Bản án số 222/2025/LĐ-ST ngày 30/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 222/2025/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 222/2025/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 222/2025/LĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 222/2025/LĐ-ST ngày 30/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 222/2025/LĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/07/2025 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội khi chấm dứt hợp đồng lao động |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 222/2025/LĐ-ST
Ngày: 30/7/2025
V/v: Tranh chấp về về tiền lương,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
2. Bà Nguyễn Thị Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Trang là Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Võ Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 1814/2024/TLST-LĐ
ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thôi việc theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 04/2025/QĐXXST-LĐ ngày 02 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T; địa chỉ: Thôn C, phường X, thành phố Đ
Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Số 04 đường D, phường L,
Thành phố H.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Kỹ thuật Công nghệ Sài Gòn; địa chỉ: Số 30 đường
T, phường Đ,Thành phố H
Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn M (văn bản ủy quyền ngày 04/10/2024)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 12 năm 2023, bản khai và các biên bản của
Toà án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Đầu tháng 7/2018, nguyên đơn nhận được thư mời nhận việc của bị đơn - Công
ty cổ phần Kỹ thuật Công nghệ Sài Gòn, thời gian thử việc từ ngày 03/7/2018 đến
ngày 03/9/2018. Ngày 03/9/2018, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng lao động số
124/2018/HĐLĐ-TECHGEL, thời gian 12 tháng từ ngày 03/9/2018 đến ngày
02/9/2019; chức danh chuyên môn: Trưởng hệ PCCC; mức lương chính là 4.260.000
đồng/tháng; lương năng suất theo đánh giá hoàn thành công việc được giao; phụ cấp,
tiền thưởng theo quy chế của công ty. Từ tháng 12/2021, nguyên đơn được tăng lương
2
là 13.842.400 đồng/tháng theo Quyết định số 54/2022/QĐ-TECHGEL ngày
28/01/2022. Ngoài ra, nguyên đơn còn được trả phụ cấp công tác phí là 600.000
đồng/tháng, phụ cấp tiền ăn là 720.000 đồng/tháng (30.000 đồng/ngày), phụ cấp điện
thoại là 250.000 đồng/tháng, hệ số công trình là 1.15. Bị đơn đã trả lương cho nguyên
đơn bằng hình thức chuyển khoản. Do bị đơn không trả lương đúng hạn nên ngày
04/5/2023, nguyên đơn nộp đơn xin thôi việc và nghỉ việc từ ngày 25/5/2023. Cho đến
nay, bị đơn còn nợ tiền lương của nguyên đơn như sau:
- Lương 3/2023 là 17.252.950 đồng, đã trả 10.331.974 đồng, còn nợ 6.920.976
đồng
- Lương 4/2023 là 17.252.950 đồng
- Lương 5/2023 là 15.215.834 đồng
Ngoài ra, bị đơn chưa đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho nguyên đơn từ tháng 12/2022 đến tháng 5/2023.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau: Buộc bị đơn thanh
toán tiền lương các tháng 3,4,5 năm 2023 là 39.389.760 đồng; đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 12/2022 đến tháng 05/2023; buộc bị đơn
thanh toán tiền lãi theo lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam công bố là 5%/năm trên số tiền chậm thanh toán tạm tính là
1.148.280 đồng; buộc thanh toán tiền trợ cấp thôi việc là 34.606.000 đồng.
Hàng tháng, nguyên đơn chỉ được nhận thông báo về lương trong nhóm do
người phụ trách nhân sự lập trên ứng dụng zalo và gửi thông báo. Hiện nay nhóm này
đã bị xóa nên nguyên đơn không thể cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến bảng
kê tính lương cho Tòa án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn trả tiền
lương còn thiếu của tháng 3/2023 là 6.920.976 đồng, trả tiền lãi do chậm thanh toán
tiền lương theo mức lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam công bố là 5%/năm trên số tiền chậm thanh toán tạm tính là
11.148.280 đồng; trả tiền trợ cấp thôi việc là 34.606.000 đồng. Bị đơn đã ban hành
Quyết định 364/2020/QĐ-TECHGEL ngày 30/10/2020 về hệ thống chỉ số đánh giá
thực hiện công việc – KPIs. Theo quyết định này, tỉ lệ đánh giá KPIs đối với chức
danh kỹ sư là 30%. Do nguyên đơn không giao nộp được tài liệu chứng cứ là báo cáo
kết quả làm việc và đánh giá hoàn thành công việc để xác định lương năng suất của
tháng 4,5/2023 nên nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lương các tháng 4,5/2023 theo mức
lương cố định là 13.842.400 đồng/tháng x 70% = 9.689.680 đồng/tháng. Nguyên đơn
được biết bị đơn lập hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
cho nguyên đơn đến hết tháng 5/2023, mức lương là cơ sở đóng bảo hiểm xã hội của
nguyên đơn là 4.730.000 đồng/tháng nhưng bị đơn chưa đóng đủ tiền nên nguyên đơn
chưa được chốt sổ bảo hiểm. Số tiền nguyên đơn phải đóng quỹ bảo hiểm xã hội là
4.730.000 đồng/tháng x 10.5% = 496.650 đồng/tháng. Theo Thỏa ước lao động tập thể
thì nguyên đơn được hưởng tiền cơm là 30.000 đồng/ngày và 15.000 đồng nếu làm
việc ½ ngày. Nguyên đơn đã làm việc 24 ngày trong tháng 4/2023, làm việc 16.5 ngày
và nghỉ lễ 02 ngày trong tháng 5/2023 nên tiền lương của nguyên đơn tháng 4/2023 là
9.913.030 đồng, tiền lương tháng 5/2023 là 7.467.478 đồng, tổng số tiền bị đơn phải
trả là 17.380.508 đồng. Yêu cầu bị đơn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp cho nguyên đơn đến hết tháng 5/2023; xác nhận quá trình tham gia bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của nguyên đơn đến hết tháng
5/2023; mức lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội là 4.730.000 đồng/tháng.
3
Tại bản khai ngày 06/5/2025, đơn xin vắng mặt ngày 25/6/2025 và các biên
bản của Tòa án, bị đơn là Công ty Strình bày: Bị đơn xác định nguyên đơn là người
lao động của công ty và đã chính thức chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày
25/5/2023. Lương thực tế của nguyên đơn là 13.842.400 đồng/tháng (bao gồm lương
cơ bản và lương KPIs), phụ cấp tiền ăn là 30.000 đồng/ngày. Bị đơn đã đăng ký tham
gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn đến
tháng 5/2023. Bị đơn xác định ngày công lao động trong 01 tháng là 24 ngày và tính
từ ngày 26 của tháng trước đến ngày 25 của tháng tính lương. Bị đơn đã ban hành
Quyết định 364/2020/QĐ-TECHGEL ngày 30/10/2020 về hệ thống chỉ số đánh giá
thực hiện công việc – KPIs. Theo quyết định này, tỉ lệ đánh giá KPIs đối với chức
danh kỹ sư giám sát là 30%. Theo sao kê tài khoản, trong thời gian từ tháng 02/2023
trở về trước, nguyên đơn được trả đủ lương theo thỏa thuận là do nguyên đơn đã nộp
báo cáo công việc và được Hội đồng lương của công ty phê duyệt. Các tháng
3,4,5/2023 do việc kinh doanh gặp khó khăn nên nguyên đơn không thực tế làm việc
tại công trình vì vậy không có phụ cấp công tác, phụ cấp điện thoại, không tính hệ số
lương; nguyên đơn không nộp báo cáo và công ty cũng không đánh giá hoàn thành
công việc nên nguyên đơn không được hưởng lương KPIs, chỉ hưởng lương cơ bản.
Bị đơn đề xuất không trả phần lương còn thiếu của tháng 3/2023, đối với tháng 4,5
của năm 2023 thì trả cho nguyên đơn tiền lương là 5.010.000 đồng/tháng. Bị đơn đồng
ý đóng và chốt sổ bảo hiểm xã hội như nguyên đơn yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy
định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ quyết định điều chỉnh thu nhập số 54/2022/QĐ-
TECHGEL ngày 28/01/2022 và sự thừa nhận của bị đơn, có cơ sở xác nhận nguyên
đơn được trả lương 13.842.400 đồng/tháng, được trả phụ cấp tiền ăn là 30.000
đồng/ngày và tỉ lệ lương năng suất (KPIs) là 30% lương, lương cố định là 70% lương.
Bị đơn chưa trả cho nguyên đơn lương các tháng 4,5/2023; chưa đóng đủ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn và chốt sổ bảo hiểm cho
nguyên đơn khi hợp đồng lao động chấm dứt là vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng
lao động. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút. Bị đơn phải
chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền lương, trợ cấp thôi việc, đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Bị đơn là Công ty Scó địa chỉ trụ sở
tại số 30 đường T, phường Đ,Thành phố H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số
81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đây là tranh
chấp lao động cá nhân về tiền lương, trợ cấp thôi việc, đóng bảo hiểm xã hội, bảo
4
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ
khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét
xử vụ án.
[3] Về việc rút, thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[3.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn trả
tiền lương còn thiếu của tháng 3/2023 là 6.920.976 đồng, trả tiền lãi do chậm thanh
toán tiền lương theo mức lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam công bố là 5%/năm trên số tiền chậm thanh toán tạm tính là
11.148.280 đồng; trả tiền trợ cấp thôi việc là 34.606.000 đồng. Xét việc rút một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu
khởi kiện nguyên đơn đã rút.
[3.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về tiền
lương các tháng 4,5 năm 2023 và yêu cầu về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp. Xét việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện
nguyên đơn.
[4] Về mức lương, phụ cấp của nguyên đơn.
[4.1] Về mức lương thực tế: Căn cứ Quyết định số 54/2022/QĐ-TECHGEL
ngày 28/01/2022, lời thừa nhận của bị đơn, có cơ sở xác định từ kỳ lương tháng
12/2021 đến nay, lương thực tế của nguyên đơn là 13.842.400 đồng/tháng, chưa tính
hệ số lương và phụ cấp
[4.2] Về việc tính lương theo năng suất, hiệu quả công việc: Nguyên đơn, bị
đơn thống nhất xác định lương thực tế nguyên đơn được nhận bao gồm lương cố định
và lương theo hiệu quả công việc được gọi là KPIs; tỉ lệ lương được thực hiện theo
Quyết định 364/2020/QĐ-TECHGEL ngày 30/10/2020. Bị đơn cho rằng theo quy
định của công ty, người lao động chỉ được hưởng toàn bộ lương nếu có báo cáo đánh
giá KPIs được ban lãnh đạo công ty duyệt; nếu không nộp báo cáo thì người lao động
chỉ được hưởng lương cơ bản và phụ cấp; từ tháng 3/2023, do công ty hoạt động
không hiệu quả nên bị đơn không đánh giá cho toàn bộ người lao động hưởng lương
KPIs. Tuy nhiên, bị đơn không giao nộp được tài liệu, chứng cứ có nội dung thể hiện
bị đơn đã ban hành, phổ biến quy định tính lương này cho người lao động và việc
đánh giá cho người lao động hưởng lương KPIs là trách nhiệm của bị đơn, không phải
nghĩa vụ của nguyên đơn nên căn cứ khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, lời khai
nại của bị đơn không có cơ sở. Căn cứ Quyết định 364/2020/QĐ-TECHGEL ngày
30/10/2020 về hệ thống chỉ số đánh giá thực hiện công việc – KPIs, tỉ lệ đánh giá
KPIs đối với chức danh kỹ sư là 30%, không phải toàn bộ phần còn lại của lương sau
khi trừ lương cơ bản như bị đơn trình bày. Căn cứ vào quy định tính lương hiệu quả
công việc do bị đơn ban hành thì lương hiệu quả công việc của nguyên đơn là 30%
lương chính và lương cố định của nguyên đơn là 70% lương chính = 13.842.400
đồng/tháng x 70% = 9.689.680 đồng/tháng.
[4.3] Về phụ cấp tiền ăn: Căn cứ khoản 23.2 Điều 23 Thỏa ước lao động tập thể
do bị đơn phát hành và sự thừa nhận của bị đơn thì nguyên đơn được trả phụ cấp tiền
5
ăn là 30.000 đồng/người/ngày làm việc bình thường, trường hợp làm việc ½ ngày
được tính 15.000 đồng.
[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lương, phụ cấp các
tháng 4,5 năm 2023 là 17.380.508 đồng.
Căn cứ lời khai của nguyên đơn và bị đơn thì kể từ ngày 25/5/2023, hợp đồng
lao động giữa nguyên đơn và bị đơn chấm dứt theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ
luật Lao động. Nguyên đơn trình bày nguyên đơn đã làm việc 24 ngày trong tháng
4/2023, làm việc 16.5 ngày và nghỉ lễ 02 ngày trong tháng 5/2023. Bị đơn là người sử
dụng lao động, chấm công nhưng không phản đối, không giao nộp chứng cứ về số
ngày làm việc của nguyên đơn theo quy định khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự
nên có cơ sở xác định nguyên đơn đã làm việc với số ngày công như nguyên đơn trình
bày. Căn cứ khoản 1 Điều 94, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao
động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn và trả lương cho người lao động căn
cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Căn
cứ Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người sử dụng lao động có trách nhiệm
lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã
hội; đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hàng tháng trích từ tiền lương
của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật Bảo hiểm xã hội để
đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội. Khi bị đơn trả lương các tháng 3,4/2023
đã thực hiện việc trích tiền lương của nguyên đơn để đóng bảo hiểm xã hội. Vì vậy, bị
đơn phải trả nguyên đơn tiền lương như sau:
- Tiền lương tháng 4/2023 là: 9.689.680 đồng : 24 ngày x 24 ngày - 496.650
đồng + 24 ngày x 30.000 đồng/ngày = 9.913.030 đồng.
+ Tiền lương tháng 5/2023 là: 9.689.680 đồng : 24 ngày x 18.5 ngày - 496.650
đồng + 16.5 ngày x 30.000 đồng/ngày = 7.467.478 đồng
Tổng số tiền là 17.380.508 đồng
[6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn đóng bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đến hết tháng 5/2023 với mức lương 4.730.000
đồng/tháng và hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
thất nghiệp cho nguyên đơn.
Căn cứ công văn số 87/BHXH-7906 ngày 01/4/2025 của Bảo hiểm xã hội quận
Bình Thạnh, bị đơn đã lập hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho nguyên đơn từ tháng 01/2020 đến tháng 5/2023 với mức lương làm cơ sở
đóng bảo hiểm là 4.730.000 đồng/tháng; bị đơn chưa thực hiện chốt sổ bổ sung và
trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 3/2023
đến nay nên nguyên đơn chưa được chốt sổ bảo lưu từ tháng 12/2022 đến tháng
5/2023. Căn cứ khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 21 Luật Bảo hiểm
xã hội năm 2014; Điều 43 và Điều 44 Luật Việc làm năm 2013; Điều 12, Điều 13,
Điều 14 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ
sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội;
đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; phối hợp với cơ quan bảo
hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động,
hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật. Căn cứ quy định về
cách tính ngày công lao động trong tháng, nguyên đơn phải được tham gia bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đến hết tháng 5/2023 nên yêu cầu của
nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
6
[7] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 -
Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 -Thành phố Hồ Chí Minh đã
nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án. Đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 -Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết
vụ án là đúng quy định của pháp luật
[8] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí là 521.415 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 32, 35, 39, 85, 86, 144, 147, 227, 228, 235, 244, 271, 273, 278 và
Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 34, 48, 91, 94, 95 của Bộ luật Lao động
năm 2019; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 21, 85, 86 Luật
Bảo hiểm xã hội năm 2014; Điều 43, Điều 44 Luật Việc làm năm 2013; Điều 12, Điều
13, Điều 14 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị
quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phạm
Văn T về việc yêu cầu Công ty Strả tiền lương còn thiếu của tháng 3/2023 là
6.920.976 (sáu triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm bảy mươi sáu) đồng, trả tiền
lãi do chậm thanh toán tiền lương theo mức lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn
01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố là 5%/năm trên số tiền chậm
thanh toán tạm tính là 11.148.280 (mười một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn hai
trăm tám mươi) đồng; trả tiền trợ cấp thôi việc là 34.606.000 (ba mươi bốn triệu sáu
trăm linh sáu nghìn) đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phạm Văn T:
Buộc Công ty Strả tiền lương các tháng 4,5 năm 2023 là 17.380.508 (mười bảy triệu
ba trăm tám mươi nghìn năm trăm linh tám) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phạm Văn T:
Buộc Công ty S phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho
ông T đến hết tháng 5/2023 với mức lương làm cơ sở đóng bảo hiểm là 4.730.000
(bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng/tháng và hoàn thành thủ tục xác nhận thời
gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của ông T tại cơ quan bảo hiểm xã
hội.
4. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty S phải chịu án phí là 521.415 (năm
trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm mười lăm) đồng.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
7
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án
dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại
phiên tòa được kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND Tp.Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 5 ;
- THADS Tp,Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng