tháng tù
về “Tội trộm cắp tài sản” vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị S có đơn
xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị S không còn, anh
nhất trí ly hôn chị S.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị S có 04 con chung như chị S đã
trình bày. Ly hôn, về nuôi con và cấp dưỡng cho con anh đề nghị Toà án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Kết quả xác minh với cơ sở thôn Đ, tỉnh Hưng Yên thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L là vợ chồng,
quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng thì cơ sở
thôn không biết rõ. Hiện anh L đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T1,
Thành phố Hà Nội. Nay chị S có đơn xin ly hôn, cơ sở thôn đề nghị Toà án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L có 04 con chung Bùi
Phương T sinh ngày 02/7/2009, Bùi Trung P sinh ngày 21/6/2011, Bùi Thị Mai
H sinh ngày 27/10/2016 và Bùi Hải Đ sinh ngày 14/3/2023, đều do chị S chăm
sóc nuôi dưỡng. Ly hôn, về nuôi con và cấp dưỡng cho con đề nghị Toà án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Cơ sở thôn không biết rõ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của đương sự đều tuân thủ đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
Về nội dung: Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83
của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải quyết: Xử công nhận thuận tình ly hôn
giữa chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L; Về quan hệ con chung: Giao cả 04
con chung là Bùi Phương T sinh ngày 02/7/2009, Bùi Trung P sinh ngày
21/6/2011, Bùi Thị Mai H sinh ngày 27/10/2016 và Bùi Hải Đ sinh ngày
14/3/2023 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chị S không yêu cầu anh L cấp dưỡng
cho các con chung; Về tài sản: Không đặt ra giải quyết; Đương sự phải chịu tiền
án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị S khởi kiện ly hôn và nuôi con chung với
anh Bùi Văn L. Bị đơn anh L nơi cư trú tại xã Q, tỉnh Hưng Yên nên Toà án
nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại
khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh L đang chấp hành án tại Trại giam T1, Thành phố Hà Nội và có đơn xin xét
xử vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hoà giải được, Toà
án vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 207, khoản 1
Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết
vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L là vợ
chồng, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình nay là xã Q, tỉnh
Hưng Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 24/4/2008 là hôn nhân hợp
pháp. Quá trình chung sống đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không
thương yêu thông cảm cho nhau, mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 4/2024, anh L
bị bắt tạm giam sau đó bị kết án 04 năm 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”
vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị S xác định tình cảm vợ chồng giữa
chị và anh L không còn, chị xin ly hôn anh L, anh L cũng xác định tình cảm vợ
chồng giữa anh với chị S không còn, anh nhất trí ly hôn chị S. Chị S, anh L ly
thân đã lâu, mâu thuẫn giữa chị S và anh L đã trầm trọng không thể hàn gắn
được, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị thực tế chỉ còn
tồn tại về mặt hình thức, vì vậy cần xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị S và
anh L là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
4
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L có 04 con chung là
Bùi Phương T sinh ngày 02/7/2009, Bùi Trung P sinh ngày 21/6/2011, Bùi Thị
Mai H sinh ngày 27/10/2016 và Bùi Hải Đ sinh ngày 14/3/2023. Ly hôn, chị S
có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 04 con chung, chị không yêu cầu anh L
cấp dưỡng cho các con chung, anh L đề nghị Toà án giải quyết theo quy định
của pháp luật. Xét nguyện vọng nuôi con của chị S là chính đáng, cả 04 con đều
đang ở với chị S, chị S chăm sóc con rất chu đáo, các cháu phát triển bình
thường phù hợp với lứa tuổi, các con đều có nguyện vọng ở với chị S, còn anh L
đang phải chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện để trực tiếp trông nom
chăm sóc con chung. Do đó, để không làm ảnh hưởng đến việc sinh hoạt, học
tập của các con chung cần giao cả 04 con chung cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng,
chị S không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho các con chung, anh L có quyền đi lại
thăm nom và giáo dục các con chung là đáp ứng được nguyện vọng của đương
sự, của con chung và phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân
và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L không yêu cầu
Toà án giải quyết nên về tài sản chung Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị S nhận chịu cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm
theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
[6] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn L có quyền
kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân
và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b
khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn
Thị S và anh Bùi Văn L.
2.Về con chung: Xử giao cả 04 con chung là Bùi Phương T sinh ngày
02/7/2009, Bùi Trung P sinh ngày 21/6/2011, Bùi Thị Mai H sinh ngày
27/10/2016 và Bùi Hải Đ sinh ngày 14/3/2023 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp
nuôi dưỡng, chị S không yêu cầu anh Bùi Văn L cấp dưỡng nuôi các con chung.
Anh L có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con chung mà không bị ai cản trở.
Chị S, anh L có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu
5
cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị S nhận chịu cả 150.000 đồng (Một trăm năm
mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) chị S đã nộp theo biên lai thu số 0000863 ngày 10 tháng 8 năm
2026 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hưng Yên được chuyển thành
tiền án phí và trả lại chị S 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị S có mặt tại phiên toà
có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh
Bùi Văn L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của
pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 8 – Hưng Yên;
-VKSND tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THADS Khu vực 8 – Hưng Yên;
- UBND xã Quỳnh An, tỉnh Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Duyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST Bản án số 227/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất