Bản án số 22/2018/HS-PT ngày 27/07/2018 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tội đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 22/2018/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 22/2018/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 22/2018/HS-PT ngày 27/07/2018 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tội đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tuyên Quang |
| Số hiệu: | 22/2018/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/07/2018 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
–––––––––––––––
Bản án số: 22/2018/HS-PT
Ngày 27-7-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Bích
Các Thẩm phán: Ông Hồ Thanh Sơn
Bà Nguyễn Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thị Kim Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2018/TLPT-
HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo Đoàn Văn T do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2018/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2018
của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
Đoàn Văn T, sinh ngày 05/02/1982 tại huyện D, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện D, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm
ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị T2,
sinh năm 1949; có vợ Lại Thị M, sinh năm 1982 và 03 con; tiền án, tiền sự:
Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2018 đến ngày 17/01/2018 được thay đổi
biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo,
kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/01/2018, Lưu Văn K cùng Nông Vũ K2,
Trần Xuân T4, Đoàn Văn T đến nhà Hầu Văn Đ tại thôn K, xã B, huyện D, tỉnh
2
Tuyên Quang chơi. Sau đó, bốn người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh chắn
được thua bằng tiền (không xác định được người khởi xướng, rủ rê), Hầu Văn Đ
chuẩn bị chiếu cói và chăn trải xuống sàn nhà và 01 đĩa sứ màu trắng, K1 đi mua
bộ bài chắn để sử dụng làm công cụ đánh bạc. Sau đó, K1 cùng T4, T, K ngồi
xuống chiếu cùng đánh chắn được thua bằng tiền, ấn định mức sát phạt từ 30.000
đồng trở lên.
Đến 14 giờ ngày 11/01/2018, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự xã hội Công an huyện D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối
với: Hầu Văn Đ, Đoàn Văn T, Lưu Văn K, Trần Xuân T4, Nông Vũ K2 có hành
vi đánh bạc dưới hình thức đánh chắn được thua bằng tiền. Tang vật thu giữ
gồm: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếu cói kích thước (1,55x1,9)m, 01 chăn màu
nâu kích thước (1,5x1,8)m, 100 quân bài chắn và số tiền 2.280.000đ (Hai triệu
hai trăm tám mươi nghìn đồng) thu trên chiếu bạc, Đoàn Văn T tự giác giao nộp
9.600.000đ, Lưu Văn K tự giác giao nộp 830.000 đồng, Trần Xuân T4 giao nộp
01 ví giả da màu nâu bên trong có 5.400.000 đồng, Nông Vũ K2 giao nộp 01 ví
giả da màu đen bên trong có 1.600.000 đồng. Tổng cộng là 19.710.000đ (Mười
chín triệu bảy trăm mười nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định:
1. Hầu Văn Đ: Là chủ nhà, trực tiếp chuẩn bị chiếu cói, vỏ chăn, đĩa sứ để
mọi người đánh bạc.
2. Đoàn Văn T: Có 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sử dụng vào việc
đánh bạc, khi bị bắt thua, 400.000 đồng, còn số tiền 9.600.000 đồng đã giao nộp
cho Cơ quan điều tra.
3. Trần Xuân T4: Có 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) sử dụng vào việc
đánh bạc, khi bị bắt thua 600.000 đồng, còn số tiền 5.400.000 đồng để trong
chiếc ví giả da màu nâu đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
4. Nông Vũ K2: Chuẩn bị bộ bài chắn, có 1.600.000 đồng (Một triệu sáu
trăm nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc không thắng, không thua, khi bị bắt
còn số tiền 1.600.000 đồng để trong chiếc ví giả da màu đen đã giao nộp cho Cơ
quan điều tra.
5. Lưu Văn K: Có 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) sử dụng vào việc
đánh bạc, khi bị bắt thua 170.000 đồng, còn số tiền 830.000 đồng đã giao nộp
cho Cơ quan điều tra.
Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là: 18.600.000 đồng
(Mười tám triệu sáu trăm nghìn đồng) nhưng tổng số tiền Cơ quan điều tra thu
giữ tại chiếu bạc là 19.710.000 đồng (Mười chín triệu bảy trăm mười nghìn
đồng), còn chênh lệch số tiền 1.110.000 đồng (Một triệu một trăm mười nghìn
đồng) do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về số tiền này.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2018
của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội: “Đánh bạc”.
II. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
3
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, 38 Bộ
luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo vào trại chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 06 ngày (từ
ngày 11/01/2018 đến ngày 17/01/2018).
- Phạt tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên bố 04 bị cáo khác phạm tội “Đánh
bạc” và quyết định về hình phạt, xử phạt 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo và
06 tháng cải tạo không giam giữ, về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 05/4/2018, bị cáo Đoàn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin
hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin
hưởng án treo và bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn
kháng cáo trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.
* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên:
Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục
giải quyết vụ án đúng tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đoàn Văn T
phạm tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị
cáo. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình
tình tiết mới Giấy chứng nhận khen thưởng của bố bị cáo là ông Đoàn Văn T1
được khen thưởng Huy chương chiến thắng Hạng 2, nộp 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng tiền phạt bổ sung. Đây là tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cần áp dụng cho bị cáo. Bị
cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b
khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp
nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm như sau: Căn cứ khoản
1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm
2015; Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo vào trại chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/01/2018
đến ngày 17/01/2018. Về hình phạt bổ sung do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề
nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 375 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án sơ
thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Ghi nhận bị
cáo đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và đề
nghị tuyên trả cho bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền phạt đã nộp tại
Biên lai thu tiền số 0000148 ngày 11/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện D, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát. Khi
được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
4
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc
thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Văn T tiếp tục khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử
đối với bị cáo.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong khoảng
thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 14 giờ ngày 11/01/2018, tại nhà Hầu Văn Đ,
thuộc thôn K, xã B, huyện D, tỉnh Tuyên Quang, Hầu Văn Đ đã chuẩn bị chiếu
cói, vỏ chăn, đĩa sứ, Nông Vũ K2 chuẩn bị bộ bài chắn cho các bị cáo Đoàn Văn
T, Trần Xuân T4, Nông Vũ K2, Lưu Văn K đánh bạc bằng hình thức đánh chắn
được thua bằng tiền, mức sát phạt từ 30.000 đồng trở lên với tổng số tiền dùng
vào việc đánh bạc là 19.710.000 đồng (Mười chín triệu bảy trăm mười nghìn
đồng). Bị cáo Đoàn Văn T sử dụng số tiền đánh bạc trong vụ án là 10.000.000
đồng (Mười triệu đồng).
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công
cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo đánh bạc trái phép bằng
hình thức đánh chắn được thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính. Trong vụ án
này các bị cáo phạm tội với tính chất là đồng phạm giản đơn, không có sự bàn
bạc, cấu kết chặt chẽ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đoàn Văn T: quá trình điều tra và tại phiên
tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng, xử phạt bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều
321 Bộ luật hình sự 2015 với mức án 08 (tám) tháng tù là phù hợp, tương xứng với
hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết mới Giấy chứng nhận
khen thưởng của bố bị cáo là ông Đoàn Văn T2 được khen thưởng Huy chương
chiến thắng Hạng 2, nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm và 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền phạt bổ sung, gia đình bị cáo có
hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã
Đ, huyện D, tỉnh Tuyên Quang. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cần áp dụng cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều
tình tiết giảm nhẹ mới do vậy chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản
án hình sự sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật. Bị cáo Đoàn Văn T thuộc hộ cận
nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Số tiền
phạt 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) bị cáo đã nộp cần trả lại cho bị cáo.
5
[5] Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm và trả lại cho bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền phạt
đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000148 ngày 11/7/2018 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện D, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Đoàn Văn T không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự,
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn T, sửa bản án hình sự
sơ thẩm số 19/2018/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện
D, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38
Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo vào trại chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/01/2018
đến ngày 17/01/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Đoàn Văn T.
Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm, trả lại cho bị cáo Đoàn Văn T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền
phạt đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000148 ngày 11/7/2018 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện D, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo Đoàn Văn T không án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/7/2018)./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh T.Quang;
- Phòng PV 27 Công an tỉnh T.Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- TA + VKS + CA huyện D;
- Chi cục THADS huyện D;
- Bị cáo;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Quang Bích
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 22/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của TAND huyện Cẩm Xuyên (TAND tỉnh Hà Tĩnh) về tội đánh bạc
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 19/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 16/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 10/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 21/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 19/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 15/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 11/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm